Trung tâm Nghiên cứu
Chính sách và Phát triển
(DEPOCEN)
Trung tâm
Phân tích và Dự báo
(CAF)
Thâm hụt tài khoản vãng lai: Nguyên nhân và giải pháp
1
Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Thắng, Nguyễn Đức Nhật, Nguyễn Cao Đức
(Bản thảo số 3) Hà nội, ngày 7 tháng 8 năm 2008
1
Bài viết phục vụ Hội thảo “Tình hình kinh tế Việt Nam và vai trò, trách nhiệm của Quốc hội” trong
khuôn khổ hợp tác giữa Ủy ban Kinh tế Quốc Hội và Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam, 2-3/7/2008 Mũi
đất ở Mỹ, thì ở trong nước cùng với lạm phát tăng cao, thi trường bất động sản đóng băng,
thị trường chứng khoán mất điểm liên tục, việc thâm hụt cán cân thương mại và tài khoản
vãng lai
2
trong năm 2007 rất lớn và những tháng đầu năm 2008 cho thấy chiều hướng
ngày càng xấu đi đã làm dấy lên những quan ngại của nhiều nhà hoạch định chính sách
cũng như các chuyên gia kinh tế cho rằng việc nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là
đáng lo ngại, không thể kéo dài (unsustainable), và có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế.
Trong thời gian gần đây báo chí trong và ngoài nước cũng như các tổ chức nước ngoài
đồng loạt đưa ra các báo cáo không tích cực về sự bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
3
Trong báo cáo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc hội 31/5/2008 cũng đề cập
tới vấn đề nhập siêu có thể gây ra mất cân bằng cán cân thanh toán và ảnh hưởng đến
kinh tế vĩ mô.
Theo kinh nghiệm quốc tế cũng như l y thuyết kinh tế, khi thâm hụt tài khoản vãng lai
lớn và kéo dài mà không có các biện pháp cần thiết (như tăng lãi suất, hạ/phá giá
(devaluate) đồng tiền, cắt giảm chi tiêu chính phủ, thì nền kinh tế có thể sẽ gặp phải nguy
cơ khủng hoảng tiền tệ. Một trường hợp hay được lấy ra làm ví dụ đó là cuộc khủng
hoảng tiền tệ của Thái Lan năm 1997, khi nước này do thâm hụt tài khoản vãng lai quá
lớn, cùng với các khoản vay nợ ngắn hạn không có khả năng thanh toán đã không thể giữ
giá được đồng tiền, và dữ trữ ngoại hối bị cạn kiệt. 2
Trong các hạng mục của Tài khoản vãng lai thì Cán cân Thương mại là quan trọng nhất. Thông thường
nếu có thâm hụt tài khoản vãng lai, thì nguyên nhân chủ yếu là do thâm hụt cán cân thương mại, nên trong
bài viết này tác giả sử dụng các thuật ngữ thâm hụt tài khoản vãng lai, thâm hụt cán cân thương mại gần
như tương đương nhau. Để hiểu rõ hơn, đề nghị xem Hộp 1.
4
Số liệu trong báo cáo Taking Stock (2008) của Ngân hàng Thế giới. Theo số liệu trong báo cáo tháng 5
năm 2008 của Economist Intelligence Unit, thì số liệu thâm hụt cán cân thương mại và tài khoảng vãng lai
năm 2007 của Việt Nam là vào khoảng 4 tỷ USD và 3 tỷ USD.
Vietnam’s current account deficits
4
Có thể nói, các nhận định của các báo cáo nước ngoài cũng có cơ sở khi đưa ra những
nhận định không được sáng sủa về tình hình kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, bức tranh của
nền kinh tế Việt Nam có ảm đạm như vậy hay không? Rủi ro của một cuộc khủng hoảng
cán cân thanh toán và hệ quả là khủng hoảng tiền tệ là hiện hữu đến mức độ nào? Đâu là
nguyên nhân của tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn như hiện nay, và đâu là những
giải pháp khả thi? Đây là những câu hỏi mà tác giả của bài viết này muốn trả lời. Tuy
nhiên, trong phạm vi của bài viết này do thiếu số liệu, tính phức tạp của vấn đề kinh tế vĩ
mô, những yếu tố không lường trước được, cũng như hạn chế về mặt thời gian và kiến
thức, nên kết những phát hiện, kết luận và gợi y được đưa ra trong bài viết này hoàn
toàn chỉ mang tính trao đổi giữa những người nghiên cứu có quan tâm đến nền kinh tế
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bài viết này được bố cục như sau: Phần II của bài
viết sẽ xem xét vấn đề nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam một cách
tổng quát. Phần III đánh giá nguy cơ của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán. Phần
IV sử dụng một số đẳng thức cơ bản trong kinh tế học vĩ mô để phân tích nguyên nhân
của thâm hụt tài khoản vãng lai và đưa ra những gợi y về giải pháp. Phẩn V đưa ra một
số nhận định và kết luận.
II. Tình hình nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam
Để có một cái nhìn khách quan về tình hình nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai của
Việt Nam, chúng ta cần so sánh với tình hình của các nước điều kiện và hoàn cảnh gần
gũi với ta. Hình 2 là biểu đồ tình hình tài khoản vãng lai của các nước trong khu vực châu
Á. Ngoại trừ Ấn độ là cũng có thâm hụt tài khoản vãng lai, Việt Nam là nước duy nhất
trong khối ASEAN có thâm hụt tài khoản vãng lai. Nhưng kể cả so với Ấn độ, thì về mặt 5
Có một số sai khác nhỏ giữa các nguồn số liệu khác nhau. Số liệu của WB cho thấy là khoảng 11%.
Vietnam’s current account deficits
6
Hình 3. Tài khoản vãng lai các thị trường mới nổi năm 2007 (% của GDP)
Nguồn: Báo cáo của Merrill Lynch
Hình 4. Thâm hụt thương mại của Việt Nam theo tháng
Đơn vị: Tỷ USD
Nguồn: Báo cáo của HSBC
Hình 3 là biểu đồ so sánh Việt nam với những nước được coi là những nền kinh tế mới
nổi. Việt Nam không phải là nước duy nhất bị thâm hụt tài khoản vãng lai. Nhưng ở mức
độ so sánh tương đối thì Việt Nam vượt xa các nước khác về mức độ thâm hụt tài khoản
Vietnam’s current account deficits
7
vãng lai. Những tháng đầu năm 2008, tình hình trở nên khá nghiêm trọng, khi nhập khẩu
tăng đột biến. Hình 4, cho thấy con số nhập siêu của Việt Nam xấu đi nghiêm trọng theo
từng tháng. Rõ ràng là, với tình hình nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai lớn như
vậy, việc các báo trong và ngoài nước, cũng như các tổ chức nước ngoài bầy tỏ quan ngại
về nền kinh tế VN là không phải không có căn cứ.
Thâm hụt tài khoản vãng lai tốt hay xấu?
tư tốt hơn. Tức là nguồn lực không được sử dụng cho phát triển nền kinh tế trong nước.
Và trong nhiều trường hợp khác, thì sự mất cân bằng của cân cân thương mại (thặng dự
hay thâm hụt) chẳng phải là một dấu hiệu nghiêm trọng nào.
6Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thì thâm hụt thương mại (nhập siêu) và hệ quả là
thâm hụt tài khoản vãng lai thực sự gây ra nhiều vấn đề cho một số nước. Nhiều nước đã
lâm vào khủng hoảng (khủng hoảng nợ, khủng hoảng đồng tiền) sau khi có mức thâm hụt
thương mại lớn, thường xuyên và lâu dài. Điển hình là cuộc khủng hoảng Châu Á những
năm 1997-1998.
III. Nguy cơ khủng hoảng của thâm hụt tài khoản vãng lai
Thâm hụt thương mại và thâm hụt tài khoản vãng lai thường được hiểu là nhập khẩu
nhiều hơn xuất khẩu, và tiêu dùng trong nước nhiều hơn khả năng sản xuất. Làm thế nào
để một quốc gia có thể duy trì thâm hụt thương mại và thâm hụt tài khoản vãng lai?
Tương tự như ở một hộ gia đình, để có thể tiêu dùng nhiều hơn thu nhập, một gia đình sẽ
có hai cách để có tiền trang trải cho tiêu dùng cao hơn thu nhập của mình. Đó là: (i) đi
vay; và (ii) bán tài sản. Ở cấp quốc gia, khi có thâm hụt thương mại và thâm hụt tài khoản
vãng lai, thì để có tiền (ngoại tệ) trả cho các khoản nhập khẩu và thâm hụt này, cần có
dòng vốn chảy vào (FDI, đầu tư gián tiếp, vay ngắn hạn, dài hạn, kiều hối, ODA). Nên
thông thường, thâm hụt thương mại (và tài khoản vãng lai) thường đi cùng với thặng dư
trên tài khoản vốn. Nếu không có thặng dư trên tài khoản vốn (tương tự như cấp ở hộ gia
đình là không vay đủ tiền), thì nước nhập siêu buộc phải sử dụng đến dự trữ ngoại hối để
6
Suranovic (1999) cho rằng một trong những nguyên nhân là do thuật ngữ. Bất kể trong hoàn cảnh nào, thì
từ thâm hụt thường có nghĩa xấu, và ngược lại thặng dư thường có nghĩa tốt, và con người thường thích
những điều gì đó dư thừa.
Vietnam’s current account deficits
Việt Nam bao gồm ODA, FDI, kiều hối, đầu tư gián tiếp không đủ để đáp ứng khoản
thâm hụt, hoặc tệ hơn nữa dòng vốn “nóng” ngắn hạn lại có thể chảy ra ngoài, thì có thể
tạo ra áp lực đối với đồng tiền Việt Nam, dẫn tới mât giá đồng tiền, khủng hoảng tiền tệ
và khủng hoảng kinh tế.
Về cơ bản thâm hụt tài khoản vãng lai có thể được hiểu là một khoản vay mà các nhà đầu
tư nước ngoài cho chính phủ và người tiêu dùng của một nước khác vay để thanh toán
cho việc tiêu dùng quá mức. Thông thường điều này sẽ không có vấn đề gì nếu như
khoản thâm hụt nhỏ. Nhưng nếu khoản thâm hụt này là lớn, đến một mức độ hoặc đến
một thời điểm nào đó, các nhà đầu tư sẽ mất lòng tin vào việc là họ sẽ thu lại được khoản
đầu tư/ khoản đã cho vay, và khi đã mất lòng tin, rất có thể sẽ xẩy ra đổ vỡ, do tất cả các
nhà đầu tư sẽ bán tháo và tìm cách rút tiền ra để tránh mất thêm tiền. Tuy nhiên, không ai
có thể dự đoán được một cách chính xác là khi nào thì lòng tin sẽ bị khủng hoảng! Trong
điều kiện của Việt Nam, có hàng loạt các báo cáo của nước ngoài đưa ra các cảnh báo về
mức độ nghiêm trọng của mức độ thâm hụt của tài khoản vãng lai của VN. Điều này có
nghĩa là gì? Ơ một mức độ nào đó, so với các nước khác thì mức thâm hut tài khoản vãng
lai của VN là quá lớn, và ở một khía cạnh khác, Chính phủ cần có những biện pháp để
cải thiện tài khoản vãng lai, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư.
8
Để có thể đưa ra một số nhận định về khả năng khủng hoảng cán cân thanh toán, khủng
hoảng tiền tệ, chúng ta xem xet một số trường hợp sau:
9
7
Xem bài viết “Nâng lên đặt xuống chỉ tiêu GDP” đăng trên Sài Gòn Giải phóng số 20 năm 2008. Trong
bài viết này có số liệu về tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng. Khi thực hiện
11
Nếu ta giả thiết rằng, trong năm 2008, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển lợi nhuận ra
khỏi Việt Nam cũng bằng năm 2007 là 2,1 tỷ USD (theo dự báo của Ngân hàng Thế giới
thì mức chuyển lợi nhuận ra khỏi VN năm 2008 sẽ cao hơn 2007, nhưng ở đây ta chỉ giả
thiết là ở mức năm 2007). Kiều hối sẽ đạt mức 8,2 tỷ USD (số dự báo cho năm 2008 của
Ngân hàng thế giới). Giải ngân FDI sẽ ở mức 6,5 tỷ USD của năm 2007 (cao hơn mức dự
báo của Ngân hàng Thế giới).
12
ODA ở mức 5 tỷ USD (là mức cam kết của các nước tài 10
Báo Vietnam News, ra ngày 23 tháng 6 năm 2008.
11
Nếu VN có thể giảm được nhập siêu ở mức độ như trường hợp 3 thì có thể coi là một thành công. Theo
thông tin mới nhất, nhập siêu trong tháng 5 của năm 2008 chỉ còn là 1,3 tỷ USD (Thời báo kinh tế Việt
Nam số 150 ra ngày 23/6/2008). Nếu ta giả thiết là từ nay đến cuối năm, mỗi tháng ta chỉ nhập siêu khoảng
1,3 tỷ USD, thì cả năm 2008 VN sẽ nhập siêu khoảng 23,5 tỷ USD, tương đương với trường hợp 3.
12
Theo số liệu mới nhất đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 151, ngày 24/6/2008, thì trong 6 tháng
đầu năm 2008, FDI đạt hơn 31 tỷ USD (vốn đăng ky). Riêng trong tháng 6 tổng số vốn đầu tư đăng ky là
hơn 16 tỷ USD. Tỷ lệ giải ngân của các dự án FDI trong năm 2008 cũng khá cao, với mức vốn thực hiện là
khoảng 5 tỷ USD. Đây có thể nói là một tín hiệu khá lạc quan, vì như vậy áp lực giảm giá đồng VN do
thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ thấp đi. Đáng lưu
y là trong số này có những dự án bất động sản rất lớn,
như dự án của tập đoàn Good Choice (HK) trị giá hơn 11 tỷ USD đầu tư vào khu vui chơi giải trí, khách
sạn. Về lâu dài có thể tạo ra thâm hụt cán cân thương mai. Theo công bố của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày
21/6/2008, con số đăng k
y đầu tư trực tiếp FDI vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm đạt 31,6 tỷ USD
Tổng cộng
Năm 2007
-10,3 - 2,1 6,4 4 6,5 6,2 10.70
Trường hợp 1
-34,6 - 2,1 8,2 5 6,5 2(?) -15.00
Trường hợp 2
-27,7 - 2,1 8,2 5 6,5 2(?) -8.10
Trường hợp 3
-23,3 - 2,1 8,2 5 6,5 2(?) -3.70
Đơn vị: Tỷ USD. Các giả thiết là do tác giả đưa ra.
Như có thể thấy, với thâm hụt thương mại khoảng hơn 10,3 tỷ USD, và lợi nhuận của
doanh nghiệp FDI chuyển ra nước ngoài khoảng 2,1 tỷ USD. Trong năm 2007, các nguồn
tiền để cân bằng con số 12,4 tỷ này là từ các nguồn như FDI, kiều hối, ODA và đâu tư
gián tiếp, và do các nguồn tiền này lớn, nên Việt Nam có thặng dư cán cân thanh toán,
khoảng 10 tỷ USD.
14Các trường hợp từ 1 đến 3 cho thấy tình hình có thể diễn ra của tài khoản vãng lai của
Việt Nam. Ở trường hợp 1, nếu không hạn chế được nhập siêu, và các điều kiện khác là
rất thuận lợi, thì VN sẽ thiếu khoảng 15 tỷ USD, và buộc phải sử dụng tới dự trữ ngoại
hối. Theo thông tin mới nhất, thì dự trữ ngoại hối của VN là khoảng 20 tỷ USD. Với
khoản dự trữ ngoại hối này, Việt Nam có thể đảm bảo được nhu cầu ngoại tệ trong trường
hợp xấu nhất. Do đó, khả năng và nguy cơ xẩy ra khủng hoảng là không đến mức nghiêm
(http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/06/789712/). Mặc dù FDI cao như vậy, nhưng con số này mới chỉ là con
số cam kết, con số quan trọng hơn chính là con số FDI tực hiện (giải ngân). Nếu trên thực tế, việc giải ngân
các dự án FDI cao hơn con số dự kiến ở đây, thì là một điều hết sức đáng mừng. Vấn đề đặt ra là liệu sang
năm 2009 chúng ta có tiếp tục thu hút và giải ngân FDI tốt hay không?
13