I. Đặt vấn đề
Đi lại l một trong những cử động di chuyển, l
hoạt động chức năng rất quan trọng, giúp con ng-ời
độc lập trong cuộc sống hng ngy. Chu kỳ dáng đi
bình th-ờng l khoảng thời gian diễn ra một loạt các
sự kiện đều đặn kế tiếp nhau giữa hai lần đặt gót của
cùng một chân [4,5,7]. Trong mỗi chu kỳ một chân
lần l-ợt trải qua hai giai đoạn:
Giai đoạn chống
Giai đoạn đu
Các giai đoạn của chu kỳ dáng đi đ-ợc phân tích
ở sơ đồ d-ới đây:
TCNCYH 39 (6) - 2005
1
phân tích dáng đi của bệnh nhân bị tai biến
mạch máu não vùng bán cầu trên phần mềm "Skelet"
Phạm Thị Hải Yến, Vũ Thị Bích Hạnh
Đại học Y H nội
Tai biến mạch máu não v những di chứng nặng nề về vận động khiến dáng đi của ng-ời bệnh thay đổi một
cách đặc tr-ng theo mẫu nhất định. Để giúp chẩn đoán v điều chỉnh các sai lệch của dáng đi, mục tiêu:
(1)Phân tích dáng đi của ng-ời bình th-ờng v bệnh nhân bị tai biến mạch máu não bằng phần mềm Skelet. (2)
Mô tả sự liên quan giữa khả năng vận động thăng bằng v số đo góc khớp. Đối t-ợng v ph-ơng pháp: phân
tích góc khớp khi di chuyển bằng phần mềm Skelet thiết kế bởi tác giả tr-ờng Đại học Bách Khoa H Nội ở 33
bệnh nhân v 79 ng-ời bình th-ờng cùng độ tuổi v chiều cao cơ thể. Kết quả: Cổ chân ng-ời bệnh hầu nh-
luôn duỗi trong khi đi. Khớp gối hạn chế gập trong thì đu v duỗi kém trong thì đẩy tới. Háng gập ít hơn khi
đu v duỗi kém hơn khi chống. Những biến đổi góc khớp ny t-ơng quan chặt chẽ với khả năng thăng bằng v
vận động của ng-ời bệnh, (r = 0,67). Kết luận: ở nhóm bệnh, cổ chân gập phía lòng bn chân, khớp gối gập v
khớp háng cũng gập nhiều hơn trong suốt chu kỳ đi. Những biến đổi của số đo góc khớp t-ơng quan chặt chẽ với
khả năng vận động v thăng bằng của ng-ời bệnh.
Từ khoá: Tai biến mạch máu não, dáng đi, phần mềm Skelet, t-ơng quan vận động, thăng bằng
Khi bị tai biến mạch máu não (TBMMN), những
cắt lớp tỷ trọng. Độ tuổi đ-ợc chọn trên 40, sau tai biến
trên 1 tháng, đã đi lại đ-ợc không cần trợ giúp. Bệnh
nhân phối hợp đ-ợc với nghiên cứu v ch-a đ-ợc tham
gia ch-ơng trình phục hồi chức năng no.
Loại khỏi nghiên cứu các bệnh nhân bị tai biến
mạch máu não nh-ng có những vấn đề sau:
Bệnh van tim, suy tim, loạn nhịp, dị tật về dáng đi
từ tr-ớc; bệnh cơ x-ơng khớp hay chấn th-ơng, tai biến
mạch máu não lần thứ hai trở lên, bệnh nhân có rối loạn
ý thức, rối loạn thăng bằng, phụ nữ có thai
Cỡ mẫu: số bệnh nhân bị TBMMN cần đ-ợc nghiên
cứu dáng đi đ-ợc tính theo công thức khoảng trên 26
ng-ời [5]. Trong nghiên cứu, chúng tôi đã chọn 33 bệnh
nhân. T-ơng tự nh- vậy số ng-ời tình nguyện tham gia
vo nhóm chứng đã đ-ợc chọn l 79 ng-ời.
2. Ph-ơng pháp
Trong nghiên cứu có áp dụng ph-ơng pháp mô
tả cắt ngang có đối chứng
+ Thu thập số liệu: tên, tuổi, giới, nghề nghiệp,
chiều cao cơ thể.
+ Khám lâm sng: khả năng vận động v thăng
bằng của ng-ời bệnh đ-ợc đánh giá theo Fulg-
Meyer [2] với các tiêu chí sau:
TCNCYH 39 (6) - 2005
2
Chức năng vận động chi d-ới Chức năng thăng bằng
Trên 30 điểm 7 - 8 điểm Bình th-ờng
30-21 điểm 5 - 6 điểm Giảm
20-0 điểm < 4 điểm Giảm rõ
+ Phần mềm Skelet: l một phần mềm lần đầu
TCNCYH 39 (6) - 2005
3
Khả năng vận động
Đ-ợc đánh giá bằng khả năng cử động chủ
động v thụ động của từng khớp chi d-ới ở các t-
thế nằm ngửa, ngồi, phản xạ gân gối v gân gót.
(Có 15 mục đánh giá: 0 điểm- không thực hiện
đ-ợc; 1 điểm - không thực hiện đ-ợc hon ton, 2
điểm - thực hiện đ-ợc hon ton. Tổng số 30 điểm
- bình th-ờng)
2. Số đo góc của các khớp trong các giai
đoạn của chu kỳ dáng đi, phân tích trên phần
mềm Skelet. (Nhóm bình th-ờng v nhóm bệnh)
Số đo góc các khớp khi đi của nhóm bệnh nhân
đ-ợc chia thnh hai nhóm theo vận tốc đi của họ: đi
chậm (d-ới 0,4m/s) v đi khá hơn (trên 0,4m/s).
Biểu đồ . Khả năng vận động của nhóm bệnh nhân bị TBMMN
Nhận xét: Chức năng vận động của bệnh nhân sau TBMMN lúc bắt đầu tập đi hầu hết l giảm vừa v giảm nhiều.
15.15
36.36
48.48
0
10
20
30
40
50
BT (>30đ) Giảm (21-30đ) giảm rõ (0-20đ)
%bệnh
nhân
o
(g)
Nhấc gót 6.44
4.82 (d) 15.53 3.50(g) 20
o
(g)
Đầu đu 6.83
4.06 (g) 14.47 1.06(g) 15 (g)
Giữa đu 8.89
4.30 (g) 20.87 3.44(g) 25
o
(g)
Cuối đu 7.78
5.78 (g) 21.13 3.46(g) 25
o
(g)
(g): gấp, (d): duỗi, (gg): gấp về phía gan chân, (m): gấp về phía mua chân
Bảng 2 cho thấy các góc khớp của ng-ời bình
th-ờng v của bệnh nhân bị TBMMN có sự khác biệt
có ý nghĩa. (p<0,05), Trong đó:
- Cổ chân ở hai nhóm bệnh nhân (đi nhanh v đi
chậm) luôn ở t- thế gập gan chân nhiều hơn so với
nhóm chứng, đặc biệt trong thì đặt bn chân v suốt
thì đu. Ng-ợc lại ở thì nhấc gót v cuối thì đu, cổ
chân ở nhóm bệnh gập về phía lòng bn chân nhiều
hơn nhóm chứng, với p < 0,05.
- Khớp gối ở hai nhóm bệnh nhân gập kém hơn so
với nhóm chứng, đặc biệt ở cuối thì chống v đầu thì đu.
- Khớp háng ở nhóm bệnh nhân (cả đi nhanh v
đi chậm) luôn gập kém hơn so với nhóm chứng trong
khớp gối hết tầm, 39,40% bệnh nhân thực hiện đ-ợc
một phần tầm vận động. Còn khớp háng hai thông
số ny l 45,50% v 54.50% bệnh nhân. Riêng khớp
cổ chân hầu hết họ không gập duỗi đ-ợc, chỉ có
30,30% bệnh nhân thực hiện đ-ợc cử động ny.
Khả năng kiểm soát vận động: bệnh nhân nằm
ngửa đ-a gót chân bên liệt lên đỉnh khớp gối chân lnh
trong 5 giây: chỉ có 18,20% ng-ời (6/33 bệnh nhân)
thực hiện đ-ợc. Số còn lại giữ đ-ợc không quá 5 giây.
Về giảm khả năng vận động chung mức độ giảm rõ
chiếm tỷ lệ cao nhất - 48,48% bệnh nhân, giảm vừa
chiếm 36.36%, số còn lại l gần bình th-ờng chỉ chiếm
15,15%. Theo R. W Bohannon v CS [1] chức năng
vận động giảm rõ có 35,14% bệnh nhân, giảm vừa
chiếm 48,64%, gần bình th-ờng chiếm 16,22%.
2. Số đo góc khớp trên phần mềm Skelet
Cổ chân:
Theo dõi suốt chu kỳ dáng đi, cổ chân luôn ở t-
thế gập mặt lòng, đặc biệt ở những bệnh nhân có tốc
độ đi chậm. Rõ nhất ở thì nhấc gót, cổ chân phải gập
về phía mu chân khoảng 10 độ, nh-ng ở hầu hết các
đối t-ợng đều gập gan chân khoảng 8 độ. T- thế
bn chân rủ xuống ny khiến bn chân quết đất,
giảm tốc độ đi, tiếp đất v dồn trọng l-ợng không
chắc chắn [3]. Vì vậy, cần có các biện pháp điều trị
để đ-a cổ chân về t- thế đúng.
Khớp gối:
Giai đoạn tiếp đất, khớp gối của bệnh nhân gập
TCNCYH 39 (6) - 2005
4
chứng tỏ nếu thăng bằng v vận động cng tốt thì số
đo các góc khớp cng gần với số đo khớp của ng-ời
bình th-ờng. Do vậy sự cải thiện thăng bằng v vận
động cho bệnh nhân bị tai biến mạch máu não có tác
dụng cải thiện t- thế đúng cho họ khi di chuyển. Sự liên
quan ny đ-ợc mô tả trong một số nghiên cứu [6,7].
Nhờ đó, có thể đánh giá số điểm thăng bằng v vận
động trên lâm sng có thể biết các góc vận động của
khớp sẽ thay đổi, dáng đi đ-ợc cải thiện.
IV. Kết luận
1. Những thay đổi về dáng đi của bệnh nhân
liệt nửa ng-ời sau tai biến mạh máu não đ-ợc
phân tích trên máy tính nh- sau:
+ Cổ chân tiếp đất bằng mũi bn chân ở thì tiếp
đất, hầu nh- không có cử động gập v duỗi, cổ chân
gập gan nhiều gây hạn chế gập gối v háng, lm
giảm khả năng đi lại của bệnh nhân
+ Khớp gối bị hạn chế gập trong thì đu v hạn
chế duỗi trong thì chống.
+ Khớp háng bị duỗi hơn trong thì đu, hạn chế
gập trong thì chống v đẩy tới.
2. ảnh h-ởng của khả năng vận động, thăng
bằng tới góc khớp khi đi:
+ Các chỉ số: thăng bằng, khả năng vận động có
mối t-ơng quan thuận chiều với số đo góc khớp với
các hệ số t-ơng quan r = 0,67. Sự cải thiện thăng
bằng v vận động sẽ cải thiện trực tiếp tới những
biến đổi của góc khớp khi đi.
Gait analysis of accident hemispheric vascular cerebral
patients by Skelet software.
The accidents vascular cerebral and its severe sequels in movements have changed a patients gait by
certain pattern. To evaluate and correct the gaits disorders the study aim to Objectives: 1) Analyze the gait of
normal and of stroke subjects, 2) Find out the correlation between moving balance abilities and joint angles.
Method: joints angles at lower extremity in ambulance of 33 stroke patients and 79 normal subjects of the
same age and body height have been analyzed by Skelet software designed by Hanoi Polytechnics Institute
authors. Results: the patients ankle almost in dorsiflexion in walking. The knee has been limited in flexion at
swinging and reduced in extension in push of. The hip has been less flexed at swinging and less extended at
standing. These joint angles changes were closely correlated to patients balancing and moving abilities, (r =
0,67). Conclusion: In case group, the ankle is more in plantar flexion; as well as the knees and the hips flex-
ion is more notable in patients comparing with control ones. The alterations of joint angle are correlative with
patients mobility and balance abilities.
Key words: Stroke, Gait analysis by Skelet software, balance and movement correlation