khảo sát thực trạng chất lượng 8 vị thuốc bổ thường dùng tại các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại Hà Nội - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÉ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
***
ĐINH QUANG HUY
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG
8 VỊ THUỐC BỔ THƯỜNG DÙNG TẠI 3
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN Ở HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Khóa 2005 - 2011

HÀ NỘI- 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÉ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
***
ĐINH QUANG HUY
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG
8 VỊ THUỐC BỔ THƯỜNG DÙNG TẠI MỘT 3
BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN Ở HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Khóa 2005 - 2011
Chuyên ngành: Y học cổ truyền
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
THS.BS. NGUYỄN THỊ KIM DUNG

HÀ NỘI- 2011
lời cảm ơn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân
thành tới:
Ban giám hiệu, phòng đào tạo đại học, khoa Y học cổ truyền Trường

Đinh Quang Huy
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSKCB : Cơ sở khám chữa bệnh
CSSK : Chăm sóc sức khỏe
DĐVN : Dược điển Việt Nam
DHCT : Dược học cổ truyền
MNC : Mẫu nghiên cứu
PƯHH : Phản ứng hóa học
SKLM : Sắc ký lớp mỏng
TCT : Thuốc cổ truyền
YDHCT : Y dược học cổ truyền
YHCT : Y học cổ truyền
YHHĐ : Y học hiện đại
MỤC LỤC
l i c m nờ ả ơ 2
V i lòng kính tr ng v bi t n sâu s c, em xin b y t lòng c m n chânớ ọ à ế ơ ắ à ỏ ả ơ
th nh t i:à ớ 2
Ban giám hi u, phòng o t o i h c, khoa Y h c c truy n Tr ng iệ đà ạ đạ ọ ọ ổ ề ườ Đạ
h c Y H N i, ã t o i u ki n thu n l i cho em trong su t quá trìnhọ à ộ đ ạ đề ệ ậ ợ ố
h c t p nghiên c u em ho n th nh lu n v n n y.ọ ậ ứ để à à ậ ă à 3
c bi t em xin b y t lòng bi t n sâu s c t i:Đặ ệ à ỏ ế ơ ắ ớ 3
ThS.BS. Nguy n Th Kim Dung, ng i th y ã t n tình giúp , tr cễ ị ườ ầ đ ậ đỡ ự
ti p h ng d n em em th c hi n t i n y.ế ướ ẫ ự ệ đề à à 3
PGS.TS. Ho ng Minh Chung, ng i ã luôn dìu d t, ng viên, giúp à ườ đ ắ độ đỡ
v óng góp nh ng ý ki n h t s c quý báu cho em trong su t quá trìnhàđ ữ ế ế ứ ố
th c hi n t i.ự ệ đề à 3
PGS.TS. Th Ph ng, tr ng khoa Y h c c truy n, TS. Nguy n ThĐỗ ị ươ ưở ọ ổ ề ễ ị
Thu H , giáo v i h c, cùng to n th các th y, cô trong khoa Y h c cà ụđạ ọ à ể ầ ọ ổ
truy n tr ng i h c Y H N i ã nhi t tình gi ng d y, t o i u ki nề ườ Đạ ọ à ộ đ ệ ả ạ ạ đề ệ
thu n l i trong su t quá trình h c t p v nghiên c u t i khoa.ậ ợ ố ọ ậ à ứ ạ 3

B ng 3.6: c i m v thu c H th ô :ả Đặ để ị ố à ủ đỏ 32
B ng 3.7: c i m v thu c Ho i s n:ả Đặ để ị ố à ơ 32
B ng 3.8: c i m v thu c Ho ng k :ả Đặ để ị ố à ỳ 33
B ng 3.9: K t qu nh tính b ng ph n ng hóa h c:ả ế ảđị ằ ả ứ ọ 34
B ng 3.10: K t qu nh tính b ng s c ký l p m ng:ả ế ảđị ằ ắ ớ ỏ 35
B ng 3.11: K t qu o h m Èm:ả ế ảđ à 36
B ng 3.12: K t qu nh l ng tro to n ph n:ả ế ảđị ượ à ầ 37
B ng 3.13: K t qu h m l ng t p ch t:ả ế ả à ượ ạ ấ 37
B ng 3.14: K t qu h m l ng ch t chi t c trong d c li u:ả ế ả à ượ ấ ế đượ ượ ệ 38
B ng 3.15: H m l ng kim lo i n ng trong các m u B ch th c:ả à ượ ạ ặ ẫ ạ ượ 38
B ng 3.16: K t qu nh l ng h m l ng c n ch a Acid glycyrrhizicả ế ả đị ượ à ượ ắ ứ
trong Cam th o:ả 39
B ng 3.17: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c B ch th c:ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố ạ ượ 40
B ng 3.18: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c Cam th o:ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố ả 40
B ng 3.19: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c Câu k t :ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố ỷ ử 41
B ng 3.20: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c ng sâm:ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố Đả 41
B ng 3.21: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c ng quy:ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố Đươ 42
B ng 3.22: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c H th ô :ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố à ủ đỏ 42
B ng 3.23: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c Ho i s n:ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố à ơ 43
B ng 3.24: T ng h p k t qu ki m nghi m c a v thu c Ho ng k :ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ị ố à ỳ 43
B ng 3.25: T ng h p k t qu ki m nghi m c a c s :ả ổ ợ ế ả ể ệ ủ ơ ở 44
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1: Hình nh v thu c B ch th c t i các c s nghiên c u.ả ị ố ạ ượ ạ ơ ở ứ 27
Hình 3.2: Hình nh v thu c Cam th o t i các c s nghiên c u.ả ị ố ả ạ ơ ở ứ 28
Hình 3.3: Hình nh Câu k t t i các c s nghiên c u.ả ỷ ử ạ ơ ở ứ 29
Hình 3.4: Hình nh ng sâm t i các c s nghiên c u.ả Đả ạ ơ ở ứ 30
Hình 3.5: Hình nh ng quy t i các c s nghiên c u.ả Đươ ạ ơ ở ứ 31
Hình 3.6: Hình nh H th ô t i các c s nghiên c u.ả à ủ đỏ ạ ơ ở ứ 32
Hình 3.7: Hình nh Ho i s n t i các c s nghiên c u.ả à ơ ạ ơ ở ứ 33
Hình 3.8: Hình nh Ho ng k t i các c s nghiên c u.ả à ỳ ạ ơ ở ứ 34

có 85,3% bệnh nhân sử dụng TCT tin tưởng vào TCT, 100% bệnh nhân cho
rằng TCT tác dụng tốt, bổ dưỡng, Ýt độc, 69,6% người sử dụng TCT kết hợp
2
với tân dược [28]. Vì vậy, xu thế chung của thời đại trong đó có người dân Hà
Nội tìm đến dùng TCT ngày càng nhiều.
Chất lượng TCT là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định
hiệu quả điều trị. Hiện nay tiêu chuẩn hóa chất lượng dược liệu chủ yếu theo
dược điển Việt Nam IV nên tại các cơ sở khám chữa bệnh YHCT phương
pháp đánh giá chất lượng dược liệu chủ yếu dựa vào cảm quan [10]. Những
thông báo gần đây về chất lượng dược liệu trên thị trường cho thấy năm 2000
đến 2005 khoảng 35% mẫu dược liệu và chế phẩm TCT lấy kiểm tra không
đạt một số tiêu chuẩn chất lượng [18]. Qua kết quả kiểm tra chất lượng thuốc
của Viện Kiểm nghiệm thuốc TW, viện kiểm nghiệm thuốc TP. Hồ Chí Minh
và các trung tâm kiểm nghiệm trên cả nước trong 5 năm từ 2004 - 2008 cho
thấy số mẫu thuốc Đông dược không đạt chất lượng đã đăng ký mỗi năm
chiếm khoảng 10% trên tổng số mẫu kiểm tra, cao hơn nhiều so với thuốc Tân
dược (khoảng 2%) [24]. Chính vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng chất lượng và
tình hình sử dụng TCT là rất cần thiết. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có các
nghiên cứu đánh giá về chất lượng và tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh
viện YHCT tại Hà Nội. Nhằm giúp các nhân viên y tế, các nhà quản lý ngành
y tế có thêm thông tin về chất lượng và tình hình sử dụng TCT ở các CSKCB
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát thực trạng chất lượng 8 vị
thuốc bổ thường dùng tại các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT tại Hà Nội”
với 3 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm của 8 vị thuốc bổ thường dùng.
2. Đánh giá định tính một số chỉ tiêu chất lượng 8 vị thuốc bổ thường dùng.
3. Đánh giá định lượng một số chỉ tiêu chất lượng 8 vị thuốc bổ thường dùng.
3
Ch¬ng 1
TổNG QUAN

phương pháp thực hành: Ayurveda, Yoga, Unani, Sidha [27].
Nhật Bản cũng là nước có nền YHCT lâu đời và đã được sử dụng rộng rãi
từ trước chiến tranh thế giới thứ nhất và được xem là 1 trong những nước
dùng TCT cao nhất thế giới hiện nay. Chính phủ Nhật cũng đã ban hành luật
về TCT từ năm 1950. Ước tính trên 95% Kampo (Thuốc dân gian Nhật Bản
kết hợp với TCT Trung Quốc) là những dạng bào chế tiện lợi và được coi như
thuốc phải kê đơn. Hiện tại có 147 thuốc Kampo, đã được đưa vào danh mục
thuốc kê đơn của nước này [39], [36], [31].
Ở các nước khu vực Đông Nam Á như Indonexia, Malaysia, đặc biệt là
Thái Lan cũng là nước có truyền thống sử dụng thuốc YHCT. Chính sách và
chương trình Quốc gia về TCT đã được ban hành từ năm 1993 khi Viện
YHCT Thái Lan được thành lập [34].
Ở châu Âu, Bắc Mỹ và các nước công nghiệp khác, trên 50% dân số đã sử
dụng YHCT Ýt nhất một lần. ở Mỹ, ước tính 158 triệu người thường xuyên sử
dụng TCT và 17 tỷ Đôla đã được sử dụng cho YHCT năm 2000. ở Vương
quốc Anh có 230 triệu Đôla được sử dụng cho YHCT hằng năm. Còn ở Đức
có 80% dân số sử dụng thuốc thảo dược. Theo báo cáo của WHO tổng số tiền
chi phí cho YHCT trên thế giới đạt trên 6 tỷ Đôla/năm và con số này ngày
càng gia tăng [30],[39].
Một số nước ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ La tinh bước đầu đã sử dụng
TCT để chữa bệnh trong CSSK ban đầu. ở châu Phi có tới 80% dân số sử
dụng TCT cho CSSK ban đầu [38].
Theo báo cáo của WHO tính đến 1995, trong tổng số 50% số người trên
hành tinh được chăm sóc sức khỏe thì có 80% được chăm sóc bằng YHCT
[31]. Điều này nói lên sự tin cậy của người dân đối với YHCT trong CSSK.
YHCT không chỉ có tác dụng trong CSSK ban đầu mà còn là sự lựa chọn
an toàn, hiệu quả, rẻ tiền cho bệnh nhân HIV/AIDS. Người ta ước tính ở San
5
Francisco, London và Nam Phi có tới 75% bệnh nhân HIV/AIDS dùng TCT
như một phương thuốc bổ, tăng cường năng lượng, giúp tiêu hóa tốt [38].

phương thuốc điều trị đơn giản, dễ kiếm với những vị thuốc sẵn có ở Việt
Nam. Ông đã mở đường cho sự nghiệp nghiên cứu thuốc Nam, xây dựng nền
móng cho ngành Đông dược Việt Nam. Kế thừa Tuệ Tĩnh đến thế kỷ XVIII ở
thời kỳ hậu Lê lại xuất hiện danh y Lê Hữu Trác với danh hiệu là Hải Thượng
Lãn Ông (1720 - 1791), ông đã dầy công biên soạn pho sách “Hải thượng Y
tông tâm lĩnh”, một bộ sách đồ sộ với 28 tập gồm 66 quyển. Trong đó có
nhiều quyển đề cập đến Đông dược, nhưng nổi trội có tập "Dược phẩm vậng
yếu", trong tập này ông đã chọn 150 vị thuốc thiết yếu trong các sách Đông
dược kinh điển, căn cứ vào khí vị và công năng mà phân loại theo ngũ hành
thành 5 bé, quy nạp tất cả tính vị ưa nhau vào cùng một loại, cơ sở để biên
soạn quyển sách này như ông đã viết " lấy phần dược tính trong Phùng thị
cẩm nang làm cốt yếu, tham hợp thêm các sách Cảnh nhạc toàn thư, Y học
nhập môn, Lôi công bào chế, Bản thảo cương mục các vị thuốc đã nêu rõ:
chủ dụng, hợp dụng, kỵ dụng và phụ thêm cách bào chế" để tạo thành quyển
sách được trình bày gọn gàng, cách tra tìm dễ dàng nhanh chóng. "Lĩnh nam
bản thảo" cũng là một trong 28 tập của Hải Thượng Lãn Ông (Lĩnh nam bản
thảo - bản thảo của đất Lĩnh nam - bao gồm Việt Nam và phía nam Trung
Quốc) là một quyển sách đề cập tới khí vị, chủ trị của các vị thuốc Nam, một
số vị có phụ thêm cách bào chế. Ông đã phân chia thành 2 quyển là quyển
thượng, đây là quyển thừa kế biên tập theo Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh;
Quyển hạ do Hải Thượng Lãn Ông sưu tầm nghiên cứu, tập hợp bổ xung
thêm một số vị thuốc, ông đã sắp xếp phân chia các vị thuốc đông dược thành
22 loại, trong đó loại cỏ hoang gồm 60 vị, loại dây leo gồm 17 vị, loại rau
gồm 46 vị và bổ sung 117 vị [16].
Vào cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự du nhập
của văn hóa và kỹ thuật công nghệ phương tây dưới thể chế thực dân do
người Pháp đem đến nước ta, nền Y học phương tây đã dần hình thành nhưng
7
trong khuôn khổ còn hạn chế ở các thành phố lớn. Đa số người dân vẫn quen
dùng thuốc cổ truyền trong nền y học truyền thống, nhưng vẫn trong vòng

vật, 75 loại khoáng vật, 52 loài tảo có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc
[21]. Năm 1999 Bé Y tế đã ban hành Danh mục thuốc chủ yếu với 88 chế
phẩm thuốc YHCT, 60 cây thuốc tại tuyến y tế xã và 186 vị thuốc thiết yếu.
Năm 2005, Danh mục thuốc chủ yếu YHCT được ban hành với 94 chế phẩm
thuốc YHCT, 34 cây thuốc Nam phân theo nhóm bệnh và 215 vị thuốc. Đến
tháng 2/2008, Bé Y tế ban hành “Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng
tại các cơ sở khám chữa bệnh” với 98 loại chế phẩm và 237 vị thuốc [4].
Tháng 4/2010, Bé Y tế ban hành Thông tư số 12/2010/TT-BYT, quy định
“Danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa
bệnh” với 127 loại chế phẩm và 300 vị thuốc [5]. Tuy nhiên, qua thực tế sử
dụng thuốc ở các cơ sở điều trị cho thấy vẫn còn một số thuốc chưa hợp lý
nên cần phải khảo sát thực trạng sử dụng thuốc tại các cơ sở để có sự điều
chỉnh cho phù hợp.
1.2. Vấn đề chất lượng TCT hiện nay
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hồng Kông là một thị trường sử dụng nhiều dược liệu có nguồn gốc từ
Trung Quốc, họ rất quan tâm đến chất lượng dược liệu nhập khẩu. Các dược
liệu được nhập phải có tiêu chuẩn và quan điểm “dược liệu đúng” là quan
trọng. Tuy nhập có kiểm nhưng Hồng Kông vẫn thu thập & nghiên cứu thấy
có 86 dược liệu dễ bị nhầm lẫn được sử dụng ở Hồng Kông. Được sự đồng
thuận của Tổ chức y tế thế giới, năm 2003 Hội đồng hướng dẫn Dược liệu dễ
nhầm lẫn ở Hồng Kông công bố phương pháp nhận dạng 86 dược liệu dễ
nhầm lẫn, in 4000 bản và được chuyển đến các cơ sở sử dụng dược liệu. Đến
năm 2005 họ có bổ sung 4 dược liệu dễ nhầm lẫn nâng tổng số dược liệu dễ
nhầm lẫn ở Hồng Kông lên 90 loại và in thêm 6000 bản [35].
9
Tại Mỹ : Từ năm 2000 Cục An toàn thuốc và thực phẩm (FDA) đã khuyến
cáo tình hình người dân dùng thực phẩm chức năng có nguồn gốc dược liệu
mà có chứa acid Aistolochic (từ loài dược liệu thuốc chi Aistolochia gây tổn
thương thận và ung thư thận. Người ta đã xác định trong 38 sản phẩm từ dược

gần đây về chất lượng dược liệu trên thị trường cho thấy năm 2000 đến 2005
khoảng 35% mẫu dược liệu và chế phẩm TCT lấy kiểm tra không đạt một số
tiêu chuẩn chất lượng [18]. Qua kết quả kiểm tra chất lượng thuốc của Viện
Kiểm nghiệm thuốc TW, viện kiểm nghiệm thuốc TP. Hồ Chí Minh và các
trung tâm kiểm nghiệm trên cả nước trong 5 năm từ 2004 - 2008 cho thấy số
mẫu thuốc Đông dược không đạt chất lượng đã đăng ký mỗi năm chiếm
khoảng 10% trên tổng số mẫu kiểm tra, cao hơn nhiều so với thuốc Tân dược
(khoảng 2%). Các chỉ tiêu không đạt như: độ nhiễm khuẩn, độ Èm, định tính,
hàm lượng hoạt chất, các chỉ tiêu về kỹ thuật bào chế như: độ rã, độ đồng đều
khối lượng; trong đó số mẫu hàng năm không đạt tiêu chuẩn về giới hạn
nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao trong số các chỉ tiêu không đạt. Đây là vấn đề
thách thức lớn đối với các cơ sở sản xuất thuốc Đông dược, đặc biệt là các cơ
sở tư nhân nhỏ, lẻ, điều kiện sản xuất thủ công không thực hiện tốt trong quy
trình sản xuất và chế biến [24].
Theo báo cáo của Đoàn thanh tra Sở y tế Hà Nôi (2007) kết quả kiểm tra
hành nghề kinh doanh dược liệu, đông dược chỉ riêng tại Ninh Hiệp (Gia
Lâm, Hà Nội) thì chỉ có 19/200 hé kinh doanh dược liệu có giấy phép [25].
Theo thống kê, hàng năm Hà Nội thực hành thanh, kiểm tra 4600 lượt các
cơ sở hành nghề y tế tư nhân nói chung, song hiệu lực của công tác thanh,
kiểm tra ở các quận, huyện chưa cao nên một số tồn tại vẫn chưa khắc phục
được [19]. Bên cạnh đó, việc kiểm soát chất lượng dược liệu nhập vào và các
dược liệu có mặt trên thị trường đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ban ngành cùng
tham gia từ Trung ương đến địa phương. Việc kiểm tra chất lượng dược liệu
11
khi cần xác định các hoạt chất trong dược liệu thường tốn kém, mất nhiều thời
gian đòi hỏi phải tiến hành trong labo, người làm công tác này phải có chuyên
môn về Dược cho nên thường không tiện lợi cho công tác kiểm tra thông
thường. Thường chỉ có những dược liệu có nghi vấn về chất lượng thì cơ quan
chức năng mới tiến hành lấy mẫu gửi đến Trung tâm kiểm nghiệm Dược - Mỹ
phẩm Hà Nội [21].

lượng hoạt chất thấp hoặc không có hoạt chất; do bảo quản không tốt; do bón
nhiều phân đạm; do đất, nước tưới dược liệu bị ô nhiễm; lượng thuốc trừ sâu
cao; do xông sinh quá liều; do nhiễm phóng xạ ở giai đoạn tiệt trùng hoặc
trồng gần trạm rada; do giống cây thuốc đưa vào trồng đã bị nhiễm bệnh; có
dược liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ; dược liệu không có nơi bảo quản [15].
Chính những nguyên nhân này khiến chất lượng dược liệu không đảm bảo, có
thể tồn dư những chất độc hại, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng thuốc và ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng.
Theo Đỗ Thị Phương, trong tổng số dược liệu được khảo sát về tần suất sử
dụng ở các cơ sở hành nghề YHCT tư nhân ở Hà Nội có: 22 dược liệu có tần
suất sử dụng 91-100%, 54 loại có tần suất sử dụng 71-90%, 45 loại có tần suất
sử dụng 51-70%. 82 loại có tần suất sử dụng 10 -50% chiếm tỷ lệ cao nhất, 48
loại tỷ lệ < 10% có và về cảm quan các dược liệu này cũng có vấn đề nên việc
đánh giá được chất lượng dược liệu trên địa bàn Hà Nội là cần thiết [23].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Do Cam, trong tổng số dược liệu được khảo
sát về tần suất sử dụng ở các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT công lập tại
Hà Nội có: 43 dược liệu có tần suất sử dụng 91-100%, 54 loại có tần suất sử
dụng 71-90%, 22 loại có tần suất sử dụng 51-70%, 153 loại có tần suất sử
dụng 10 -50% chiếm tỷ lệ cao nhất, 22 loại có tỷ lệ < 10%. [12].
13
Chúng tôi chọn 8 vị thuốc bổ có tần suất sử dụng cao (8/8 vị thuốc có tần
suất sử dụng 91-100% theo nghiên cứu của Đỗ Thị Phương [23]; 7/8 vị thuốc
có tần suất sử dụng 91-100%, 1/8 vị thuốc có tần suất sử dụng 71-90% theo
nghiên cứu của Nguyễn Thị Do Cam) [12], để đánh giá chất lượng tại 3 bệnh
viện YHCT ở Hà Nội.
Hiện nay, Dược điển Việt Nam IV là tài liệu pháp lý về tiêu chuẩn của
từng dược liệu qua các chuyên luận tương ứng. Mức độ của từng chuyên luận
có khác nhau nên chúng tôi cũng chia mức độ đánh giá của các dược liệu
không hoàn toàn như nhau. Chỉ tiêu về mô tả, độ Èm: đánh giá 100% mẫu thu
thập được. Các chỉ tiêu khác như: định tính, định lượng, sẽ phân loại và đánh

- Ých khí, dưỡng huyết, dùng trong bệnh tâm khí hư nhược đánh trống
ngực, buồn bực; phối hợp với đảng sâm, a giao, mạch môn, quế chi.
- Chữa tỳ hư, dùng với đảng sâm, bạch linh, bạch truật.
- Nhuận phế chỉ ho: Dùng trong bệnh đau hầu họng, viêm họng cấp, mạn
tính, viêm amidan, ho có nhiều đờm. Nếu do phong nhiệt kết hợp tang
bạch bì, cát cánh, cúc hoa. Nếu ho do phế nhiệt hợp với thạch cao, ma
hoàng, cam thảo.
- Tả hỏa, giải độc: Dùng trong bệnh mụn nhọt đinh độc sưng đau.
- Hoãn cấp, chỉ thống: Trị đau dạ dày, loét đường tiêu hóa, đau bụng, gân
mạch co rút kết hợp với bạch thược.
- Điều vị, giảm tác dụng phụ và dẫn thuốc khi dùng phối hợp.
Liều lượng: 4 - 10g/ ngày.
Cấm kỵ: không dùng cho những người phù nề, thận trọng với người có
chứng huyết áp cao. Không dùng với đại kích, cao toại, nguyên hoa, hải tảo.
1.3.3. Câu kỷ tử (Khởi tử) (Fructus Lycii)
Câu kỷ tử là quả chín phơi khô của cây Rau khởi, Câu kỷ (Lycium
barbarum L.), họ Cà (Solanaceae) [16].
Tính vị, quy kinh: vị ngọt, tính bình. Quy vào kinh phế, can, thận.
15
Tác dông: bổ can thận, minh mục.
Ứng dụng lâm sàng:
- Bổ can thận, cố tinh dưỡng huyết: do can thận âm hư, huyết hư gây liệt dương,
di tinh, đau lưng, gối mỏi. ù tai, chóng mặt, quáng gà, thị lực giảm dùng phối hợp
với cúc hoa, sinh địa, hoài sơn,… (bài “Kỷ cúc địa hoàng hoàn”).
- Sinh tân chỉ khát: dùng trị bệnh tiêu khát (đái tháo đường) do nhiệt.
- Bổ phế âm, dùng trong bệnh lao, ho khan.
- Ých khí huyết dùng cho người già, khí hư, huyết kém. Phèi hợp với
long nhãn, ngũ vị tử.
Liều lượng: 6 - 12g/ngày.
1.3.4. Đảng sâm (Phòng đẳng sâm) (Radix Condonopsis)

- Hoạt huyết, giải uất kết: Điều kinh, chữa phụ nữ huyết hư kinh nguyệt
không đều, thống kinh, bế kinh. Kết hợp với thục địa, hà thủ ô đỏ, bạch
thược.
- Chữa sung huyết, tụ máu do sang chấn. Kết hợp với xuyên khung, đào
nhân, hồng hoa,
- Chữa cơn đau dạ dày, đau các dây thần kinh, các cơ do lạnh. Đau đầu
nhiều dùng đương quy sao tẩm rượu.
- Nhuận tràng thông tiện do huyết hư gây táo bón.
- Giải độc, tiêu viêm: chữa mụn nhọt, vết thương có mủ do vừa có tác
dụng giải độc vừa có khả năng hoạt huyết, tiêu trừ huyết ứ.
Liều lượng: 6 - 12g/ngày. Là 1 trong các thuốc hay dùng cho phụ nữ.
Kiêng kỵ: Người có tỳ vị thấp nhiệt, đại tiện lỏng, khi dùng nên sao để
giảm tính hoạt trường.
1.3.6. Hà thủ ô đỏ (Radix Polygoni multiflori)
Hà thủ ô đỏ là rễ củ phơi khô của cây Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiforum
Thunb.), họ Rau răm (Polygonaceae) [16].
Tính vị quy kinh: Vị đắng, chát, tính Êm. Quy vào kinh can, thận.
17
Tác dông: Bổ Ých can thận, bổ huyết, cố tinh.
Ứng dụng lâm sàng:
- Bổ khí huyết: dùng khi khí huyết đều hư, cơ thể mệt nhọc vô lực, đoản
hơi, thiếu máu, da xanh, gầy khô sáp, chóng mặt, nhức đầu, râu tóc bạc
sớm, mồ hôi trộm, tim loạn nhịp, mất ngủ. Dùng với thục địa, long nhãn,
bạch thược, đương quy, sơn thù, xuyên khung.
- Bổ can, thận âm: dùng khi chức năng can thận kém, di tinh do thận hư,
lưng gối mỏi. Phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt không đều. Kết hợp với kỷ tử,
thỏ ty tử, phá cố chỉ, đương quy, ngưu tất.
- Chữa chứng tê liệt nửa người do co cứng động mạch gây thiếu máu,
nhũn não hay gặp ở người già (bài Thủ ô diên thọ thang).
- Nhuận tràng chữa chứng táo bón do huyết hư tân dịch giảm gây nên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status