Bộ giáo dục v đo tạo bộ y tế
Trờng đại học y h nội Nguyễn thị do cam
khảo sát thực trạng sử dụng v chế biến thuốc
cổ truyền tại các cơ sở khám chữa bệnh
bằng yhct công lập ở h nội Chuyên ngành : Y học cổ truyền
Mã số : 60.72.60 luận văn thạc sỹ y học
Ngời hớng dẫn khoa học:
Ts. hong minh chung
H Nội - 2009
Các chữ viết tắt BV : Bệnh viện
BVĐK : Bệnh viện đa khoa
CS : Cơ sở
CSKCB : Cơ sở khám chữa bệnh
CSYT : Cơ sở y tế
CB : Chế biến
CSSK : Chăm sóc sức khỏe
CSSKBĐ : Chăm sóc sức khỏe ban đầu
DL : Dợc liệu
DMTCY : Danh mục thuốc chủ yếu
DĐVN : Dợc điển Việt Nam
NC : Nghiên cứu
QT : Quy trình
TTB : Trang thiết bị
YHCT : Y học cổ truyền
YDHCT : Y dợc học cổ truyền
YDCT : Y dợc cổ truyền
TCT : Thuốc cổ truyền C¸c thuèc kh«ng cã trong danh môc TCY
®−îc dïng t¹i bÖnh viÖn
T×nh tr¹ng
Tù chÕ
TT Tªn vÞ thuèc
Dïng sèng Mua chÕ s½n
30
31
32
33
34
Lời cảm ơn
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận đợc nhiều sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của các tập thể, cá nhân, các thầy cô, gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS.TS. Nguyễn Nhợc Kim - Trởng khoa Y học cổ truyền Trờng Đại
học Y Hà Nội, ngời thầy đã tận tâm dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và hoàn thiện luận văn.
- TS. Hoàng Minh Chung - Trởng Bộ môn Dợc khoa Y học cổ truyền
Trờng Đai học Y Hà Nội, ngời thầy đã trực tiếp hớng dẫn khoa học, tận
tình giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Y học cổ
truyền Trờng Đại học Y Hà Nội, Các cơ sở nghiên cứu đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong hội đồng chấm luận văn
đã đóng góp những ý kiến quý báu và khoa học để tôi hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Bộ môn Dợc -
Y học cổ truyền cùng các đồng nghiệp trờng Cao đẳng Y Tế Hà Tĩnh là nơi
tôi công tác và cũng là nơi hỗ trợ nhiệt tình về mặt tinh thần cũng nh vật
chất cho tôi.
Cuối cùng tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn tới những ngời thân trong gia
đình và bạn bè đã động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập và hoàn
thuốc YHCT vì ít tác dụng phụ [18]. Vì vậy, xu hớng chung của ngời
dân trong đó có ngời dân Hà Nội là tìm đến với TCT ngày càng nhiều.
Thuốc cổ truyền nói chung và dợc liệu nói riêng cần phải qua chế biến
trớc khi đa vào sử dụng. Việc chế biến có ảnh hởng rất lớn đến tác dụng
của thuốc và do đó sẽ có ảnh hởng đến hiệu quả điều trị. Phần lớn các cơ sở
khám chữa bệnh (CSKCB) bằng YHCT đều tự chế biến đợc các vị thuốc theo
phơng pháp cổ truyền. Mặc dù vậy, tại hội nghị Đánh giá tình hình sử dụng
thuốc y học cổ truyền (YHCT) trong CSKCB trên cả nớc năm 2007 đã nêu
lên một số bất cập trong công tác chế biến thuốc nh nguồn cung ứng dợc
liệu, nguồn nhân lực, tình hình sử dụng phụ liệu trong chế biến thuốc cổ
truyềnNghiên cứu của Đỗ Thị Phơng và Mai Xuân Tờng tại các cơ sở
YDCT t nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy chỉ có 12,7% số cơ sở
chế biến Thục địa đúng quy trình [21]. Cho đến nay, cha có nghiên cứu đánh
giá về thực trạng sử dụng và chế biến TCT ở các CSKCB công lập. Nhằm giúp
các nhà quản lý ngành y tế có thêm thông tin về sử dụng và chế biến TCT ở
các CSKCB chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Khảo sát thực trạng sử
dụng và chế biến thuốc cổ truyền tại các cơ sở khám chữa bệnh bằng
YHCT công lập ở Hà Nội với hai mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng sử dụng thuốc cổ truyền tại một số cơ sở khám
chữa bệnh bằng y học cổ truyền công lập ở Hà Nội.
2. Mô tả thực trạng chế biến thuốc cổ truyền tại một số cơ sở khám
chữa bệnh bằng y học cổ truyền công lập ở Hà Nội.
3
thuộc tính dợc vật, tự nhiên. Ngoài ra, ông còn biên soạn về thu hái, gia
công, chế biến, kiểm nghiệm các vị thuốc, cũng nh thu thập các tri thức về
cây cỏ làm thuốc trong nhân dân. Đến thời nhà Minh - Trung Quốc đã xuất
hiện một danh y nghiên cứu về thuốc cổ truyền là Lý Thời Trân (1518- 1593
sau CN), ông là ngời đã chỉnh lý toàn diện các bản thảo học thời cổ đại, tổng
kết, nâng cao và tiếp thu một lợng lớn các bài thuốc dân gian trong và ngoài
nớc, cũng nh các bài thuốc của những nhà y học đơng thời để viết bộ sách
"Bản thảo cơng mục", trong bộ sách này đã ghi chép đợc 1892 vị thuốc và
hơn 11000 bài thuốc, trong đó ông đã xây dựng các bản đồ thuốc cổ truyền
của Trung Quốc và bổ xung 374 vị thuốc mới. Dựa vào dợc tính tự nhiên của
các vị thuốc ông phân thành 16 chuyên mục với 60 loài. Phơng pháp phân
loại nh vậy, là một hệ thống phân loại hoàn bị nhất của các cổ bản về dợc
cổ truyền. Kế tục Lý Thời Trân sau này còn có y gia nghiên cứu sâu về dợc
cổ truyền đó là Triệu Học Mẫn (1719 - 1805), ông đã tập hợp, chỉnh lý lại các
bài thuốc dân gian thảo dợc, đến năm 1765 ông đã viết quyển "Bản thảo
cơng mục thập di", toàn bộ cuốn sách đã tập hợp đến 921 vị thuốc và lại bổ
sung thêm 716 vị thuốc mới. Do vậy, cuốn sách này thực sự là một t liệu quý
về các vị thuốc từ thực tiễn trị bệnh trong dân gian đem lại và có ghi chép đầy
đủ về các phơng pháp sử dụng, công hiệu và hình thái của các vị thuốc, nó đã
thừa kế và phát huy cho nền dợc học của Y học cổ truyền [15].
Hiện nay, thuốc cổ truyền Trung Quốc (Traditional Chinenes Medicine
- TCM) đóng vai trò quan trọng trong nền YHCT ở Trung Quốc. Tại Trung
Quốc có tới 11.146 loài trong tổng số khoảng 25000 loài đợc dùng làm thuốc
trên thế giới. Bên cạnh nguồn thuốc cổ truyền Trung Quốc còn có nguồn
thuốc của các dân tộc bản địa. Hai nguồn dợc liệu này đợc sử dụng trong
chăm sóc sức khỏe, làm mỹ phẩm và thực phẩm chức năng. Trung Quốc là
nớc xuất khẩu d
ợc liệu lớn sang các nớc thuộc châu á, âu, bắc Mỹ, Thái
5
của nớc này [50], [45], [39].
các nớc khu vực Đông Nam á nh Indonexia, Malaixia đặc biệt Thái
Lan cũng là những nớc có truyền thống sử dụng YHCT. YHCT của Thái Lan
có từ hơn 1000 năm và bắt đầu phục hng vào cuối những năm 1970 [51].
YHCT của Thái Lan bao gồm y học dân gian Thái, Ayurvedic và YHCT
Trung Quốc cùng tồn tại. ở Thái Lan có 61 loài dợc liệu đợc dùng điều trị
21 chứng bệnh trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Dịch vụ YHCT trong bệnh
viện công lập chiếm gần 83.3%, trong bệnh viện dân lập chiếm 67.8% và
trong chăm sóc sức khỏe ban đầu chiếm 22.4%. Hiện nay Thái Lan xuất khẩu
dợc liệu, các cao chiết và các chất cho ăn kiêng, đặc biệt là xuất khẩu gói
mát-xa dợc thảo (Herbal massage ball) [42].
Tại Philippin YHCT nằm trong hệ thống quản lý về YHCT và các thuốc
thay thế. Thầy tu Tây Ban Nha là ngời đầu tiên viết về các dợc liệu đợc sử
dụng ở Philippin và đợc ấn hành ở Madrid từ năm 1892. Dợc liệu đợc sử
dụng làm thuốc, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm ở Philippin. Tại nớc này,
chính phủ đẩy mạnh vai trò của YHCT và thực phẩm chức năng trong chăm
sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ)[53].
ở châu Âu, Bắc Mỹ và các nớc công nghiệp khác, trên 50% dân số đã
sử dụng YHCT ít nhất một lần. ở Mỹ, ớc tính 158 triệu ngời thờng xuyên
sử dụng TCT và 17 tỷ đô la đã đợc sử dụng cho YHCT năm 2000. ở Vơng
quốc Anh 230 triệu đô la đợc sử dụng cho YHCT hàng năm. Còn ở Đức có
tới 80% dân số sử dụng thuốc thảo d
ợc. Theo báo cáo của WHO tổng số tiền
chi phí cho YHCT trên thế giới đạt trên 6 tỷ đô la/năm và con số này ngày
càng gia tăng [49], [37].
7
Một số nớc ở châu Phi, châu á, châu Mỹ La Tinh bớc đầu đã sử dụng
TCT để chữa bệnh trong CSSKBĐ. ở châu Phi có tới 80% dân số sử dụng TCT
cho CSSKBĐ [49].
bài phú thuốc nam bằng chữ nôm, bài phú về dợc tính vị thuốc bằng chữ hán,
các mục về y lý chung, cũng nh chủ trị của các thuốc, thuốc bổ, tả, ôn, lơng
của 12 kinh, ba đơn thuốc thờng dùng "Nh ý đơn", "Hồi sinh đơn", "Bổ âm
đơn" và 37 phơng kinh nghiệm. Quyển hạ gồm 13 phơng gia giảm, 37
phơng trị thơng hàn và đề cơng phép trị các bệnh Quyển thứ hai là "Nam
dợc thần hiệu", đây là bộ sách có 11 quyển, quyển đầu nói về dợc tính 499
vị thuốc nam, 10 quyển sau, mỗi quyển nói về một khoa trị bệnh, đây là bộ
sách ảnh hởng rất sâu rộng trong các y gia Việt Nam, bởi nó đã chỉ dẫn cách
dùng thuốc nam để trị bệnh cho đại đa số ngời nghèo, nên đợc phổ cập đến
quần chúng qua các phơng thuốc điều trị đơn giản, dễ kiếm với những vị
thuốc sẵn có ở Việt Nam. Ông đã mở đờng cho sự nghiệp nghiên cứu thuốc
Nam, xây dựng nền móng cho ngành dợc cổ truyền Việt Nam. Kế thừa Tuệ
Tĩnh đến thế kỷ XVIII ở thời kỳ hậu Lê lại xuất hiện danh y Lê Hữu Trác với
hiệu là Hải Thợng Lãn Ông (1720 - 1791), ông đã dầy công biên soạn pho
sách Hải thợng Y tông tâm lĩnh, một bộ sách đồ sộ với 28 tập gồm 66
quyển. Trong đó có nhiều quyển đề cập đến dợc cổ truyền, nổi trội có tập
"Dợc phẩm vậng yếu". Trong tập này ông đã chọn 150 vị thuốc thiết yếu
trong các sách dợc cổ truyền kinh điển, căn cứ vào khí vị và công năng mà
phân loại theo ngũ hành thành 5 bộ, quy nạp tất cả tính vị
a nhau vào cùng
một loại, cơ sở để biên soạn quyển sách này nh ông đã viết " lấy phần dợc
tính trong Phùng thị cẩm nang làm cốt yếu, tham hợp thêm các sách Cảnh
nhạc toàn th, Y học nhập môn, Lôi công bào chế, Bản thảo cơng mục các
vị thuốc đã nêu rõ: chủ dụng, hợp dụng, kỵ dụng và phụ thêm cách bào chế"
9
để tạo thành quyển sách đợc trình bày gọn gàng, cách tra tìm dễ dàng nhanh
chóng. "Lĩnh nam bản thảo" cũng là một trong 28 tập của Hải Thợng Lãn
Ông (Lĩnh nam bản thảo - bản thảo của đất Lĩnh nam - bao gồm Việt Nam và
phía nam Trung Quốc) là một quyển sách đề cập tới khí vị, chủ trị của các vị
khuyến khích khen thởng thoả đáng về tinh thần và vật chất đối với những
đơn vị đã cống hiến những bài thuốc, vị thuốc quý. Tăng cờng đầu t, nghiên
cứu khoa học trong lĩnh vực thuốc cổ truyền, tiêu chuẩn hoá kỹ thuật bào chế,
chế biến và sử dụng thuốc cổ truyền. Tăng cờng đào tạo và bồi dỡng các
lơng y, những ngời sản xuất và bào chế thuốc cổ truyền nhằm xây dựng một
đội ngũ cán bộ về YDCT có chất lợng, có trình độ cao[4].
Chính sách quốc gia về thuốc và chiến lợc phát triển ngành Dợc giai
đoạn đến năm 2010 đã đặt vấn đề phát triển dợc liệu, trong đó xác định kế
hoạch hóa nhiệm vụ phát triển nguồn dợc liệu, xác định vùng nuôi trồng cây
con làm thuốc, kết hợp trồng rừng với trồng cây thuốc, chọn lọc, bảo tồn phát
triển nguồn giống và gen cây thuốc, xây dựng vờn quốc gia về cây thuốc, xây
dựng bộ tiêu chuẩn nhà nớc về các dợc liệu [11].
Đến năm 2005, chúng ta đã điều tra khảo sát có 3948 loài thực vật, 408
loài động vật, 75 loại khoáng vật, 52 loài tảo có ở Việt Nam đợc sử dụng làm
thuốc [17]. Năm 1999 Bộ Y tế đã ban hành Danh mục thuốc chủ yếu với 88
chế phẩm thuốc YHCT, 60 cây thuốc tại tuyến y tế xã và 186 vị thuốc thiết
yếu. Năm 2005, Danh mục thuốc chủ yếu YHCT đợc ban hành với 94 chế
phẩm thuốc YHCT, 30 cây thuốc đợc trồng tại vờn thuốc mẫu, danh mục 96
cây thuốc Nam phân theo nhóm bệnh và 215 vị thuốc. Đến tháng 2/2008 Bộ Y
tế ban hành "Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám
chữa bệnh" với 98 loại chế phẩm và 237 vị thuốc [6]. Tuy nhiên, qua thực tế
sử dụng thuốc ở các cơ sở điều trị cho thấy vẫn có một số thuốc cha hợp lý
11
nên cần phải khảo sát thực trạng sử dụng thuốc tại các cơ sở để có sự điều
chỉnh cho phù hợp.
Đối với chế phẩm thuốc: Các bệnh viện YHCT đều sản xuất đợc một số
chế phẩm tuy không nhiều nhng phần nào đáp ứng đợc nhu cầu sử dụng
thuốc trong bệnh viện, những chế phẩm do bệnh viện sản xuất đều có xuất xứ
từ các bài thuốc cổ phơng, hoặc là các bài thuốc nghiệm phơng đã đợc sử
Phụ liệu dùng trong chế biến TCT là những nguyên liệu đợc dùng
trong các giai đoạn của quá trình chế biến nhằm có lợi cho việc điều trị, hạn
chế tác dụng không mong muốn, mùi vị khó chịu của thuốc [13].
Phụ liệu có thể đợc dùng để tẩm, ngâm, chích, tôi, nấu với thuốc.
* Các phụ liệu thờng dùng
- Cám gạo: Dùng cám gạo mới xay, màu hơi vàng, mịn, thơm
- Gạo: Dùng gạo nếp hoặc tẻ.
- Nớc vo gạo: Dùng nớc mới vo của gạo tẻ hoặc nếp, màu trắng, đặc,
không có mùi chua hoặc mùi lạ.
- Giấm: Dùng loại giấm thanh đợc chế từ các nguồn thực phẩm: bún,
chuốithể chất trong, không màu hoặc hơi vàng, có vị chua, mùi giấm, nồng
độ acid acetic từ 3,6 - 5%.
- Rợu: Loại rợu đợc chng cất từ gạo, ngô, sắn đã đợc lên men,
hàm lợng ethanol 30 - 40%, mùi đặc trng.
- Dịch sinh khơng: Dùng những củ gừng tơi, già, giã vắt lấy nớc cốt.
- Mật ong: Dùng mật luyện có màu vàng, sánh, vị thơm, ngọt.
- Bột văn cáp: Dùng vỏ hàu, hến ngâm rửa sạch, phơi, nung ở nhiệt độ
cao, tán lấy bột mịn.
- Nớc muối: Dùng dung dịch muối ăn thành phần chủ yếu là natri clorid.
- Phèn chua: Dùng dung dịch phèn chua.
13
- Vôi tôi: Dùng dung dịch nớc vôi thành phần chủ yếu là calci hydrocid.
- Dịch thuốc: Thờng dùng dịch của một hay nhiều loại dợc liệu nh
dịch nớc gừng, dịch nớc cam thảo để chế biến các vị thuốc có độc nh
sinh phụ tử, bán hạ
1.2.1.3. Dụng cụ thờng dùng trong chế biến TCT
- Dụng cụ làm sạch: Bàn chải, giần, sàng
- Dụng cụ rửa ủ: Chậu, thùng, máy rửa dợc liệu
- Dụng cụ để phân chia nhỏ dợc liệu: Dao cầu,máy thái, băm, chặt.
sấy, đốt làm khô áo, xém vàng, thành than. gồm có các phơng pháp sau:
- Nung: Cho ngay vị thuốc vào lửa đỏ, hoặc nung trong nồi chịu lửa,
thờng dùng cho các loại thuốc khoáng vật: mẫu lệ, từ thạch, cửu khổng v.v
làm cho mất nớc, dễ tán bột, tăng tác dụng hấp thụ hoặc thu sáp.
- Lùi hay nớng: Vị thuốc đợc bọc giấy ớt hay cám ớt, bột mì ớt lùi
vào tro nóng, than nóng hoặc nớng trên than hồng đến khi giấy cháy là đợc.
Lùi có tác dụng làm giảm hàm lợng dầu, giảm các chất bay hơi của dợc liệu
để làm dịu tính dợc của chúng giảm bớt độc tính của thuốc nh các thuốc cố
sáp thờng dùng là Đậu khấu, Kha tử sau khi qua nớng có thể dẫn đến tác
dụng cố trờng chỉ tả.
- Sao: Cho vị thuốc vào nồi, chảo mà sao. Phơng pháp này hay dùng
nhất. Tuỳ mức độ nóng khác nhau ta có:
+ Sao qua (bào):
Cho vị thuốc vào chảo sao chốc lát, đến khi xém vàng
xung quanh, phiến thuốc nứt nẻ, có tác dụng làm giảm tính mãnh liệt của
thuốc nh chế biến vị Bào khơng.
15
+ Sao vàng: Cho vị thuốc vào chảo, sao đến khi bề mặt vị thuốc có màu
vàng, bẻ ra bên trong còn nguyên màu cũ. Sao vàng có tác dụng kiện tỳ nh vị
Bạch truật, Hoài sơn.
+ Sao đen (sao tồn tính): Cho vị thuốc vào chảo, sao đến khi bề mặt vị
thuốc có màu đen, bẻ ra bên trong có màu nâu cũ. Sao đen có tác dụng tiêu
thực, chỉ tả lỵ, chỉ huyết nh vị Dành dành (Chi tử), Viễn trí.
+ Sao cháy (thán sao): Cho vị thuốc vào chảo, sao đến khi vị thuốc cháy
đen, đảo đều, tắt lửa, úp vung ngay, để nguội. Sao cháy có tác dụng chỉ huyết
nh vị Trắc bá diệp, Kinh giới tuệ, Ngải diệp
- Ngoài ra còn có thể sao với phụ liệu nh sao với cám, hoàng thổ
+ Sấy: Sấy thuốc trên than, trong lò sấy. Sấy khô nh Cúc hoa, Kim ngân
hoa. Sấy vàng khô ròn nh Thuỷ điệt, Manh trùng.
Một số tác giả cho rằng: Có nhiều phản ứng xảy ra trong quá trình chế
biến và bào chế thuốc cổ truyền, đặc biệt phơng pháp sắc và chiết thuốc và
thờng xảy ra theo 2 con đờng chính. Một là sự hình thành các phức kết hợp
giữa các ion kim loại có trong dợc liệu đợc hoà tan trong quá trình sắc
thuốc với các flavonoid, acid amin, protein và sự hình thành các phức phân tử
từ những phân tử hữu cơ do ảnh hởng của sự khử hoá, kết hợp và trao đổi.
Hai là sự hình thành các chất mới từ các phản ứng thuỷ phân, trùng hợp, oxy
hóa, khử hoá Sự hình thành các phức và chất mới nh
vậy sẽ ảnh hởng đến
tính chất vật lý, hoá học và tác dụng của thuốc. Một số thành phần nh amino
acid, protein không có tác dụng điều trị rõ rệt nhng khi chúng kết hợp với các
ion kim loại trong hệ thống sinh hoá tạo thành dạng phức sẽ thể hiện rõ tác
dụng. Bởi vậy, chúng có thể ảnh hởng đến cân bằng của cơ thể và kết quả là
ảnh hởng đến tác dụng của cả đơn thuốc. Có thể vì vậy nên ngời ta cho
rằng: Tác dụng của một phơng thuốc không phải lúc nào cũng giống tác
17
dụng của từng vị thuốc, một hoạt chất có hàm lợng cao trong thành phần của
phơng thuốc cha chắc đã thể hiện rõ tác dụng nh tác dụng của phơng
thuốc [40].
1.2.2. Tình hình chế biến thuốc cổ truyền trên thế giới
Tài liệu lâu đời nhất về bào chế là tác phẩm Bào chế luận của Lôi
Hiệu (Trung Quốc) vào khoảng năm 420 - 479 và sau đó đổi là Lôi công bào
chế vẫn có giá trị đến ngày nay. Đến năm 1562 Tần Gia Mô đời Nhà Minh
có nói: "Bào chế cốt ở chỗ vừa chừng, non quá thì khó kiến hiệu, già quá thì
mất khí vị" [36]. Hay trong cuốn Tập hợp những tiêu chuẩn của nguyên liệu
làm thuốc đời Nhà Lơng có viết: "Quan sát, theo dõi nguồn gốc của bệnh tật
trong lúc chế biến thuốc [38]. Ngày nay, vấn đề bào chế thuốc cổ truyền vẫn
đợc kế thừa và phát huy Chế biến không những để đảm bảo chất lợng của
thuốc phiến mà còn có thể làm thay đổi không chỉ số lợng mà cả chất lợng
Dợc điển Việt nam III ban hành năm 2002 với 276 tiêu chuẩn chất lợng
dợc liệu và 36 tiêu chuẩn chất lợng thuốc YHCT là một thuận lợi cho quá
trình nghiên cứu, đánh giá chất lợng dợc liệu. Trong 276 tiêu chuẩn DL thì
84 DL có quy trình chế biến, đây là căn cứ để các cơ sở dựa vào xây dựng nên
quy trình chế biến thuốc cho cơ sở. Tuy nhiên cha có tiêu chuẩn cho các vị
thuốc sau chế biến nên chất lợng thuốc sẽ phụ thuộc vào từng cơ sở.
Phần lớn các CSKCB đều tự chế biến đơc các vị thuốc theo phơng pháp
YHCT. Viện Y dợc học dân tộc TP Hồ Chí Minh thực hiện chế biến đ
ợc
250 vị thuốc, chiếm tỷ lệ 100% trong số 250 vị thuốc sử dụng tại Viện, bệnh
viện YHCT TP Hồ Chí Minh chế biến 214 vị thuốc trong số 267 vị thuốc sử
dụng, chiếm tỷ lệ 80% Bên cạnh đó, có một số bệnh viện còn cha thực hiện
19
công tác chế biến các vị thuốc nh bệnh viện YHCT Quảng Nam, Phú Thọ,
Đồng Nai, Quảng Bình, Hà Giang và bệnh viện YHCT Bình Phớc mới thành
lập. Một số vị thuốc chế biến phức tạp, số lợng sử dụng không nhiều các
bệnh viện hầu nh không chế biến nh Phụ tử [5].
Về trang thiết bị (TTB) phục vụ chế biến thuốc: Đa số các cơ sở đều có
các TTB sản xuất thuốc ở dạng truyền thống nh: Dao cầu, máy thái dợc
liệu, bộ làm thuốc tễ lăn bằng tay hoặc các TTB sản xuất các dạng chế
phẩm YHCT theo hớng hiện đại hóa nh hệ thống máy sắc thuốc, máy đóng
gói chè tan, chè túi lọc, máy đóng nang, máy dập viên, máy ép vỉ Ngoài ra
một số BV, Viện còn có các TTB máy móc phục vụ cho kiểm nghiệm về hóa
lý và vi sinh cho các chế phẩm YHCT nh BV Phạm Ngọc Thạch, viện
YDHDT TP Hồ Chí Minh. Trong khi đó còn nhiều BV YHCT nhất là các BV
mới thành lập các TTB sản xuất còn lạc hậu cha đáp ứng đợc nhu cầu sản
xuất thuốc sử dụng trong BV [5].
Hiện nay, chế biến TCT trong các cơ sở KCB còn gặp nhiều khó khăn:
Cơ sở hạ tầng cha đáp ứng để sản xuất thuốc theo quy tắc một chiều, các