BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ THU THỦY
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN PHÙ NINH NĂM 2012
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI LÊ THỊ THU THỦY
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới:
TS. Vũ Thị Trâm – Trường Đại học Dược Hà Nội.
TS. Nguyễn Thị Thanh Hương – Phó Trưởng Bộ môn quản lý và kinh tế Dược
Trường ĐH Dược Hà Nội.
Đã tận tình dạy tôi trong thời gian học tập và hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học
Dược Hà Nội;
- Các thầy, cô giáo ở Trường Đại học Dược Hà Nội – là những người dạy
dỗ, truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho tôi trong suốt những năm tháng học đại
học và chuyên khoa I;
- Đảng ủy, ban giám đốc bệnh viện Đa khoa huyện Phù Ninh nơi tôi công
tác, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập nâng cao kiến thức, trình độ
chuyên môn và hoàn thành luận văn này;
- Các khoa, phòng trong toàn bệnh viện, bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ,
động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học.
Cuối cùng xin cảm ơn Bố Mẹ, chồng, con tôi và những người thân yêu
trong gia đình; cảm ơn những bạn bè trong lớp CKI khóa 14 và các bạn bè thân
thiết đã cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, và dành cho tôi những
tình cảm, sự động viên khích lệ trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, ngày 12 tháng 03 năm 2014
Lê Thị Thu Thủy
MỤC LỤC
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu: Mô tả
20
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu:
20
2.2.3. Phương pháp phân tích và sử lý số liệu
21
2.2.4. Phương pháp trình bày số liệu
22
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu
22
2.3.1.Các chỉ tiêu trong phân tích cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng
22
2.3.2. Các chỉ tiêu trong phân tích thực trạng kê đơn điều trị ngoại trú được
BHYT chi trả
23
2.3.3. Thực trạng chỉ định dùng thuốc tại một số khoa lâm sàng.
24
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Phân tích cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng tại BVĐK Phù Ninh năm
2012.
26
3.1.1. Giá trị tiền thuốc sử dụng
26
3.1.2. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phương pháp phân nhóm
điều trị.
26
3.1.3. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc theo phương pháp phân tích ABC.
29
3.1.4. Cơ cấu tiêu thụ thuốc hạng A theo nhóm TD dược lý.
số về kê đơn.
54
4.2.2. Việc thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
56
4.3. Thực trạng kê đơn thuốc điều tri nội trú.
57
4.3.1. Thực hiện đúng qui định về ghi
hồ sơ bệnh án
.
57
4.3.2. thực hiện đúng qui chế kê đơn trong điều trị.
58
4.3.3. Số ngày nằm viện trung bình/bệnh nhân/đợt điều trị.
58
4.4. Những mặt hạn chế của đề tài
59
KẾT LUẬN
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
63
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tiếng Anh Tiếng Việt
BA Bệnh án
GTTT Gía trị tiền thuốc
Giá trị tiền thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa Phù Ninh năm
2012
26
Bảng 3.2 Cơ cấu 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất 27
Bảng 3.3
Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phân tích ABC
29
Bảng 3.4
Cơ cấu các thuốc nhóm A theo tác dụng dược lý
30
Bảng 3.5
Các thuốc kháng sinh được sử dụng trong nhóm A tại bệnh viện
BVĐK Phù Ninh năm 2012
31
Bảng 3.6 Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước thuốc nhập khẩu 32
Bảng 3.7 Cơ cấu thuốc sử dụng theo thành phần năm 2012 32
Bảng 3.8
Cơ cấu số lượng thuốc đơn thành phần - đa thành phần theo nguồn
gốc
33
Bảng 3.9 Giá trị tiền thuốc đơn thành phần - đa thành phần theo xuất xứ 34
Bảng 3.10
Nội dung thực hiện ghi thông tin bệnh nhân 35
Bảng 3.11
Bảng ghi hướng dẫn sử dụng 35
Bảng 3.12
Các chỉ số tổng quát về đơn thuốc ngoại trú. 36
44
Bảng 3.22
Tỷ lệ thuốc được kê trong bệnh án thuộc danh mục thuốc của bệnh
viện
45 DANH MỤC HÌNH TT Nội dung Trang
Hình 1.1
Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện ĐK huyện Phù
Ninh tỉnh Phú Thọ
17
Hình 1.2
Sơ đồ tổ chức Khoa Dược Bệnh viện Đa Khoa
Phù Ninh
19 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng công tác chăm lo sức khỏe toàn
sóc sức khỏe ban đầu cho toàn thể nhân dân trong huyện Phù Ninh. Hàng
năm bệnh viện đã thực hiện công tác khám, chữa bệnh cho một số lương
bệnh nhân thuộc nhiều đối tượng khác nhau như bảo hiểm y tế, chính sách,
dịch vụ y tế. Một trong những nhiệm vụ quan trọng có ảnh hưởng lớn đến
chất lượng khám chữa bệnh là quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện do vậy
việc cung ứng, đảm bảo chất lượng cho bệnh viện và giám sát tình hình sử
dụng thuốc là rất cần thiết, xuất phát từ yêu cầu thực tế đó đề tài “ Khảo sát
thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện Đa khoa huyện Phù Ninh – Tỉnh
Phú Thọ năm 2012”. Được thực hiện với các mục tiêu sau:
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Đa khoa huyện
Phù Ninh năm 2012.
2.Phân tích thực trạng kê đơn thuốc và chỉ định dùng thuốc tại một số
khoa lâm sàng.
3
Chương 1
Cũng trong năm 2009, theo một số thống kê của Bộ Y tế từ các báo
cáo về tình hình sử dụng thuốc của một số bệnh viện, tỷ lệ giá trị tiền thuốc
kháng sinh trung bình tại các bệnh viện chuyên khoa trung ương (21 bệnh
viện) là 28%, tại các bệnh viện chuyên khoa tỉnh (15 bệnh viện) là 34% và
tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh (52 bệnh viện) là cao nhất (43%) [28].
Kết quả phân tích kinh phí sử dụng một số nhóm thuốc tại bệnh viện
trung ương Quân Đội 108 trong năm 2008 và 2009 cho thấy, nhóm thuốc
kháng sinh có kinh phí sử dụng lớn nhất trong các nhóm thuốc, chiếm tỷ lệ
trung bình là 26,4% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [35]. Tương tự, tại bệnh
viện C Thái Nguyên năm 2011, kinh phí sử dụng nhóm kháng sinh cũng
chiếm tỷ lệ cao nhất (33%) trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [18].
Theo một nghiên cứu về thực trạng thanh toán thuốc BHYT tổng cả
nước năm 2010, trong số 30 hoạt chất thuộc nhóm kháng sinh, chiếm tỷ lệ
cao nhất (21,92% tiền thuốc BHYT) [34].
Thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiền thuốc sử
dụng tại bệnh viện, một phần cho thấy mô hình bệnh tất tại Việt Nam có tỷ
lệ các bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng
kháng sinh vẫn còn phổ biến [40].
Vitamin cũng là hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm
dụng cao. Kết quả phân tích tại 38 BV trong cả nước năm 2009 cho thấy
vitamin là 1 trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại tất cả các
tuyến BV [27]. Bên cạnh đó, nhóm thuốc này cũng được sử dụng nhiều tại
BV Hữu Nghị từ năm 2008 đến 2010 và tại BV E năm 2009 [25], [19].
Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán thuốc BHYT tổng cả nước
năm 2010 cho thấy, trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất,
có cả các thuốc bổ trợ là L-Ornithin L-Aspartat, Ginkgo Biloba và Arginin.
5
Trong đó, hoạt chất L-Ornithin L-Aspartat nằm trong số 5 hoạt chất chiếm
tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán [22]. Đồng thời, hoạt chất này cũng là một
sử dụng kết hợp KS tương đối phổ phiến (45,9% với các đơn không BHYT
và 37,67% với các đơn BHYT) và chủ yếu là kết hợp 2 KS [21]. Các nghiên
cứ tại BV Trung ương Quân Đội 108 năm 2010 và tại BV nhân dân 115 cuối
năm 2007 đến đầu năm 2008 cũng cho tỷ lệ khá tương đồng 26,5 - 28% đơn
có kháng sinh [30], [37]. Trong đó, tại BV Đa Khoa Vĩnh Phúc năm 2011,
có đến 59,5% đơn thuốc ngoại trú và 61,8% hồ sơ bệnh án khảo sát có kê
kháng sinh [23].
Vitamin cũng là hoạt chất thường được các bác sĩ kê đơn. Theo một
khảo sát tại ở BV Tim Hà Nội năm 2010, có 35% đơn thuốc có kê Vitamin,
chủ yếu là vitamin nhóm B phối hợp các khoáng chất như Mg, Fe và hầu
như không có tình trạng bác sĩ kê nhiều loại vitamin trong cùng một đơn
[16]. Một khảo sát tại BV nhân dân 115 cũng cho tỷ lệ tương tự là 38% [37].
Trong khi đó, tại BV Đa Khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 có đên 46,3% đơn
thuốc ngoại trú và 43,5% hồ sơ bệnh án có kê vitamin [41].
Về việc thực hiện quy chế kê đơn trong điều trị ngoại trú, theo kết quả
khảo sát tại BV Phổ TW năm 2009, do chưa ứng dụng phần mềm trong kê
đơn trên máy tính nên tỷ lệ thực hiện theo quy chế về ghi các thông tin về
bệnh nhân và thông tin về thuốc là chưa cao. Có 35% đơn khảo sát ghi rõ
ràng, đầy đủ địa chỉ bệnh nhân chính xác đến số nhà, đường phố hoặc thông
xã; 100% ghi đầy đủ họ tên bệnh nhân; chẩn đoán bệnh cho bệnh nhân có
ghi nhưng còn viết tắt nhiều, 62% số đơn ghi tên thuốc theo tên hoạt chất,
83% số đơn ghi đầy đủ, hàm lượng, nồng độ, số lượng thuốc, 99% số đơn
ghi đầy đủ hướng dẫn sử dụng trong đơn, 100% số đơn ghi đầy đủ liều dùng,
95% số đơn có ghi thời điểm dùng [17].
Hiện nay, nhiều BV đã ứng dụng phần mềm trong kê đơn nên đã thực
hiện tốt hơn quy chế kê đơn ngoại trú. Một nghiên cứu can thiệp tại BV Nhân
7
dân 115 cho thấy việc áp dụng kê đơn điện tử đã cải thiện rõ rệt chất lượng
kê đơn thuốc tại Khoa khám bệnh. Số đơn ghi thiếu thông tin về bệnh nhân
này và đã, đang có nhiều giải pháp, chính sách chỉ đạo các đơn vị thực hiện.
Căn cứ theo DMTTY, Bộ Y tế ban hành DMTCY để các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh lựa chọn thuốc sử dụng phù hợp với mô hình bệnh tật, khả
năng chuyên môn của đơn vị, làm cơ sở cho BHYT thanh toán chi phí điều
trị cho bệnh nhân. Từ DMTCY ban hành theo quyết định 03/2005/QĐ-BYT,
được bổ sung, sửa đổi theo quyết định 05/2008/QQĐ-BYT, cho đến nay,
danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu đang được áp dụng là DMTCY sử dụng
tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán (ban hành
theo thông tư 31/2011/TT-BYT ngày 11/7/2011 của Bộ Y tế), bao gồm 900
thuốc (hay hoạt chất) tân dược, và 57 danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất
đánh dấu [8]. Đây là cơ sở quan trọng để các BV xây dựng danh mục thuốc
sử dụng phù hợp với mô hình bệnh tất bệnh viện, trình độ kỹ thuật cũng như
khả năng tài chính của BV.
Cũng theo thông tư 31/2011/TT-BYT còn đưa ra các nguyên tăc về
lựa chọn sử dụng thuốc thành phẩm như sau: ưu tiên lựa chọn thuốc generic,
thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, thuốc của các doanh nghiệp dược
đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) [5].
Ngày 8/8/2013 Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/2013/TT-BYT quy
định về tổ chức & hoạt động của Hội đồng thuốc & điều trị trong bệnh viện.
Để chấn chỉnh việc cung ứng thuốc nhằm đảm bảo chất lượng khám chữa
bệnh và sử dụng thuốc hợp lý an toàn, ngày 16/04/2004, Bộ Y tế đã đưa ra chỉ
thị số 05/2004/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc
trong bệnh viện. Trong đó, chỉ thị yêu cầu Ban Giám Đốc BV chỉ đạo hoạt động
của HĐT&ĐT trong việc lựa chọn thuốc và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, tăng
cường kiểm tra việc thực hiện qui chế kê đơn bán thuốc theo đơn trong bệnh
viện [11].
9
Để thực hiện chỉ thị số 05, ngày 16 tháng 04 năm 2004, vụ điều trị
(nay là cục quản lý khám chữa bệnh) đã ra công văn số 3483/YT-ĐTr hướng
Tỷ lệ % đơn có thuốc tiêm
Tỷ lệ % các thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu
* Phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng: Giám đốc BV
giao cho HĐT&ĐT tổ chức phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng
(bình bệnh án) ít nhất hai tháng một lần: bình bệnh án khách quan với mục
tiêu tăng cường sử dụng thuốc hợp lý.
Ngày 07/05/2010, Bộ y tế ban hành Công văn số 2094/BYT-QLD của
Bộ y tế về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động cung ứng thuốc và
giá thuốc trong các cơ sở khám chữa bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm chỉ đạo
hoạt động của HĐT&ĐT trong việc lựa chọn thuốc, công tác bình bệnh án,
tăng cường kiểm tra giám sát để đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu
quả [5].
Bên cạnh đó, các nội dung về tiền thuốc ngoại nhập, tiền thuốc sản
xuất trong nước, tiền thuốc kháng sinh, tiền thuốc vitamin, tiền dịch truyền,
thuốc corticoid là các nội dung các BV cần phải báo cáo trong bảng kiểm tra
BV hàng năm do Bộ y tế ban hành [2].
Ngày 01/02/2008, Bộ y tế đã ban hành quy chế kê đơn thuốc trong
điều trị ngoại trú kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT, quy định rõ về
trách nhiệm người kê đơn và cách ghi đơn thuốc.
Người kê đơn phải chịu trách nhiệm về đơn thuốc do mình kê cho
người bệnh và thực hiện các quy định sau:
+ Chỉ được kê thuốc điều trị các bệnh được phân công khám, chữa
bệnh hoặc các bệnh trong phạm vi hành nghề ghi trong giấy chứng nhận đủ
điều kiện hành nghề do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp.
+ Chỉ được kê đơn thuốc sau khi trực tiếp khám bệnh.
11
+ Không kê đơn thuốc các trường hợp sau: Không nhằm mục đích
phòng bệnh, chữa bệnh; Theo yêu cầu không hợp lý của người bệnh; Thực
phẩm chức năng
phải đánh số thứ tự ngày dùng thuốc, bao gồm: Thuốc phóng xạ, thuốc gây
nghiện, thuốc hướng tâm thần, thuốc kháng sinh, thuốc điều trị lao và thuốc
corticoid.
Thầy thuốc cần căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý,
đường dùng của thuốc để y lệnh đường dùng thuốc thích hợp. Chỉ dùng
đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc
theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị với thuốc chỉ dùng
đường tiêm.
Thầy thuốc phải thông báo tác dụng không mong muốn của thuốc cho
điều dưỡng chăm sóc theo dõi và người bệnh (hoặc gia đình người bệnh),
đồng thời theo dõi đáp ứng của người bệnh khi dùng thuốc, xử lý kịp thời
các tai biến do dùng thuốc và báo cáo phản ứng có hại của thuốc cho khoa
Dược ngay khi xảy ra [6]. (Thay thế cho thông tư 08 cũ kể từ ngày
22/9/2013). Thông tư đã quy định rõ một trong các nhiệm vụ của HĐT&ĐT
là xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc. Trong đó,
cần xác định các vấn đề liên quan đến thuốc trong quá trình từ khi tồn kho,
bảo quản đến kê đơn, cấp phát và sử dụng. Đồng thời, cần áp dụng ít nhất
một trong các phương pháp: Phân tích ABC, phân nhóm điều trị, phân tích
Ven, giám sát các chỉ số từ sử dụng thuốc theo hướng dẫn của Bộ y tế để
phân tích việc sử dụng thuốc tại đơn vị. Từ đó, HĐT&ĐT cần xác định vấn
đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can
thiệp phù hợp [1].
1.3. Một số phương pháp phân tích dữ liệu về sử dụng thuốc
1.3.1. Phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc
13
Trong nghiên cứu sử dụng thuốc, các dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc
có thể được phân tích theo 4 phương pháp chính, bao gồm: Phân tích ABC,
phân tích nhóm điều trị: Phân tích thiết yếu và không thiết yếu (VEN) và
phương pháp phân tích theo liều xác định trong ngày (DDD). Tất cả các
Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu
thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất
huyết.
Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả
cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị
thay thế.
Tương tự như phân tích ABC, một số ít nhóm điều trị có chiếm phần
lớn chi phí. Có thể tiến hành các phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị
chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có
thể có chi phí hiệu quả cao [39].
1.3.2. Phương pháp nghiên cứu chỉ số
Các chuyên gia của WHO đã đưa ra các chỉ số sử dụng thuốc nhằm
đánh giá việc thực hiện tại các cơ sở y tế tập trung 3 lĩnh vực liên quan đến
sử dụng thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, đó là: Thực hành kê đơn
thuốc của các thầy thuốc, các yếu tố cơ bản trong việc chăm sóc người bệnh
và khả năng sẵn sàng có các yếu tố cần thiết để hỗ trợ cho sử dụng thuốc hợp
lý, an toàn. Các chỉ số này đã được tiêu chuẩn hóa cao, phù hợp với mọi quốc
gia, được áp dụng trong bất cứ nghiên cứu sử dụng thuốc nào. Chúng tôi
không đánh giá tất cả các khía cạnh quan trọng của việc sử dụng thuốc, nhưng
thay vào đó, các chỉ số này trang bị một công cụ cơ bản cho phép đánh giá
nhanh chóng và đáng tin cậy một số vấn đề cốt lõi của việc sử dụng thuốc
trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Các kết quả thu được các chỉ số này chỉ ra
những vấn đề cơ bản trong sử dụng thuốc cần phải kiểm tra, giám sát chặt
chẽ hơn [9].
15
Bảng 1.1. Các chỉ số sử dụng thuốc cơ bản
TT
Chỉ số
1 tháng 1 năm 2008 Bệnh viện được chuyển sang Bệnh viện Phụ Sản tỉnh
Phú Thọ. Đến ngày 23 tháng 07 năm 2012 thực hiện Quyết định 2002/QĐ-
UBND tỉnh, bệnh viện trở lại với chức năng là bệnh viện Đa khoa hạng 3
tuyến huyện, thực hiện chức năng khám chữa bệnh đa khoa theo phân
tuyến kỹ thuật của Bộ y tế.
1.4.1. Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện Đa Khoa huyện Phù Ninh.
Bệnh viện đa khoa huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ là Bệnh viện hạng
III tuyến huyện có Chức năng, nhiệm vụ: Cấp cứu khám chữa bệnh ban đầu;
Đào tạo cán bộ y tế; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên
môn kỹ thuật; Phòng bệnh; Hợp tác Quốc tế Với qui mô giường bệnh 120
giường bệnh ( Trong đó có 100 giường công lập và 20 giường bệnh xã hội
hóa), có 13 khoa phòng và 102 cán bộ viên chức 21, dược sỹ trung cấp 05,
điều dưỡng 23 ( cao đẳng điều dưỡng 07, điều dưỡng trung học 16), hộ sinh
07, y sỹ đa khoa 14, cán bộ khác 16. Mỗi khoa phòng đều có 01 trưởng khoa
phụ trách và phải chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc Bệnh viện về mọi
hoạt động của khoa phòng mình.