Ứng dụng định giá cổ phiếu nhờ mô hình SIM và APT vào xây dựng danh mục đầu tư và áp dụng tại BSC - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các
loại chứng khoán trung và dài hạn. Khi tham gia vào thị trường mua bán và nắm
giữ chứng khoán các nhà đầu tư luôn kì vọng thu được lợi nhuận cao tuy nhiên
các chứng khoán luôn ẩn chứa rủi ro- là tính không chắc chắn trong nguồn lợi
tức mà nó mang lại cho người nắm giữ. Muốn tham gia vào cuộc chơi chứng
khoán, bạn phải là người biết chấp nhận rủi ro. Vì vậy, để tham gia vào thị
trường chứng khoán, mỗi nhà đầu tư cần phải chuần bị cho mình thông tin, kiến
thức, vốn tư bản và khả năng chấp nhận rủi ro trong đầu tư.
Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường đều mong muốn đạt được mức lợi
nhuận kỳ vọng với một mức rủi ro nhất định. Để xác suất rủi ro xảy ra thấp nhất,
nhà đầu tư phải áp dụng nguyên tắc đó là nguyên tắc đa dạng hóa. Muốn đạt
được điều này, nhà đầu tư phải lập được một danh mục cho riêng mình. Đa dạng
hóa sẽ làm cho nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất. Khi nhà đầu tư
thực hiện đa dạng hóa danh mục đầu tư, họ sẽ lập được một danh mục có mức
lợi nhuận kỳ vọng mong muốn ở mức rủi ro mà nhà đầu tư có thể chịu đựng.
Thiết lập danh mục tối ưu bằng phương pháp Markovit là phương pháp cổ
điển nhưng rất hiệu quả. Để thiết lập danh mục tối ưu cần xác định biên hiệu quả
mà trong thực tế do có nhiều tài sản rủi ro nên việc tính toán, ước lượng ma trận
hiệp phương sai để xác định biên hiệu quả rất phức tạp. Nếu lợi suất tài sản tuân
theo mô hình chỉ số đơn SIM hoặc mô hình đa nhân tố thì ta sẽ có phương pháp
lọc bớt số tài sản rủi ro ban đầu do đó mà việc xác định biên hiệu quả dễ dàng
hơn. Nếu lợi suất cổ phiếu tuân theo mô hình K nhân tố thì ta xác định K danh
mục nhân tố và dùng chúng phỏng theo bất cứ tài sản nào. Như vậy, K danh mục
nhân tố cảm sinh ra toàn bộ các danh mục theo nghĩa phỏng theo mà trong đó có
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
1
Chuyên đề tốt nghiệp
cả danh mục hiệu quả. Thay vì xác định ma trận hiệp phương sai ta quy về xác
định K danh mục nhân tố và coi K danh mục nhân tố là tài sản rủi ro tổ hợp

đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực tập. Đặc biệt, em xin
chân thành cảm ơn Giảng viên TS. Ngô Văn Thứ - Trưởng Bộ môn Toán Tài
Chính - Khoa Toán Kinh tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình, giúp đỡ để em hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
VÀ DANH MỤC ĐẦU TƯ
I. CHỨNG KHOÁN VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Chứng khoán là hàng hóa của thị trường chứng khoán. Đó là những tài sản tài
chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán để thu tiền
về. Theo sự phát triển của thị trường hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng.
Nói chung, người ta phân chia chứng khoán làm bốn nhóm chính: Cổ phiếu, trái
phiếu, các công cụ chuyển đổi và chứng khoán phái sinh.
1. Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ
phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần.
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hai
loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
1.1. Phân loại cổ phiếu
a. Cổ phiếu phổ thông
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu điển hình nhất. Nếu một công ty chỉ được
phép phát hành một loại cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu phổ thông. Cổ phiếu
phổ thông mang lại những quyền sau cho cổ đông.
Quyền hưởng cổ tức
Cổ tức là phần lợi nhuận của công ty dành để trả cho những người chủ sở

5
Chuyên đề tốt nghiệp
vấn đề quan trọng của công ty. Nếu không tham dự được, cổ đông thường có thể
ủy quyền cho người khác thay mặt họ biểu quyết, theo chỉ thị của họ hoặc tùy ý
người được ủy quyền.
Tuỳ theo quy định, mỗi cổ đông có thể được bỏ số phiếu tối đa cho mỗi ứng
cử viên bằng số cổ phiếu nắm giữ, hoặc được dồn toàn bộ số phiếu có thể chi
phối( bằng tổng số phiếu nhân với số ứng cử viên) để bầu cho một ( hoặc hơn),
tuy có ít phiếu bầu nhưng họ lại có thể tập trung phiếu để tăng thêm giá trị quyền
bổ phiếu của mình.
Ngoài những quyền lợi cơ bản về kinh tế trên đây, cổ đông phổ thông còn có
những quyền lợi pháp lí khác nữa, như quyền được kiểm tra số sách của công ty
khi cần thiết, quyền được yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thường….
b. Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi dành cho cổ đông những ưu đãi so với cổ đông phổ thông.
Kiểu ưu đãi lâu đời nhất và phổ biến nhất là ưu đãi về cổ tức.
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức ấn định một tỉ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá, hay
một mức cổ tức tuyệt đối tối đa. Trong điều kiện công ty hoạt động bình thường,
cổ đông cổ tức ưu đãi sẽ hưởng mức cổ tức này, vì thế thu nhập từ cổ tức của cổ
phiếu ưu đãi nói chung là cố đinh. Đổi lại điều đó, cổ đông ưu đãi không được
tham gia bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của công ty.
Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỉ lệ đó, công ty
sẽ trả theo khả năng có thể. Đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể không trả cổ tức
ưu đãi, nhưng một khi cổ đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cổ đông phổ
thông cũng chưa được trả. Trong trường hợp công ty thanh lí tài sản, cổ đông ưu
đãi được nhận lại vốn trước cổ đông phổ thông nhưng sau người có trái phiếu.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Cổ phiếu ưu đãi cũng có thể kèm theo đó những điều khoản để tăng thêm tính

Nếu giá cổ phiếu giảm xuống thì sẽ gây tổn thất (lỗ vốn). Người đầu tư vì thế
phải quan tâm tới khả năng tăng giá của cổ phiếu.
Giữa mức cổ tức được chi trả và khả năng tăng giá của cổ phiếu không có mối
liên hệ cố định. Có hai loại cổ phiếu có mức chi trả cổ tức cao và ổn định, nhưng
lại kém tiềm năng tăng giá. Trái lại có loại cổ phiếu trả cổ tức thấp, thậm chí
không trả cổ tức, nhưng lại hứa hẹn tiềm năng tăng giá mạnh. Tùy theo mục tiêu
và mức độ chấp nhận rủi ro của từng người, người đầu tư có thể lựa chọn mua
những loại cổ phiếu mà những đặc điểm về khả năng đem lại lợi tức là khác
nhau. Nếu nhìn nhận từ giác độ khả năng đem lại lợi tức, cổ phiếu bao gồm các
loại sau:
Cổ phiếu thượng hạng là cổ phiếu do những công ty có thành
tích lâu dài và liên tục về lợi nhuận và chi trả cổ tức phát hành. Đó là cổ phiếu
của những công ty lớn, có tên tuổi, ổn định và trưởng thành, có tiểm lực tài chính
to lớn. Loại cổ phiếu này ít khi bị mất giá, nhưng không nhất thiết là giá sẽ tăng
mạnh, đồng thời cổ tức được chi trả ổn định và tăng đều đặn.
Cổ phiếu tăng trưởng là cổ phiếu của một công ty có doanh số,
thu nhập và thị phần đang tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ của nền kinh tế nói
chung và nhanh hơn mức trung bình cả ngành. Công ty này thường quan tâm đến
việc mở rộng và đến lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, do đó nó thường giữ lại
phần lớn lợi nhuận để tái tài trợ cho mở rộng và nghiên cứu, cũng vì thế cổ tức
thường được trả với tỉ lệ thấp hoặc không trả. Tuy nhiên loại cổ phiếu này có
tiềm năng tăng giá mạnh.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Cổ phiếu phòng vệ là cổ phiếu của những công ty có sức chống
đỡ với suy thoái. Đặc trưng của những công ty này là mức độ ổn định của chúng
trong những thời kì mà toàn bộ nền kinh tế suy thoái. Đó thường là những công
ty kinh doanh các sản phẩm thiết yếu như thuốc là, nước giải khát, bánh kẹo và
thực phẩm. Loại cổ phiếu này có mức chi trả cổ tức ổn định và vào thời kì đi

loại yếu tố thứ hai - những yếu tố nội tại, kiểm soát được và phần nào chỉ riêng
có đối với các ngành hay các công ty, được gọi là nguồn rủi ro không hệ thống.
Rủi ro hệ thống là phần trong biến động tổng thể của lợi nhuận gây ra bởi
những yếu tố tác động tới giá cả của tất cả các chứng khoán. Những biến đổi về
kinh tế, chính trị và xã hội là những nguồn rủi ro hệ thống. Hiệu ứng của chúng
làm cho giá của hầu hết các cổ phiếu thường riêng lẻ và hầu hết các trái phiếu
riêng lẻ cùng chuyển động theo một hướng. Nói cách khác, khoảng một nửa
trong tổng số rủi ro của một cổ phiếu thường trung bình là rủi ro hệ thống.
Rủi ro không hệ thống là phần của tổng rủi ro chỉ xảy ra với riêng một ngành
hay một hãng. Các yếu tố như năng lực quản lí, những ưu tiên tiêu dùng, các
cuộc bãi công gây ra những biến động hệ thống của lợi nhuận trong một công ty.
Các yếu tố không hệ thống về cơ bản là độc lập với các yếu tố tác động đến thị
trường chứng khoán nói chung. Vì những yếu tố này tác động đến một công ty
nên chúng phải được khảo sát riêng biệt cho từng công ty.
Rủi ro là điều không thể loại bỏ hoàn toàn, xét trên tổng thể thị trường và
trong dài hạn. Song mỗi cá nhân người đầu tư hay tổ chức đầu tư có thể áp dụng
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
10
Chuyên đề tốt nghiệp
một hay nhiều trong số những biện pháp sau đây để giảm thiểu rủi ro của việc
đầu tư cổ phiếu:
Lựa chọn những cổ phiếu riêng lẻ
Quyết định đầu tư vào cổ phiếu nào là kết quả của quá trình thu thập và phân
chính trị thế giới, những biến số kinh tế vĩ mô trong nước(GDP, thu nhập quốc
dân bình quân đầu người, làm phát, năng suất lao đông…), cho tới những vấn đề
của ngành và cuối cùng là tình hình của công ty phát hành. Ngoài ra, lựa chọn
một cổ phiếu riêng lẻ còn liên quan tới những thông số cá nhân của người đầu tư
như khả năng về tài chính, mục tiêu đầu tư, mức độ chấp nhận rủi ro…
Thiết lập danh mục đầu tư hoặc mua chứng chỉ quỹ đầu tư
Khi phối hợp nhiều cổ phiếu (hoặc cổ phiếu và trái phiếu hay các công cụ

phiếu Chính phủ là bằng không, còn các trái phiếu công ty khác nhau có mức độ
rủi ro thanh toán khác nhau.
Ngoài rủi ro thanh toán, trái phiếu Chính phủ vẫn phải chịu các loại rủi ro
khác giống bất kì một trái phiếu công ty nào như rủi ro lãi suất, rủi ro lạm phát…
Thời hạn
Thời hạn của một trái phiếu là ngày chấm dứt sự tồn tại của khoản nợ, người
phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng cách hoàn trả khoản vay gốc. Thời hạn này
cũng còn được gọi là thời gian đáo hạn của trái phiếu.
- Thời gian đáo hạn cho biết khoảng thời gian mà người nắm giữ trái phiếu
có thể mong đợi nhận được các khoản thanh toán lãi định kì và cho biết số năm
trước khi khoản vay gốc được hoàn trả toàn bộ.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
12
Chuyên đề tốt nghiệp
- Lợi tức của một trái phiếu tuỳ thuộc vào thời hạn của nó.
- Giá của trái phiếu sẽ biến đổi trong thời hạn của nó khi lãi suất trên thị
trường thay đổi. Nếu các yếu tố khác không thay đổi thời gian đáo hạn càng dài
tính biến động giá của trái phiếu càng lớn trước một sự thay đổi của lãi suất thị
trường.
Mệnh giá và lãi suất cuống phiếu
Mệnh giá của một trái phiếu là khối lượng tiền được ghi trên mặt trái phiếu
mà người phát hành đồng ý hoàn trả cho người nắm giữ trái phiếu tại thời điểm
đáo hạn.
Lãi suất cuống phiếu là lãi suất mà người phát hành đồng ý trả mỗi năm. Khối
lượng lãi hàng năm được trả cho người sở hữu trái phiếu trong suốt thời hạn của
trái phiếu được gọi là lãi cuống phiếu. Lãi suất cuống phiếu đem nhân với mệnh
giá trái phiếu sẽ cho lãi cuống phiếu.
Người nắm giữ trái phiếu nhận được tiền lãi do mua trái phiếu với giá thấp
hơn nhiều so với mệnh giá của nó. Khi trái phiếu đáo hạn, lãi sẽ được trả chính
bằng khoản chênh lệch giữa mệnh giá trái phiếu và giá đã trả để mua trái phiếu

bảo bằng các tài sản thế chấp cụ thể), trái phiếu không đảm bảo ( chỉ được đảm
bảo bằng uy tín công ty, khi công ty phá sản thì trái chủ của trái phiếu này được
giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có đảm bảo nhưng trước các cổ đông), trái
phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có thể mua lại (cho phép người phát hành
trong những trường hợp nhất định có thể mua lại toàn bộ hay một phần số trái
phiếu đã phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn), trái phiếu có thể bán lại (cho
phép người mua trái phiếu trong những trường hợp nhất định có thể bán lại trái
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
14
Chuyên đề tốt nghiệp
phiếu cho người phát hành để thu hồi vốn trước khi trái phiếu đáo hạn), trái
phiếu có thể chuyển đổi ( cho phép trái chủ trong những điều kiện nào đó có thể
đổi lấy cổ phiếu thường theo tỉ lệ và mức giá ấn định).
2.2. Những nguồn lợi tức tiềm năng của trái phiếu
a. Tiền lãi định kì
Khoản này được quy định từ đầu và không thay đổi bởi lãi suất cuống phiếu
cho đến khi trái phiếu đáo hạn.
b. Lãi của lãi
Lãi của lãi là khoản có được do tái đầu tư các khoản thanh toán lãi định kì. Bộ
phận này của tổng lợi tức phụ thuộc vào lãi suất tái đầu tư, tứclà thay đổi theo lãi
suất thị trường.
c. Chênh lệch giá
Đây là khoản chênh lệch giữa mức giá mua trái phiếu và giá nhận được khi
trái phiếu đáo hạn hoặc bị mua lại trước khi đáo hạn. Khoản này có thể âm,
dương tùy theo chiều hướng biến động của giá trái phiếu.
2.3. Rủi ro điền hình của trái phiếu
a. Rủi ro lãi suất thị trường
Là rủi ro giá của trái phiếu thay đổi khi lãi suất thị trường dao động. Nếu trái
phiếu được nắm giữ tới khi đáo hạn thì không có rủi ro này.
b. Rủi ro tái đầu tư

cổ phần trên thị trường thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹ hoặc đại lí ủy quyền
của quỹ.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
16
Chuyên đề tốt nghiệp
3.2. Ưu điểm của chứng chỉ - cổ phần quỹ đầu tư
- Giúp người đầu tư đa dạng hóa đầu tư để giảm thiếu tổng rủi ro mà chỉ cần
lượng vốn đầu tư khiêm tốn.
- Tránh được những giao dịch nhỏ mà phí giao dịch lại lớn đồng thời lại tận
dụng được kĩ năng đầu tư chuyên nghiệp của người quản lí quỹ.
- Giúp mỗi nhà đầu tư có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó như: tránh thuế,
bảo toàn vốn, tăng trưởng vốn hay có thu nhập thường xuyên. Ngoài ra còn được
hưởng nhiều dịch vụ cho người thụ hưởng.
3.3. Nguồn lợi tức tiềm năng của chứng chỉ - cổ phần quỹ đầu tư
- Nhận cổ tức của quỹ. Khoản này được chi trả từ số thu nhập của các
khoản đầu tư của quỹ như: cổ tức co rphiếu, tiền lãi từ trái phiếu…
- Nhận được khoản lợi vốn ( hoặc bị lỗ vốn) khi nhà quản lí quỹ bán ra một
phần trong danh mục đầu tư để thu lợi nhuận.
- Được hưởng lợi từ những thay đổi có lợi trong giá trị thị trường.
4. Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm
giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy
một chứng khoán khác.
Thông thường có cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu được chuyển đổi thành cổ
phiếu thường.
4.1. Ưu điểm của chứng khoán chuyển đổi
- Nhà đầu tư có kinh nghiệm sử dụng chứng khoán chuyển đổi để rào chắn
rủi ro trước những dao động của giá thị trường.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
17

Quyền mua cổ phần là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông hiện
hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợt phát
hành cổ phiếu phổ thông mới, tương ứng với tỉ lệ cổ phần hiện có của họ trong
công ty tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và
trong một thời hạn nhất định.
Đặc điểm của quyền mua cổ phần
- Mức giá đăng kí trong tất cả các dạng quyền mua cổ phần đều thấp hơn
mức giá hiện hành của cổ phiếu vào thời điểm quyền được phát hành do:
 Rủi ro có thể xảy ra khi giá thị trường giảm trong thời hạn phát hành
quyền và điều đó có thể phá hoại sự thành công của đợt phát hành.
 Mức chênh lệch đáng kể này làm tăng tính hấp dẫn của đợt phát hành.
- Mỗi cổ phần đang lưu hành được đi kèm một quyền. Số lượng quyền cần
thiết để mua một cổ phần mới được quy định tùy đợt phát hành. Các công ty
thường xác định số lượng quyền cần mua một cổ phần mới như sau:
Số lượng quyền cần để mua một cổ phần mới = Số lượng cổ phần cũ đang
lưu hành : Số lượng cổ phần mới.
- Nếu các cổ đông không muốn thực hiện quyền, họ có thể bán chúng trên
thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá của quyền có thể lên hay
xuống trong thời gian chào bán do giá thị trường của cổ phiếu tăng hay giảm.
5.2. Chứng quyền
Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền được
mua một số lượng xác định một loại chứng khoán khác với một mức giá xác
định và trong một thời hạn nhất định.
a. Đặc điểm
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
19
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chứng quyền được phát hành bởi các công ty phát hành chứng khoán cơ
sở. Khi các chứng quyền được thực hiện làm tăng dòng tiền vào cho công ty và
làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường.

thanh toán sẽ xảy ra khi một trong hai bên không thực hiện hợp đồng.
5.4. Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua
hoặc bán một hàng hóa nào đó tại một thời hạn xác định trong tương lai theo
mức giá đã định trước.
a. Cơ chế giao dịch hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận pháp lí chắc chắn giữa một người mua
hoặc một người bán và một sở giao dịch có uy tín hoặc trung tâm thanh toán của
sở giao dịch đó.
Mức giá các bên thỏa thuận giao dịch trong tương lai được gọi là giá hợp
đồng tương lai.
Thời hạn ấn định để các bên tiến hành giao dịch là thời hạn thanh toán hay
thời hạn giao nhận.
b. Thoát khỏi một vị thế
Một bên của hợp đồng tương lai có hai lựa chọn để giải tỏa khỏi một vị thế:
- Vị thế có thể được thanh lí trước thời hạn thanh toán: bên tham gia phải
mở một vị thế triệt tiêu trong cùng hợp đồng. Đối với người mua hợp đồng tương
lai thì phải bán cùng một lượng hợp đồng tương lai tương tự.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
21
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chờ cho tới hạn thanh toán. Lúc này, bên mua sẽ nhận lượng tài sản cơ sở
với giá đã thỏa thuận còn bên bán sẽ thanh lí vị thế bằng việc giao hàng theo giá
thỏa thuận.
5.5. Quyền chọn
Một quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua hoặc
bán một khối lượng nhất định hàng hóa tại một mức giá xác định trong thời hạn
nhất định.
Một hợp đồng quyền chọn cơ bản bao gồm 4 đặc điểm:
- Loại quyền: quyền chọn bán hay quyền chọn mua.

mức chấp nhận rủi ro. Sự cần thiết của đầu tư bằng danh mục thể hiện theo khía
cạnh sau:
Thứ nhất, đầu tư chứng khoán theo danh mục đảm bảo được các yêu cầu về
lợi suất đầu tư. Khi nhà đầu tư tiến hành đầu tư theo danh mục, nhà đầu tư có thể
điều chỉnh danh mục để phù hợp với lợi suất yêu cầu.
Thứ hai, đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp nhà đầu tư đa dạng hóa rủi ro.
Khi đầu tư theo hình thức đơn lẻ, cổ phiếu biến động tốt sẽ mang lại lợi nhuận
cao cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, khi cổ phiếu đó mất giá hoặc doanh nghiệp phát
hành bị phá sản, nhà đầu tư sẽ bị mất lớn. Khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư theo
danh mục, các rủi ro riêng của chứng khoán đã được đa dạng hóa. Vì vậy, nhà
đầu tư xác định được danh mục đầu tư hiệu quả, phù hợp với nhu cầu lợi nhuận
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
23
Chuyên đề tốt nghiệp
của nhà đầu tư.
Thứ ba, với hình thức đầu tư bằng danh mục, các nhà đầu tư có thể đầu tư
vốn của mình vào chứng khoán bằng cách đầu tư gián tiếp. Tức là hình thức đầu
tư thông qua các tổ chức chuyên nghiệp. Theo hình thức này, nhà đầu tư sẽ làm
giảm chi phí giám sát. Nhà đầu tư uỷ thác cho công ty tài chính, quỹ đầu tư. Họ
sẽ không phải bỏ ra quá nhiều chi phí giám sát đối với các chứng khoán. Các tổ
chức được uỷ thác sẽ quản lý danh mục đầu tư. Với khoản phí uỷ thác, công ty
được uỷ thác sẽ quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư.
b. Đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên TTCK nhằm mục đích thu được
nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán. Đó là phần doanh thu từ hoạt
động tài chính của công ty. Khi TTCK ngày càng phát triển và hoàn thiện, đầu tư
chứng khoán là một lĩnh vực mà các tổ chức kinh doanh gia tăng nguồn lợi
nhuận.
Đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp công ty thu được các khoản lợi nhuận dự
tính trong khi vẫn đảm bảo khả năng an toàn hoạt động. Các tổ chức kinh doanh

Ni
Nj
ij
,1
,1
=
=
σ
: ma trận hiệp phương sai.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Vectơ lợi suất các tài sản:










=
N
r
r
r ...
1
.Vectơ lợi suất kì vọng các tài sản:






=
N
P
w
w
w ...
1
Lợi suất của danh mục P:

=
==
N
i
T
iiP
rwrwr
1
Lợi suất kì vọng của danh mục P:

==
rwrwr
T
iiP
.
Phương sai của danh mục P:

2
σσ
là do thị trường quyết định nên các nhà đầu tư chỉ
thay đổi tỉ trọng trong danh mục P.
3. Nguyên lí đa dạng hóa
Quá trình phân tán và tối thiểu hóa rủi ro là một hình thức đa dạng hóa. Theo
đó, các nhà đầu tư nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau để tạo thành
một danh mục đầu tư sao cho tổng rủi ro toàn bộ danh mục sẽ được giới hạn ở
mức nhỏ nhất.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro, ta đã chỉ ra rằng mỗi
một loại chứng khoán đều tiểm ẩn hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống và rủi ro phi
hệ thống. Rủi ro hệ thống là rủi ro của thị trường và ảnh hưởng đến tất cả các
chứng khoán. Rủi ro hệ thống không thể tránh được bằng hình thức đa dạng hóa.
Nguyễn Thị Phương Thuý Toán Tài chính 46
25

Trích đoạn Quản lí bán chủ động Đánh giá hoạt động quản lí danh mục đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status