XẤY DỰNG MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH DANH MỤC ĐẦU TƯ TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH BƯU ĐIỆN - Pdf 75

1
Chuyên đề tốt nghiệp
XẤY DỰNG MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH DANH MỤC ĐẦU TƯ
TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH BƯU ĐIỆN
Trong thực tế, danh mục của PTF vẫn đang hoạt động. Tuy nhiên, danh
mục của Công ty vẫn chưa phải là tối ưu. Để chứng minh điều này, em xin đề
xuất một danh mục được xây dựng trên cơ sở phân tích các chỉ số tài chính
phù hợp với yêu cầu của PTF. Để xác định các trọng số của danh mục, sử
dụng các mô hình toán tài chính là mô hình chỉ số đơn – SIM và mô hình định
giá tài sản vốn – CAPM. Phần cuối chương sẽ là đưa ra các so sánh giữa danh
mục tối ưu được lập và danh mục thực tế của Công ty.
I. MỘT SỐ CHỈ SỐ TÀI CHÍNH DÙNG PHÂN TÍCH CHỨNG
KHOÁN
Trên thực tế, người ta sử dụng một số hệ số sau để đánh giá hiệu quả sinh
lợi của doanh nghiệp như: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ
số lợi nhuận ròng; hệ số thu nhập trên vốn cổ phần; hệ số thu nhập trên đầu tư.
Hệ số lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào
(vật tư, lao động) trong một chu trình sản xuất của doanh nghiệp.
Hệ số tổng lợi nhuận = (Doanh số - Trị giá hàng đã bán tính theo giá
mua)/Doanh số bán
Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao hay thấp, ta đem so
sánh tổng hệ số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng
ngành, nếu hệ số tổng lơi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn,
thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.
Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố đầu
vào trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi / doanh thu
1
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
1
2

2
3
Chuyên đề tốt nghiệp
phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số
P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price) và thu nhập của
mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - PM) và được tính như sau:
P/E = PM / EPS
Trong đó giá trị thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu
đang được mua bán tại thời điểm hiện tại. Thu nhập trên mỗi cổ phiếu EPS là
phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong
năm tài chính gần nhất.
Các hệ số tài chính là nội dung quan trọng trong việc phân tích đầu tư
chứng khoán. Cùng với quá trình phân tích báo cáo tài chính, việc phân tích
và sử dụng các hệ số tài chính là những nội dung quan trọng để định giá cổ
phiếu vào đầu tư chứng khoán. Quá trình phân tích sẽ giúp cho nhà đầu tư
thấy được điều kiện tài chính chung của doanh nghiệp, đó là doanh nghiệp
hiện đang ở trong tình trạng rủi ro mất khả năng thanh toán hay đang làm ăn
tốt và có lợi thế trong kinh doanh khi so sánh với các doanh nghiệp cùng
ngành hoặc các đối thủ cạnh tranh.
Việc sử dụng hệ số tài chính trong phân tích đầu tư vốn trên thị trường
chứng khoán sẽ tạo ra chi phí thấp mà hiệu quả cao hơn, và cũng đúng ngay
cả trên thị trường tiền tệ khi mà các ngân hàng tài trợ vốn cho doanh nghiệp
thông qua cấp tín dụng.
Việc phân tích các hệ số tài chính bao gồm nhóm các hệ số tài chính sau:
1. Nhóm hệ số khả năng thanh toán
Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc vào mức độ dễ dàng chuyển đổi
tài sản thành tiền mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn. Việc quản lý khả năng
thanh toán là rất quan trọng, nó quyết định đến nghĩa vụ trả nợ của công ty.
Trong thực tế, hệ số thanh toán được sử dụng nhiều nhất là hệ số khả
năng thanh toán hiện tại và hệ số khả năng thanh toán nhanh.

kho, hệ số này cho thấy khả năng dùng vốn đầu vào của các hàng hóa luân
chuyển cao, tránh được lưu kho bởi cá mặt hàng kém tính linh hoạt.
4
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
4
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Hệ số hàng lưu kho = Giá trị hàng đã bán tính theo giá mua / Giá trị hàng
hóa lưu kho trung bình.
3. Nhóm hệ số nợ của công ty
Phản ánh tình trạng nợ hiện thời của công ty, có tác động đến nguồn vốn
vay và lãi suất khi đáo hạn. Tình trạng nợ của công ty được thể hiện qua các
hệ số: hệ số nợ, hệ số thu nhập trả lãi định kỳ, hệ số trang trải chung…
Hệ số nợ hay tỷ lệ trên tài sản cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợ
bằng nợ. Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít và ngược
lại hệ số nợ càng cao thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng cao.
Hệ số nợ = Tổng số nợ / Tổng tài sản
Hệ số nợ được phản ánh thông qua hệ số nợ trên vốn cổ phần và hệ số nợ
dài hạn trên tổng tài sản. Hệ số nợ trên vốn cổ phần biểu thị tương quan giữa
nợ dài hạn và vốn cổ phần. Mức cao thấp của hệ số này phụ thuộc vào từng
lĩnh vực kinh tế khác nhau.
Hệ số nợ trên vốn cổ phần = (Nợ dài hạn + Giá trị tài sản đi thuê) / Vốn
cổ phần.
4. Chỉ số P/E
Chỉ số P/E phản ánh mối quan hệ giữa thị giá (giá thị trường cổ phiếu
hiện hành) cổ phiếu với lợi nhuận sau thuế trong một năm của công ty.
Chỉ số này là khá phổ biến như một công cụ tài chính để nhà đầu tư xem
xét mình xem chưng khoán đắt hay rẻ. P/Ecang cao nghĩa là chứng khoán mua
càng cao và ngược lại. mặt khác, nhà đầu tư có thể mua với P/E giá cao để hy
vọng trong tương lai lợi nhuận công ty cao thì P/E lúc đó lại thất như ví dụ

EPS có thể hiểu đơn giản là một chỉ số nhằm đánh giá bản thân Công ty
tạo khả năng sinh lời từ đồng vốn của cổ đông đóng góp. Đây là chỉ số dánh
giá trực tiếp phản ánh hoàn toàn nội tại của Công ty về khả năng tạo ra lợi
nhuận ròng (lợi nhuận có thể trả cho các cổ đông) trên một cổ phần mà cổ
đông góp vốn chứ không từ việc lên hay xuống giá cổ phiếu Công ty trên thị
trường chứng khoán. Chỉ số EPS càng cao thì công ty tạo ra lợi nhuận cổ đông
6
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp
càng lớn và ngược lại. Ví dụ, nếu đạt lợi nhuận 5.000 đồng trên một cổ phần
thì điều đó có nghĩa là Công ty tạo ra lợi nhuận 5% trên cổ đông (giả sử mệnh
giá cổ phần là 100.000 đồng. Như vậy, nếu một Công ty chỉ đạt EPS chỉ 8 –
9% / 1 năm thì chỉ bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng thì bạn có nên mua hay
không. Đó là điều mà bạn cần cân nhắc trước khi quyêt định đầu tư nếu bạn
mua. Khi bạn biết và hy vọng là Công ty trong thời gian tới có thể tăng lợi
nhuận do nhiều lý do như Công ty đang mở rộng thị trường, đưa vào thị
trường sản phẩm mới, nâng cấp bộ máy quản lý đạt hiệu quả hơn… Đây là
quyết định phản ánh thực tế công ty.
6. Chỉ số thu nhập
Chỉ số current Yield (tỷ xuất thu nhập trên thơi giá cổ phần ) là một cộng
cụ giúp nhà đầu tư tự quyết định ch mình lên chọn đầu tư voà doanh nghiệp
nào.
Chỉ số current Yield hay người ta còn ngọi là Yield là chỉ số dùng để
phan ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà dầu tư nhận được từ Công ty với giá cổ
phiếu mà nhà đầu tư mua vào. Đó là tỷ lệ cổ tức mà cổ đông nhạn được trên
giá chứng khoán mà cổ đông mua vào.
Phân tích mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ Công ty và
giá nhà đầu tư mua cổ phiếu chúng ta thấy có hai trường hợp sau:

quyết định đầu tư chính xác.
II. NHỮNG LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH DANH MỤC
ĐẦU TƯ
1. Các lý thuyết cơ bản áp dụng trong việc xác định danh mục đầu tư
1.1. Lý thuyết thị trường hiệu quả - EMH (Efficient Market Hypothesis)
Trong nghiên cứu, các nhà kinh tế nhận thấy rằng: việc quan sát các biến
số kinh tế có thể lý giải và dự đoán được sự phát triển của nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán cũng vậy, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng giá
chứng khoán thay đổi một cách ngẫu nhiên. Giả thiết rằng giá chứng khoán
phản ánh triển vọng của tổ chức phát hành, sự biến đổi ngẫu nhiên của giá
8
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
8
9
Chuyên đề tốt nghiệp
chứng khoán theo tình hình của công ty chính là một bằng chứng của một thị
trường hoạt động tôt, hiệu quả của thị trường. Tuy nhiên, giá chứng khoán
biến động dựa vào các thông tin mới của thị trường, không dự đoán được. Do
đó ta có thể lập luận rằng giá của chứng khoán là một chuỗi ngẫu nhiên. Khi
giá của chứng khoán không thể dự đoán được thì đó là bằng chứng của thị
trường không hiệu quả.
Vậy, thị trường hiệu quả là gì? Thị trường hiệu quả là thị trường mà ở đó
giá của các chứng khoán phản ánh toàn bộ thông tin của thị trường.
Giả thuyết về thị trường hiệu quả bao gồm ba cấp độ:
EMH cấp thấp. Khi giá chứng khoán phản ánh toàn bộ các thông tin
trong quá khư. Thị trường chứng khoán là thị trường phải đảm bảo nguyên tắc
công khai và minh bạch, công bằng. Do đó, các nhà đầu tư tham gia vào thị
trường đều biết mọi thông tin trong quá khứ. Khi đó, các thông tin trên thị
trường đều được mọi nhà đầu tư sử dụng.
EMH cấp trung. Khi giá chứng khoan không những phản ánh toàn bộ

khảo sát, nghiên cứu đối với từng nhà đầu tư. Với các số liệu thống kê được,
các nhà phân tích ước lượng được các hàm hữu dụng của từng nhà đầu tư.
Các nhà phân tích tài chính đưa ra công thức thể hiện mối tương quan
giữa mức độ rủi ro, lợi suất kỳ vọng và hàm hữu dụng của nhà đầu tư. Giá trị
của hàm hữu dụng tăng lên khi lợi suất kỳ vọng của nhà đầu tư tăng lên, đồng
thời mức độ rủi ro tăng làm cho giá trị của hàm hữu dụng giảm. Khi nhà đầu
tư tiến hành lựa chọn đầu tư, sẽ lựa chọn phương án đầu tư nào có cặp lợi
nhuận và rủi ro đem lại giá trị của hàm hữu dùng lớn nhất.
Để ý rằng, trong phương trình hàm hữu dụng trên, đối với các danh mục
đầu tư không có rủi ro thì khi đó, giá trị của hàm hữu dụng chính là giá trị của
lợi suất kỳ vọng (hay ước tính) của nhà đầu tư: U = E ( r )
Trong phân tích để tiến hành đầu tư, giá trị của hàm hữu dụng của danh
mục đầu tư còn gọi là tỷ lệ tương đương chắc chắn (kí hiệu là CE) của danh
mục đầu tư.
10
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
10
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Tỷ lệ tương đương chắc chắn của danh mục đầu tư là mức tỷ suất lợi
nhuận đạt được chắc chắn của một danh mục đầu tư không rủi ro được nhà
đầu tư chấp nhận và được xem xét là có mức độ hấp dẫn tương đương với
danh mục đầu tư có rủi ro.
Trên thực tế, đối với các nhà đầu tư thờ ơ với rủi ro thì họ lựa chọn quyết
định đầu tư dựa trên cơ sở là mức độ lợi nhuận, lợi nhuận càng cao càng tốt
bất cứ mức độ rủi ro như thế nào. Nhưng đa số các nhà đầu tư trên thị trường
là e ngại rủi ro. Do đó, việc xác định danh mục đầu tư đối với các nhà phân
tích là dựa theo quy luật số đông, tức là lập danh mục đầu tư đối với các nhà
đầu tư e ngại rủi ro.
b. Lợi suất và rủi ro của danh mục đầu tư

11
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp
hưởng đến tất cả các chứng khoán trên thị trường. Do vậy, rủi ro hệ thống là
rủi ro không thể tránh được bằng hình thức đa dạng hóa. Ngược lại, rủi ro phi
hệ thống là loại rủi ro bắt nguồn từ chính tổ chức phát hành. Do đó, có thể hạn
chế được bằng cách đa dạng hóa đầu tư. Điều này là do nguyên lý khi hai hay
nhiều chứng khoán tham gia tạo thành một danh mục đầu tư, các chứng khoán
này sẽ tương tác với nhau tạo thành một kết quả chung cho cả danh mục. độ
rủi ro là cao hay thấp là phụ thuộc vào mối tương tác của các chứng khoán với
các chứng khoán khác trong danh mục.
Như vậy, rủi ro có hệ thống là một trong những yếu tố quyết định mức
doanh lợi dự kiến của một tài sản, vì thế chúng ta cần biết cách thức đo mức
độ rủi ro có hệ thống cho các khoản đầu tư khác nhau. Thước đo mà chúng ta
sẽ sử dụng là hệ số Bêta (β). Đây là lý do vì sao khi phân tích rủi ro của từng
cổ phiếu riêng lẻ để đưa vào danh mục đầu tư, nhà đầu tư cần phải quan tâm
nhiều tới rủi ro hệ thống.
Hệ số β cho ta biết mức độ rủi ro có hệ thống của một loại tài sản là bao
nhiêu. Theo định nghĩa này, một tài sản nào đó có β = 0,5 nghĩa là: mức độ rủi
ro có hệ thống của tài sản này bằng một nửa so với mức rủi ro trung bình của
một tài sản. Cách xác định rủi ro hệ thống được xác định dựa vào mô hình
CAPM.
12
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
12
Số lượng chứng khoán
Rủi ro phi hệ thống
Rủi ro hệ thống

Danh mục P có N tài sản với tỷ trọng :
1 2
( , ,..., )
N
w w w w=
Véc tơ lợi suất các tài sản:
1 2
( , ,..., )
N
R r r r=
Lợi suất danh mục :
1
. ( , )
N
p k k
k
R w r R W
=
= =

Với V là ma trận covarian của danh mục P
(quy ước : R,V,W,…là vectơ cột; R’,V’,W’,…là vectơ hàng )
Phương sai của danh mục:
2
1 1
'. .
N N
p i j
i j
w w ij W V W

15
Chuyên đề tốt nghiệp
1 2
( , ) 1r r
ρ
= −
: mối tương quan âm tuyệt đối
1 2
( , ) 1r r
ρ
= +
: mối tương quan dương tuyệt đối
Công thức cho cả danh mục đầu tư :

2
1 2
...
p
p
N
σ
ρ
σ σ σ
=
Hệ số tương quan của cả danh mục P dương thể hiện lợi nhuận của các
chứng khoán có trong danh mục có quan hệ cùng chiều nhau, và hệ số tương
quan dương càng lớn thì các chứng khoán đó càng có dao động giống nhau.
1
p
ρ

V
P
P
B/A
1/A
σp2
E
(
r
p
)
S
16
Chuyên đề tốt nghiệp
chính là hiệu quả của đa dạng hóa đầu tư trong danh mục. Khi hai tài sản có
dao động hoàn toàn giống nhau, các danh mục gồm hai tài sản này không có
hiệu quả đa dạng hóa mà chỉ đơn thuần là sự phân bổ vốn giữa các tài sản có
rủi ro giống nhau.
Người đầu tư càng có mức ngại rủi ro cao thì sẽ càng có xu hướng chọn
các danh mục có rủi ro thấp. tức là lựa chọn danh mục nằm gần MVP- danh
mục có phương sai hay độ lệch chuẩn nhỏ nhất.
2.1.1. Xác định biên hiệu quả
Khi nhà đầu tư mong muốn đạt được mức lợi nhuận mong đợi ở mức rủi
ro thấp nhất. Khi đó nhà đầu tư quyết định đầu tư tại danh mục MVP.
Trong đó:
A = [1]’.V
-1
. [1]
16
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45

=> danh mục cần tìm là :
* * * *
1 2
( , ,..., )
N
P w w w=
Đoạn cong từ S đến MVP chỉ ra rằng nếu ta càng thêm tỷ trọng của tài
sản rủi ro vào danh mục thì lợi suất ước tính của danh mục sẽ tăng thêm trong
khi độ lệch chuẩn giảm đi. Điều này được giải thích bởi hiệu quả của đa dạng
hóa đầu tư. Lợi nhuận của hai tài sản có mối quan hệ ngược chiều nhau nên
khi thêm một tỷ lệ nhỏ tài sản rủi ro vào danh mục là tạo ra rào chắn rủi ro cho
danh mục.
2.1.2. Biên hiệu quả
Có thể thấy rằng không người đầu tư nào muốn đầu tư vào danh mục
nằm trong đoạn S đến MVP vì rõ ràng các danh mục từ MVP trở lên chiếm ưu
thế hơn. Ta gọi đoạn cong từ MVP trở lên là đường cong hiệu quả (efficient
set) hay còn gọi là biên hiệu quả hay biên hiệu dụng của danh mục đầu tư gồm
tài sản rủi ro.
Hiệu quả của đa dạng hóa danh mục thể hiện qua độ cong của đường hiệu
quả. Độ cong càng tăng khi hệ số tương quan càng giảm. Đường hiệu quả
cong nhất khi hệ số tương quan bằng -1.
Trên thực tế, hầu hết các cặp chứng khoán có hệ số tương quan dương,
nghĩa là chúng dao động cùng chiều với nhau. Các danh mục đầu tư được
17
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
17
18
Chuyên đề tốt nghiệp
chọn do chủ quan của từng người đầu tư, mỗi người có cách suy nghĩ khác
nhau, cách lựa chọn khác nhau và có độ e ngại rủi ro khác nhau.

suất ước tính đạt được, diễn tả bằng đường bàng quan. Điểm tiếp xúc giữa
đường bàng quan với đường biên hiệu quả chính là điểm xác định của danh
mục tối ưu của người đầu tư đó.
Hạn chế việc bán khống ảnh hưởng nhiều đến đường cong biên hiệu quả,
làm đường cong này dịch chuyển vào phía trong và trở nên “ lồi hơn” đường
cong biên ban đầu, có nghĩa là với mức rủi ro như trước thì nay chúng ta lại
chỉ có được mức lợi tức thấp hơn. Các cơ quan quản lý chứng khoán, đơn vị
thực hiện nghiệp vụ tự doanh, quản lý danh mục đầu tư và các nhà đầu tư cần
được biết rõ ảnh hưởng của những hạn chế này, trên cơ sở đó cân nhắc để đưa
ra quyết định.
Một lưu ý quan trọng về mặt toán học khi nhà đầu tư lựa chọn danh mục
đầu tư sử dụng phương pháp Markowitz, đó là giả thiết lợi suất của tài sản
phân phối chuẩn. Tuy nhiên, có thể thấy giả thiết này trên thực tế là giả thiết
chặt. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy phần lớn các tài sản có lợi suất
không phân phối chuẩn. Ngoài ra, ta có thể mở rộng bằng cách kết hợp hai
hay nhiều danh mục đầu tư chứng khóan vào một danh mục lớn thay vì chỉ kết
hợp những chứng khoán riêng lẻ với nhau. Ví dụ, kết hợp danh mục đầu tư
các chứng khoán trong nước với danh mục đầu tư các chứng khoán nước
ngoài. Các quy luật của mô hình quản lý danh mục đầu tư đơn vẫn được áp
dụng trong trường hợp danh mục đầu tư kép.
2.2. Mô hình định giá tài sản vốn ( CAPM)
Mô hình định giá tài sản vốn ( CAPM) là cốt lõi của lý thuyết kinh tế tài
chính hiện đại. Harry Markowitz là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết
đầu tư hiện đại vào năm 1952. Mười năm sau, Wiliam Sharpe, John Lintner và
Jan Mossin đã phát triển mô hình CAPM. Mô hình CAPM cho phép dự đoán
mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất kỳ vọng. Mô hình CAPM cung cấp một lãi
suất chuẩn dùng để đánh giá và lựa chọn các phương án đầu tư, giúp phán
19
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
19

Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
20
21
Chuyên đề tốt nghiệp
trường. Giá cả trên thị trường chỉ chịu sự quyết định bởi mối
quan hệ cung cầu.
• Không tồn tại các loại phí giao dịch trên thị trường hay bất kỳ
một sự cản trở nào trong cung và cầu của một loại chứng khoán.
• Trên thị trường có loại chứng khoán không rủi ro. Đồng thời nhà
đầu tư có thể vay với lãi suất đúng bằng lãi suất không rủi ro đó.
Nói một cách khác, lãi suất vay mà lãi suất cho vay bằng nhau và
bằng lãi suất không rủi ro.
Về cơ sở toán học
Giả thiết quan trọng là lợi suất của tài sản có phân phối chuẩn.

2
( , )
i i i
r N r
σ
:

( 1,i N
=
)
Trước khi đi vào nghiên cứu mô hình CAPM, điều trước tiên cần phải đề
cập đến khái niệm danh mục đầu tư thị trường.
2.2.2. Danh mục thị trường ( Market Porfolio)
Một danh mục đầu tư có thể bao gồm tất cả các chứng khoán đang được
giao dịch trên thị trường, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hay bất động sản…

N
i
i
V
w
V
=
=

(
1,i N
=
)
=>
0
M
i
w
>
(
1,i N
=
)
=>
1
1
N
M
i
i

=

Ta có :
1
1 1 1
K
ik
M
i k
i
K N K
i ki
k i k
V
V
w
V V
=
= = =
= =

∑ ∑∑
22
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
22
23
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2.3. Mô hình CAPM
2.2.3.1. Đường thị trường vốn ( The Capital Market Line- CML)
Nếu thị trường tồn tại loại chứng khoán phi rủi ro (với lãi suất

tiếp tuyến với đường
cong hiệu quả Markowitz thể hiện mọi danh mục khả thi có thể tạo ra được từ
sự kết hợp giữa chứng khoán phi rủi ro (tín phiếu kho bạc) với danh mục đầu
tư có rủi ro (danh mục tối ưu Markowitz). Tiếp điểm của chúng được ký hiệu
M là danh mục thị trường, được coi là tối ưu nhất trong số các danh mục tối
ưu.
Phương trình :

M f
p f P
M
r r
r r
σ
σ
 

= +
 ÷
 ÷
 
Trong đó :

M f
r r−
: risk premium of market

M
σ
: market risk


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status