Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là thị trường của lợi nhuận và rủi ro. Muốn
tham gia vào cuộc chơi chứng khoán, bạn phải là người biết chấp nhận rủi ro.
Khi tham gia vào thị trường, bạn luôn kì vọng đạt được lợi nhuận cao. Tuy
nhiên, lợi nhuận luôn đi kèm với rủi ro. Đó là một nguyên lý không thể thay
đổi được. Vì vậy, để tham gia vào thị trường chứng khoán, mối nhà đầu tư
cần phải chuần bị cho mình thông tin, kiến thức, vốn tư bản và khả năng chấp
nhận rủi ro trong đầu tư.
Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường đều mong muốn đạt được mức
lợi nhuận kỳ vọng với một mức rủi ro nhất định. Để xác suất rủi ro xảy ra
thấp nhất, nhà đầu tư phải áp dụng nguyên tắc đó là nguyên tắc đa dạng hóa.
Muốn đạt được điều này, nhà đầu tư phải lập được một danh mục cho riêng
mình. Đa dạng hóa sẽ làm cho nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất.
Khi nhà đầu tư thực hiện đa dạng hóa danh mục đầu tư, họ sẽ lập được một
danh mục có mức lợi nhuận kỳ vọng mong muốn ở mức rủi ro mà nhà đầu tư
có thể chịu đựng.
Trong quá trình tìm hiểu và thực tập tại Công ty Tài chính Bưu Điện, Em
đã tìm hiểu các thông tin, kiến thức cũng như kinh nghiệm đầu tư của Phòng
đầu tư và kinh doanh vốn, tìm hiểu quá trình đầu tư của Phòng đặc biệt là đầu
tư chứng khoán. Sau khi tìm hiểu các thông tin vê đầu tư chứng khoán, em
nhận thấy rằng danh mục đầu tư tại Công ty Tài chính Bưu điện chưa phải là
danh mục tối ưu. Vì vậy, em xin đề xuất một phương pháp xác định danh mục
đầu tư tối ưu với chuyên đề: “Xác định danh mục đầu tư tại Công ty tài
chính Bưu điện”
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề thực tập gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đầu tư chứng khoán và danh mục đầu tư chứng
khoán. Chương này bao gồm các kiến thức tổng quan về chứng khoán, thị
và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người
mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị
trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở
thị trường sơ cấp.
Hiện nay, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán,
tuy nhiên quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp nhất hiện nay đó là: Thị
trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán, trao đổi
các loại chứng khoán.
Chứng khoán được hiểu là giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, cho phép
chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành
hoặc quyền sở hữu.Các quan hệ mua bán trao đổi trên thị trường làm thay đổi
chủ sở hữu của chứng khoán. Vì vậy, thực chất đây là quá trình vận động của
tư bản từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh. TTCK không giống với thị
trường hàng hoá, hàng hoá trên TTCK là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền
sở hữu về tư bản. Loại hàng hoá này cũng có giá trị sử dụng. Do đó, TTCK
thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư, cung và cầu xác định
giá mà ở đó giá chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn vay hay giá
cả của vốn đầu tư. Do đó, TTCK là hình thức phát triển cao của nền sản
suất và lưu thông hàng hoá.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của TTCK là tất yếu
khách quan. Hoạt động trên TTCK có tác động, hiệu ứng trực tiếp tới hiệu
quả đầu tư của các cá nhân, của các doanh nghiệp và hành vi của người tiêu
dùng, và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế.
Đứng trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều
kiện kinh tế, chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,
dựa trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên
thế giới, Việt Nam đã quyết định thành lập thị trường chứng khoán với đặc
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia
thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan
đến chứng khoán.
1.3.1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán -
hàng hoá của thị trường chứng khoán.
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.
1.3.2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị
trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá
nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
- Các nhà đầu tư cá nhân.
- Các nhà đầu tư có tổ chức.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
5
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán.
- Quỹ đầu tư chứng khoán.
- Các trung gian tài chính.
1.3.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước.
- Sở giao dịch chứng khoán.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán.
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị
trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán
phái sinh.
* Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và
mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
* Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và
mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái
phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
* Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi
bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền,
hợp đồng quyền chọn...
2. Các tài sản tài chính trên thị trường chứng khoán
2.1. Chứng khoán
Là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối
với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện
dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các
loại sau đây:
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
- Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán,
hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
2.2. Cổ phiếu
Là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.Việc nắm giữ cổ
phần hay sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Cổ phiếu là giấy chứng nhận về
việc sở hữu cổ phần và được cấp cho cổ đông.
- Cổ phiếu là tài sản có tác dụng giảm biến động lợi tức của danh mục
trong thời kỳ nhất định.
2.7. Quyền chọn mua, quyền chọn bán
Là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền
mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong
khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước.
2.8. Hợp đồng tương lai
Là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc
chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày
xác định trước trong tương lai.
3. Đầu tư chứng khoán với danh mục đầu tư
3.1. Khái niệm danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư chứng khoán là các khoản đầu tư của một cá nhân hoặc
tổ chức vào việc nắm giữ một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa,
đầu tư bất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc các tài sản khác.
Mục đích củc việc đầu tư là giảm thiểu rủi ro bằng việc đa dạng hóa danh
mục đầu tư. Dựa trên cơ sở các tài sản đầu tư, nhà đầu tư lập một danh mục
đầu tư bao gồm các tài sản khác nhau. Trên nguyên tắc là “không bỏ trứng
vào một giỏ”, các nhà đầu tư tạo ra một danh mục có rủi ro thấp nhất, đó là rủi
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
9
Chuyên đề tốt nghiệp
ro của thị trường (rủi ro hệ thống). Khi đó, nhà đầu tư vẫn đạt được ở tại mức
lợi nhuận kỳ vọng. Vì vậy, nhà đầu tư luôn cố gắng tạo ra một danh mục tối
ưu.
3.2. Đặc điểm của danh mục đầu tư chứng khoán
Thực chất, danh mục đầu tư là một tổ hợp các tài sản khác nhau trong
hoạt động đầu tư của nhà đầu tư. Trong danh mục đầu tư, các tài sản đầu tư
biểu hiện sự phân bổ các tài sản đầu tư có trong danh mục. Việc phân bổ tài
sản là việc lựa chọn các tài sản đầu tư nhằm đạt được mức lợi nhuận dài hạn
cao nhất với một mức rủi ro thấp nhất có thể. Tuy nhiên, trong quá trình đầu
Tính chất của các nhà đầu tư khác nhau thì danh mục đầu tư khác nhau.
Đó là danh mục đầu tư cá nhân hay nhà đầu tư có tổ chức. Ví dụ, các nhà đầu
trên thị trường thường tính đến đầu tư với lợi nhuận là hưởng chênh chênh
lệch giá, ít để ý tới mức cổ tức nhận được từ tổ chức phát hành. Với tư cách là
một nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư có tổ chức rất quan tâm tới mức cổ
tức được trả, chiến lược phát triển của các tổ chức phát hành trong dài hạn, từ
việc sở hữu cổ phần của tổ chức phát hành bên cạnh các yếu tố khác.
Mặt khác, các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau, danh mục đầu tư cũng
khác nhau. Các nhà đầu tư trẻ tuổi thường hay đầu tư vào các tài sản có thời
gian đáo hạn dài. Các nhà đầu tư nhiều tuổi thường hay đầu tư vào các tài sản
có thời hạn ngắn.
3.3. . Hoạt động đầu tư chứng khoán bằng cách xác định danh mục đầu
tư
3.3.1. Xác định tài sản đầu tư
Để nhà đầu tư có thể tìm ra được các loại chứng khoán một các có hiệu
quả nhất (tức là mang lại lợi nhuận và sự an toàn về vốn cho nhà đầu tư), các
nhà đầu tư tiến hành đầu tư nhằm trả lời các câu hỏi trước khi đưa ra quyết
định đầu tư như: khi nào là thời điểm thuận lợi để đầu tư, khi nào cần phải rút
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
11
Chuyên đề tốt nghiệp
ra khỏi thị trường, đầu tư vào loại chứng khoán nào để phù hợp với mục tiêu
đề ra...
Tuy nhiên trong lĩnh vực đầu tư hấp dẫn này, dường như không có chỗ
cho những quyết định cảm tính. Muốn thành công, nhà đầu tư phải có kỹ năng
phán đoán, xem xét và phân tích về chứng khoán.
Tuỳ thuộc vào quan điểm của nhà đầu tư, việc lựa chọn chứng khoán và
phân tích chứng khoán cũng có khác nhau. Thông qua tình hình chung của
toàn bộ thị trường, nhà đầu tư chuyên nghiệp có thể tìm ra được những cổ
phiếu “tốt” trên thị trường. Tuy nhiên việc lựa chọn được cổ phiếu tốt không
tìm được các thông tin này trong bản cáo bạch, thông cáo phát hành, trong
dịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định về lựa chọn đầu tư khi các nhà đầu tư có
đủ cơ sở thông tin về khoản đầu tư của mình.
3.3.2. Phân tích tài sản đầu tư
3.3.2.1. Phân tích vĩ mô chứng khoán
- Phân tích tình hình kinh tế chính trị xã hội quốc tế có ảnh hưởng mạnh
mẽ tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của quốc gia, ảnh hưởng trực
tiếp tới hoạt động của thị trường chứng khoán. Đặc biệt trong bối cảnh hiện
nay, yếu tố quốc tế cần được xem xét trong quá trình đầu tư chứng khoán. Các
yếu tố có thể tác động tới quá trình phân tích chứng khoán là mức tăng trưởng
kinh tế, các vấn đề chính trị nhạy cảm, chính sách bảo hộ, chính sách tự do
hoá tài chính tiền tệ…
- Môi trường chính trị xã hội trong nước có ảnh hưởng rất lớn tới thị
trường chứng khoán. Các yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về về chính
phủ, các hoạt động chính trị kinh tế nhiều nước. Thay đổi chính trị làm cho
nhiều quy định và sự kiểm soát của chính phủ trong một số ngành được thắt
chặt trong khi một số ngành lại được nới lỏng, từ đó có những tác động tới kết
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
13
Chuyên đề tốt nghiệp
quả kinh doanh của mỗi ngành, mỗi công ty, rất khó có thể khẳng định việc
thắt chặt hay nới lỏng này có tác động tích cực hay tiêu cực tới nền kinh tế.
- Môi trường pháp luật cũng là yếu tố cơ bản gây tác động tới thị trường
chứng khoán. Các cơ quan chính phủ tác động tới luật và các văn bản duới
luật. Thí dụ luật chống độc quyền thường tác động làm giảm giá chứng khoán
của các công ty bị thuộc đối tượng bị luật điều chỉnh. Chính sách tài chính tiền
tệ trực tiếp gây ra tác động lớn tới thị trường… Do vậy, việc xem xét môi
trường pháp lý cần được xem xét theo các góc độ như: tính đồng bộ của hệ
thống pháp luật, tính khả thi của hệ thống pháp luật, tính hiệu quả của hệ
thống pháp luật, tính quốc tế của hệ thống pháp luật…
Trong phân tích ngành, cần xác định hệ số rủi ro β của ngành, từ đó tính
toán mức sinh lời yêu cầu theo mô hình CAPM.
Đồng thời, phân tích chỉ số P/E của toàn ngành:
- Xem xét mối quan hệ của P/E ngành với P/E của toàn bộ thị trường.
- Xem xét các nhân tố của cơ bản của ngành gây tác động trực tiếp tới P/E
ngành như hệ số trả cổ tức, mức sinh lời yêu cầu và tỷ lệ tăng trưởng cổ tức.
- Ước tính thu nhập trên cổ phiếu EPS hay E (thu nhập) được thực hiện
theo một phương pháp tính như phân tích chu kỳ kinh doanh, phân tích đầu
vào - đầu ra, phân tích mối quan hệ giữa ngành và nền kinh tế tổng thể.
- Tính giá trị cuối kỳ của chỉ số ngành bằng các hệ số P/E cuối kỳ tính
toán được với ước tính thu nhập đầu cổ phiếu. Sau đó so sánh giá trị chỉ số
cuối kỳ với giá trị đầu kỳ để tính lợi suất. Từ đó do sánh lợi suất đạt được với
lợi suất yêu cầu để quyết định đầu tư.
3.3.2.3 Phân tích giá trị công ty
Phân tích công ty bao gồm việc phân tích báo cáo tài chính của công ty
và phân tích rủi ro của công ty.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong phân tích báo cáo tài chính của công ty, nhân tố quan trọng đối với
nhà đầu tư là phân tích phân tích khả năng sinh lợi của tổ chức phát hành, khả
năng thanh toán dài hạn, khả năng thanh khoản và tiềm năng phát triển trong
tương lai. Việc phân tích báo cáo tài chính cần tiến hành đồng bộ theo cả
chiều dọc và chiều ngang. Phân tích báo cáo tài chính theo chiều dọc nghĩa là
tính toán các tỷ lệ của doanh nghiệp và so sánh trong từng thời kỳ để thấy
được thực chất của việc tăng giảm. Phân tích theo chiều ngang là phân tích
cần có sự so sánh giữa doanh nghiệp phân tích với các doanh nghiệp ngang
bằng trong cùng một ngành. Phương tiện dùng để phân tích báo cáo tài chính
của công ty bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo
hoạt động kinh doanh.
3.3.3. Quyết định quy mô đầu tư
Để xác định được lượng vốn đầu tư vào chứng khoán, trước tiên nhà đầu
tư cần xác định được lượng vốn hiện tại của mình. Để tiến hành đầu tư, nhà
đầu tư cần xác định mình thuộc đối tượng nào, nhà đầu tư chủ động hay nhà
đầu tư thụ động. Đây là một việc hết sức cần thiết, quyết định đến toàn bộ
cách thức đầu tư của từng người. Từ đó quyết định đầu tư bao nhiêu vốn vào
cổ phiếu, đầu tư bao nhiêu vào trái phiếu, vào các tài sản tài chính khác…
Điều thứ hai tỷ trọng các chứng khoán trong danh mục đó. Đây là một
quyết định mang tính cá nhân của từng nhà đầu tư, tuỳ theo quan điểm của
từng nhà đầu tư. Một số nhà đầu tư không thích đầu tư quá nhiều vào cổ
phiếu. Hiện nay, đa số các nhà đầu tư cho rằng nên đầu tư 50/50, tức là đầu tư
50% vào cổ phiếu và đầu tư 50% vào trái phiếu. Tuy nhiên, tỷ trọng của danh
mục nên điều chỉnh theo sự biến động của thị trường.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đầu tư, nhà đầu tư nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác
nhau, sự thua lỗ về một loại chứng khoán chỉ có tác động nhỏ tới toàn bộ danh
mục đầu tư. Đó là nguyên tắc đa dạng hoá trong đầu tư. Đa dạng hoá danh
mục đầu tư bao gồm đa dạng hoá tổ chức phát hành và đa dạng hóa lĩnh vực
kinh doanh.
Đa dạng hoá tổ chức phát hành tức là nhà đầu tư quyết định đầu tư bao
nhiêu vào trái phiếu chính phủ, bao nhiêu vào trái phiếu công ty, bao nhiêu
vào cổ phiếu. Điều này phụ thuộc vào quan điểm của từng nhà đầu tư. Chẳng
hạn, nếu nhà đầu tư đầu tư vào danh mục cổ phiếu của 20 nhà phát hành khác
nhau và khi một nhà phát hành chẳng may bị phá sản thì danh mục đầu tư chỉ
bị suy giảm 5%. Mỗi nhà đầu tư sẽ tự đưa ra quyết định của mình dựa vào suy
nghĩ bản thân, tiềm lực tài chính cũng như mức độ rủi ro và họ có thể chịu
đựng.
Bên cạnh việc đa dạng hoá tổ chức phát hành, nhà đầu tư cũng nên đa
cần theo dõi những biến động giá của các chứng khoán trên thị trường và mức
lợi nhuận mong đợi. Từ đó, trong quá trình theo dõi các biến động của danh
mục, nhà đầu tư tiến hành điều chỉnh danh mục cho phù hợp với diễn biến của
thị trường và mục tiêu đã đề ra.
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐẦU TƯ THÔNG QUA DANH
MỤC ĐẦU TƯ
1. Đối với nhà đầu tư trên thị trường
Đối với nhà đầu tư trên thị trường, đầu tư chứng khoán là một hoạt động
đầu tư mang lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên, đầu tư chứng khoán lại hàm chứa
rủi ro cao. Khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư đơn lẻ vào một loại cổ phiếu, rủi ro
rất lớn. Vì vậy, nhà đầu tư cần thiết phải xác định một danh mục đầu tư cho
phù hợp với mức chấp nhận rủi ro của mình do các nhu cầu sau.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất, đầu tư chứng khoán theo danh mục vẫn đảm bảo được các yêu
cầu của nhà đầu tư về lợi suất đầu tư. Khi nhà đầu tư tiến hành đầu tư theo
danh mục, nhà đầu tư có thể điều chỉnh danh mục sao cho phù hợp với lợi suất
yêu cầu.
Thứ hai, đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp nhà đầu tư có thể đa dạng
hóa rủi ro. Khi đầu tư theo hình thức đơn lẻ, cổ phiêu đó biến động tốt sẽ
mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, khi cổ phiếu đó mất giá
hoặc doanh nghiệp phát hành bị phá sản, nhà đầu tư sẽ bị mất lớn, thậm chí bị
mất hết. Vì vậy, rủi ro là rất cao. Khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư theo danh
mục, các rủi ro riêng của danh mục đã được đa dạng hóa. Vì vậy, nhà đầu tư
xác định được danh mục đầu tư hiệu quả, phù hợp với nhu cầu lợi nhuận của
nhà đầu tư.
Thứ ba, hình thức đầu tư thông qua các tổ chức chuyên nghiệp sẽ làm
giảm chi phí giám sát cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư với hình thức uỷ thác cho
công ty tài chính, quỹ đầu tư sẽ không phải bỏ ra quá nhiều chi phí giám sát
phù hợp với yêu cầu về khả năng an toàn vốn nhờ vào việc đa dạng hoá danh
mục đầu tư. Khi đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán, với khả năng quan hệ của
công ty trên thị trường, công ty tài chính có thể đầu tư bằng cách góp vốn vào
công ty cổ phần với tư cách là cổ đông sáng lập của công ty, hoặc cũng có thể
giao dịch trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Từ đó, công ty tài chính có
thể thu được lợi nhuận từ khoản đầu tư này.
Đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp cho Công ty thu được cá khoản lợi
nhuận dự tính mà vẫn đảm bảo khả năng an toàn hoạt động. Ngoài ra, công ty
tài chính cũng có thể tăng doanh thu từ việc thu phí tư vấn đầu tư, quản lý
danh mục đầu tư.
Vì vậy, đầu tư chứng khoán bằng danh mục đầu tư là thật sụ cần thiết cho
các nhà đầu tư có tổ chức.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
21
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH BƯU ĐIỆN
I. QUY ĐỊNH CỦA VNPT VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN ĐỐI
VỚI CÔNG TY TÀI CHÍNH BƯU ĐIỆN
1. Quy định chung trong lĩnh vực hoạt động đầu tư
1.1 Quy định về số vốn đầu tư đối với Công ty tài chính Bưu Điện
Công ty tài Chính Bưu Điện là doanh nghiệp nhà nước hoạch toán độc
lập trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam; là một tổ chức tín
dụng phi ngân hàng, tổ chức và hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng.
Vốn điều lệ của Công ty tài chính Bưu Điện là 70.000.000.000 đồng.
Công ty ra đời góp phần làm đa dạng hoá các loại hình tổ chức tín dụng của
Việt Nam, là tổ chức cung cấp các khoản tín dụng cho các dự án Bưu chính –
Viễn thông, góp phần tạo nên kênh dẫn vốn mới bổ xung cho quá trình hoạt
động Ngân hàng truyền thống của nước ta. Đồng thời, Công ty còn hỗ trợ cho
các đơn vị thành viên trong tập đoàn VNPT, nhằm phát huy thế mạnh, tăng
chính Bưu Điện chỉ được sử dụng nguồn vốn để cho vay, kinh doanh các dịch
vụ được phép, không được sử dụng để góp vốn hoặc mua cổ phần, không
được sử dụng vào các mục đích khác trái với quy định của pháp luật và của
Tập đoàn VNPT.
Vốn nhận uỷ thác đầu tư được hình thành từ việc nhận vốn uỷ thác đầu tư
của Chính Phủ, của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước uỷ thác đầu tư
vào các dự án của Chính phủ, Tập đoàn VNPT, các đơn vị thành viên của
VNPT, các doanh nghiệp khác theo các thoả thuận trong hợp đồng uỷ thác.
Vốn tự bổ sung được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh
của Công ty tài chính Bưu Điện và được sử dụng như vốn điều lệ.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
23
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2 Quy định về lĩnh vực đầu tư
Công ty tài chính Bưu Điện được góp vốn, mua cổ phần của các doanh
nghiệp và các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tổng vốn đầu tư của Công ty tài
chính Bưu Điện không được vượt quá 40% vốn điều lệ (tương đương 28
tỷ đồng) và không quá 11% vốn điều lệ của một doanh nghiệp do pháp
luật quy định.
Công ty tài chính Bưu Điện có thể thực hiện các dự án đầu tư vào các dự
án và các tổ chức kinh doanh trên cơ sở phân tích dự án đảm bảo mức doanh
thu, chi phí, nhuận dự kiến, thuế, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư…
Công ty được tham gia vào thị trường tiền tệ. Tuy nhiên việc tham gia
vào thị trường phải đảm bảo an toàn vốn hoạt động theo quy định của Tổng
công ty và của Ngân hàng Nhà nước.
Công ty được phép làm đại lý phát hành trái phiếu và các giấy tờ có giá
cũng như tư vấn phát hành các loại chứng khoán. Từ việc xây dựng phương
án phát hành chứng khoán, xây dựng các quy chế phát hành chứng khoán cho
doanh nghiệp, quy trình, hồ sơ xin phép phát hành và xây dựng phương thức
bán đấu giá chứng khoán.
đầu tư chứng khoán, Công ty Tài chính Bưu Điện phải tính đến tỷ lệ an toàn
của nguồn vốn đầu tư. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, không
những Công ty chỉ sử dụng nguồn vốn của mình mà còn nguồn vốn uỷ thác
của các tổ chức cá nhân trong và ngoài ngành Bưu chính Viễn thông. Vì vậy,
đòi hỏi Công ty Tài chính Bưu Điện phải thực hiện đầu tư một cách thận
trọng.
Công ty tài chính Bưu Điện được góp vốn, mua cổ phần của các doanh
nghiệp và các tổ chức tín dụng. Tổng vốn đầu tư của Công ty tài chính Bưu
Điện không được vượt quá 40% vốn điều lệ và không quá 11% vốn điều lệ
của một doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Liên Toán tài chính 45
25