Đặt vấn đề
Môi trờng nói chung và ô nhiễm môi trờng nói riêng hiện đang là vấn đề
đợc quan tâm trên toàn thế giới. Việc khắc phục suy thoái môi trờng, cải tạo
môi trờng đang ô nhiễm thờng đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn và thờng đợc đầu
t bởi Ngân sách Nhà nớc hoặc nguồn vốn vay nớc ngoài.
Việc cải thiện môi trờng một khu vực ô nhiễm đợc xem xét theo nguyên
tắc ngời gây ô nhiễm phải trả tiền, những chủ thể gây ô nhiễm khu vực phải
có trách nhiệm chi phí cho thiệt hại môi trờng do họ gây ra. Hiện nay đã có rất
nhiều các nhà máy thờng xuyên phải đóng phí về nớc thải, rác thải...
Tuy nhiên ngời ta thờng không xét tới khía cạnh khi khu vực ô nhiễm đợc cải
tạo sẽ có khá nhiều ngời đợc hởng lợi và họ sẵn sàng trả một khoản tiền nhất
định để đóng góp cho việc cải tạo. Vì vậy việc tính tới thu mức phí đóng góp cải
thiện môi trờng của những ngời đợc hởng lợi trực tiếp từ việc cải thiện môi tr-
ờng là cần thiết, giúp giảm bớt gánh nặng ngân sách của Nhà nớc.
Trờng hợp đề tài nghiên cứu tập trung vào việc cải thiện môi trờng sông
Tô Lịch (nằm trong Dự án cải tạo hệ thống thoát nớc Hà Nội). Sông Tô Lịch ô
nhiễm chủ yếu do 3 nguồn: nớc thải sinh hoạt của dân c, nớc thải bệnh viện và
nớc thải của các nhà máy. Nh vậy, theo nguyên tắc ngời gây ô nhiễm phải trả
tiền, dân c, nhà máy và bệnh viện là ba chủ thể có trách nhiệm phải chi phí cho
thiệt hại môi trờng do họ gây ra. Nhng nếu nhìn công việc cải tạo sông Tô Lịch
theo nguyên tắc ngời đợc hởng lợi phải trả tiền, thì việc chỉ thu qua phí nớc
thải là cha đầy đủ. Khi sông đợc cải tạo, thành phố Hà Nội sẽ thoát khỏi tình
trạng ngập úng hàng năm đặc biệt những ngời đợc hởng lợi trực tiếp nhiều nhất
là bộ phận dân c sống hai bên bờ sông Tô Lịch bởi cải tạo sông cũng có nghĩa
là môi trờng sống của họ đợc cải thiện.
Nếu Nhà nớc cải thiện môi trờng sông Tô Lịch chỉ bằng nguồn vốn cải
tạo đầu t từ chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hiệu quả trong quá trình quản
lí và sử dụng do sự xuất hiện của một số ngời ăn theo, chủ yếu là bộ phận dân
c ở hai bên sông. Vì vậy, sự kết hợp giữa vốn của Nhà nớc, nguồn thu từ phí nớc
thải cùng với nguồn vốn huy động từ dân c hai bên sông để cải tạo sông Tô Lịch
là phơng án có tính khả thi và bền vững.
môi trờng sông Tô Lịch. Kết hợp sử dụng phơng pháp CVM với các lý thuyết
kinh tế môi trờng khác để tìm ra phơng pháp phù hợp cho việc đánh giá lợi ích
của ngời dân khi đợc hởng hàng hoá, dịch vụ công cộng.
Kết cấu đề tài:
Đề tài có kết cấu gồm 3 chơng
Chơng I: Cơ sở lý luận xác định phí bảo vệ môi trờng.
Chơng II: Hiện trạng ô nhiễm nớc và Dự án cải tạo hệ thống thoát nớc Hà
Nội.
Chơng III: xác định mức phí từ dân cho việc cải tạo sông Tô Lịch
2
Chơng I
Cơ sở lý luận xác định phí bảo vệ môi trờng
1.1. Khái niệm và các nguyên tắc trong xác định mức phí bảo vệ môi trờng
1.1.1.Khái niệm
Pháp lệnh về phí và lệ phí của Uỷ Ban Thờng Vụ Quốc hội khoá 10 qui
định: Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi đợc một tổ chức, cá
nhân khác cung cấp dịch vụ đợc quy định trong Danh mục phí.
Danh mục phí thuộc lĩnh vực môi trờng đợc qui định tại Mục A, Khoản 10
pháp lệnh gồm 11 khoản trong đó có các loại phí liên quan tới môi trờng đặc
biệt là phí bảo vệ môi trờng. Phí bảo vệ môi trờng đợc Nghị định số
57/2002/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí
qui định thành 6 loại nh sau:
- Phí bảo vệ môi trờng đối với nớc thải.
- Phí bảo vệ môi trờng đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá
và các loại nhiên liệu đốt khác.
- Phí bảo vệ môi trờng đối với chất thải rắn.
- Phí bảo vệ môi trờng về tiếng ồn.
- Phí bảo vệ môi trờng đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí bảo vệ môi tr-
ờng đối với khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản khác.
Nh vậy phí nói chung, phí bảo vệ môi trờng nói riêng đợc hiểu là một
thể do các cá nhân muốn bảo vệ môi trờng và những cá nhân không phải trả cho
việc thải ra các chất gây ô nhiễm nhng khi môi trờng đợc cải thiện họ là những
ngời đợc hởng lợi cần phải đóng góp. Tuy nhiên, số tiền này không trực tiếp do
ngời hởng lợi tự giác trả mà phải có một chính sách do Nhà nớc ban hành qua
thuế hoặc phí buộc những ngời hởng lợi phải đóng góp nên nguyên tắc BPP chỉ
tạo ra sự khuyến khích đối với việc bảo vệ môi trờng một cách gián tiếp.
c. Nguyên tắc "Đôi bên cùng có lợi"
Đối với các dự án đầu t cho bảo vệ môi trờng, mang lại hiệu quả kinh tế
cao và có tính bền vững thì vận dụng nguyên tắc này là thích hợp. Ví dụ nh huy
động vốn đầu t cho dự án bảo vệ rừng ngập mặn, không chỉ quốc gia duy trì vốn
rừng bảo vệ bờ biển, đa dạng sinh học, góp phần cải thiện khí hậu toàn cầu
nóng lên, mà cộng đồng dân c địa phơng cũng đợc hởng lợi nguồn hải sản có
tính bền vững và những sinh khối khác có từ hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nh
vậy nếu có sự kết hợp nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, vốn từ ngân sách của
chính phủ và vốn của cộng đồng dân c địa phơng thì hiệu quả mà dự án mang
lại sẽ rất lớn. Đây chính là thể hiện một nguyên lý thờng đợc áp dụng trong hoạt
động bảo vệ môi trờng là nguyên lý cả hai cùng thắng ("Win - Win Principle").
1.2. Lý luận chung về hàng hoá công cộng
1.2.1. Hàng hoá công cộng
Hàng hóa công cộng có hai loại: hàng hóa công cộng thuần tuý và hàng
hoá công cộng không thuần tuý.
Hàng hóa công cộng thuần tuý có hai đặc tính quan trọng. Hàng hoá
công cộng mang tính không loại trừ và có chi phí sản xuất cận biên bằng không.
Hàng hoà có đầy đủ hai đặc tính này đợc gọi là hàng hoá công cộng.
a. Tính không loại trừ của hàng hoá công cộng
Tính không loại trừ đợc thể hiện khi có một loại hàng hóa dịch vụ mà tất
cả mọi ngời có nhu cầu tiêu dùng đều đợc hởng loại hàng hoá, dịch vụ đó và
khó có thể loại trừ họ ra khỏi việc hởng lợi ích của dịch vụ đó.
Ví dụ đối với chơng trình sức khoẻ quốc gia (tiêm chủng chống bại liệt,
uốn ván...), không thể loại trừ bất kể ai không đợc hởng lợi ích từ chơng trình
d. Vấn đề ng ời ăn theo trong hàng hoá công cộng
Ngời ăn theo là ngời tìm cách hởng thụ lợi ích của một hàng hoá công
cộng mà không đóng góp chi phí để trang trải số hàng hoá đuợc cung cấp. Vấn
đề ngời ăn theo xuất phát từ những ngời đợc khuyến khích phải hởng thụ
những lợi ích do ngời khác trả tiền còn bản thân họ không trả tiền. Ăn theo có
thể là một chiến lợc của bất kỳ cá nhân nào suy nghĩ rằng không có sự trừng
phạt cho việc đó và chỉ có một số ít cá nhân lựa chọn chiến lợc này nh họ. Nếu
mọi cá nhân trong cộng đồng đều lựa chọn chiến lợc này thì sẽ không có sự sản
xuất hàng hoá công cộng.
1.2.2. Đờng cầu về hàng hoá công cộng.
Trong thực tế các cá nhân không mua các hàng hoá công cộng, tuy nhiên
chúng ta có thể hỏi xem họ có thể cần bao nhiêu nếu nh họ phải trả thêm tiền
bao nhiêu đó cho mỗi đơn vị hàng hoá công cộng mà họ có thể dùng thêm. Đây
không phải là một câu hỏi hoàn toàn mang tính giả định vì khi chi tiêu vào hàng
hoá công cộng tăng lên thì thuế cá nhân cũng tăng lên. Chúng ta gọi khoản trả
thêm này của cá nhân cho mỗi đơn vị hàng hoá công cộng thêm là giá thuế của
anh ta. Bằng cách tăng hoặc giảm giá thuế chúng ta có thể vẽ đợc đờng cầu
5
hàng hoá công cộng. Chúng ta sử dụng cách này để vẽ các đờng cầu t nhân của
hàng hoá công cộng.
Cộng các đờng cầu này theo chiều dọc để có đợc đờng cầu xã hội (đờng
cầu thị trờng). Cộng theo chiều dọc là hợp lý bởi vì hàng hoá công cộng thuần
tuý cần cung cấp cho các cá nhân với cùng một lợng nh nhau. Chia theo khẩu
phần là không thể thực hiện đợc và cũng là không mong muốn, bởi vì sử dụng
hàng hoá công cộng của một cá nhân không làm giảm sự hởng thụ của bất cứ
ngời nào.
Đờng cầu có thể coi nh đờng sẵn sàng chi trả tiền cận biên Tức là, tại
mỗi mức sản lợng hàng hoá công cộng, đờng đó đều cho biết cá nhân sẽ sẵn
sàng trả bao nhiêu để có thêm một đơn vị hàng hoá công cộng. Do đó, tổng số
theo chiều dọc của các đờng cầu là đúng bằng tổng của sự sẵn sàng trả tiền cận
Giá trị sử dụng trực tiếp: thực chất liên quan đến giá trị đầu ra của sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ môi trờng, cụ thể đó là những nguồn tài nguyên thiên
nhiên có giá trị trên thị trờng. Đối với một khu rừng, giá trị sử dụng trực tiếp là
gỗ và động vật trong rừng.
Giá trị sử dụng gián tiếp: thông thờng liên quan đến những chức năng của
môi trờng trong việc hậu thuẫn các hoạt động kinh tế xã hội và tạo ra ngăn chặn
những thiệt hại môi trờng, ví dụ nh rừng có khả năng chống xói mòn, kiểm soát
lũ lụt.
Giá trị không sử dụng: chủ yếu bao gồm những giá trị tồn tại và những
giá trị tuỳ thuộc. Giá trị không sử dụng rất phức tạp cả về tính toán và nhận
thức, nó thể hiện giá trị phi phơng tiện nằm trong bản chất của sinh vật nhng
không liên quan đến việc sử dụng thực tế, thậm chí không liên quan đến việc
lựa chọn sinh vật này. Thay vào đó, giá trị này đợc coi nh những yếu tố phản
ánh sự lựa chọn của con ngời, nghĩa là những giá trị này nằm trong nhận thức
của con ngời nhiều hơn. Giá trị tồn tại của một khu rừng có thể là tính đa dạng
sing học của rừng. Ví dụ nh một loài cây ở hiện tại cha có giá trị nhng trong t-
ơng lai khi khoa học phát triển thì loài cây đó nếu đợc phát hiện nh một loại
thuốc hoặc có giá trị khác, đó chính là một giá trị tồn tại của khu rừng.
Trong lý thuyết kinh tế môi trờng có 2 loại phơng pháp chính để đánh giá
những giá trị kinh tế của một loại hàng hoá và lợng hoá giá trị đó thành tiền. Đó
là phơng pháp sử dụng đờng cầu và phơng pháp không sử dụng đờng cầu.
Trong đó phơng pháp Đánh giá ngẫu nhiên là phơng pháp có sử dụng đờng cầu.
1.3.2. Phơng pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
Phơng pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phơng pháp đánh giá trị kinh
tế của một tài sản môi trờng thông qua việc điều tra, phỏng vấn ngẫu nhiên các
đối tợng liên quan môi trờng đó. Phơng pháp CVM bỏ qua nhu cầu tham khảo
giá trị thị trờng của sản phẩm môi trờng. Mặc dù có rất nhiều biến tố của kỹ
thuật này, phơng cách thờng đợc áp dụng nhất là phỏng vấn các gia đình hoặc
tại nhà họ và hỏi cái giá sẵn lòng trả (WTP) của họ cho việc bảo vệ môi trờng.
Sau đó các nhà phân tích có thể tính toán giá trị WTP trung bình của những ng-
toàn bộ hệ thống các con sông) thì số tiền đợc phát biểu là nh nhau vì trong
cách phân bố thông thờng việc chi tiêu của họ: đầu tiên chia thu nhập khả dụng
của họ thành nhiều khoản ngân sách (nhà ở, thực phẩm, xe hơi, giải trí) sau đó
chia tiếp vào các khoản mục thực sự phải mua. Vì thế, đối với giải trí bớc đầu
xác định tổng ngân sách mà mỗi cá nhân dành cho giải trí và sau đó chia tiếp
thành số tiền họ sẵn lòng chi tiêu cho mỗi nơi họ muốn viếng thăm.
Một phơng pháp giải quyết vấn đề này là lần đầu tiên hỏi họ để biết tổng
ngân sách dành cho giải trí và kế đó là WTP của họ đối với tài sản môi trờng
đang xem xét, nhắc nhở họ về ngân sách giải trí có hạn của họ và cho rằng số
tiền mà họ dành cho tài sản này không thể chi tiêu cho việc khác.
Một phơng pháp thứ hai là giới hạn việc sử dụng CVM trong việc đánh
giá một nhóm lớn của hàng hoá môi trờng, việc giới hạn này nếu cần, sẽ làm
hạn chế đáng kể việc áp dụng CVM ở quy mô rộng lớn và chính nó có thể tạo ra
những trở ngại nhiều hơn đối với khă năng của ngời trả lời để hiểu nhóm lớn
hàng hoá nh vậy
* Thiên lệch theo phơng tiện
Khi hỏi một câu về WTP các nhà phân tích phải xác định việc đóng góp
theo con đờng nào (phơng tiện đóng góp thông qua hình thức bắt buộc nh thuế,
phí hay hình thức tự nguyện qua các hoạt động từ thiện). Những ngời đợc hỏi
có thể thay đổi WTP của họ tuỳ theo phơng tiện đóng góp họ chọn. Mặc dù ng-
ời dân thờng không thích đóng thuế, nhng họ lại cảm thấy rằng cách này đảm
bảo hơn cho việc bảo vệ môi trờng so với khả năng sử dụng các quỹ từ thiện.
* Thiên lệch điểm khởi đầu
8
Nếu nghiên cứu ban đầu đã thử gợi ý cho những ngời trả lời bằng cách đề
nghị một số tiền khởi đầu sau đó tăng lên hay giảm đi số tiền này dựa theo ngời
trả lời đồng ý hay từ chối số tiền đó. Tuy nhiên, ngời ta thấy rằng sự lựa chọn
mức tiền ban đầu ảnh hởng đến số tiền WTP sau cùng của ngời trả lời.
b. Cơ sở xác định mức phí theo Tổng lợi ích tính từ WTP.
Cơ sở xác định mức phí hàng năm để cải thiện chất lợng nớc sông là
9
WTP là 1 số liệu quan trọng khi sử dụng phơng pháp CVM để đành giá
hàng hoá môi trờng và đợc thu thập qua quá trình phỏng vấn phát phiếu điều tra.
1.3.3. Kinh nghiệm áp dụng phơng pháp CVM
a.Nội dung
Sông Monongahela là con sông chính chảy qua Pennyslvania, Hoa Kỳ.
Các nhà phân tích đã hỏi một số hộ tiêu biểu ở khu vực này là họ sẵn sàng trả
thêm bao nhiêu thuế để duy trì hoặc nâng cao chất lợng nớc sông. Các nhà phân
tích đã thực hiện nhiều biến thể cho khảo sát CVM. Trong một biến thể các hộ
đợc đa ba tình huống chất lợng nớc sông và đợc hỏi đơn giản là họ sẵn lòng trả
bao nhiêu cho mỗi trờng hợp.
* Tình huống 1: Giữ nguyên chất lợng nớc sông (đủ thích hợp cho việc
bơi thuyền hơn là để cho nó giảm tới mức không thích hợp cho bơi thuyền)
* Tình huống 2: Nâng cao chất lợng nớc sông từ mức có thể bơi
thuyền đến mức có thể câu cá đợc.
* Tình huống 3: Nâng cao chất lợng nớc sông hơn nữa từ mức có thể bơi
thuyền đến mức có thể tắm đợc.
Trong số những hộ đợc khảo sát vài hộ đã sử dụng con sông để giải trí
trong khi những hộ khác thì không. Vì thế các nhà phân tích xét xem ngời sử
dụng sẵn sàng trả bao nhiêu so với ngời không sử dụng. Kết quả cho toàn bộ số
hộ đợc phỏng vấn cũng đợc tính toán. Bảng trên trình bày số tiền sẵn lòng trả
của ngời sử dụng, ngời không sử dụng, và toàn bộ mẫu cho mỗi tình huống thay
đổi chất lợng nớc sông.
Bảng 1: Giá sẵn lòng trả (WTP) cho các tình huống chất lợng nớc sông
Chất lợng nớc WTP trung bình
toàn thể mẫu
WTP trung bình
của nhóm sử dụng
WTP trung bình của
nhóm không sử dụng
17.6
12.4
1 2 3 Chất lợng nớc
Hình 2: Đờng cầu cho chất lợng nớc
b. Nhận xét
Từ kinh nghiệm thực hiện tại Mỹ có thể rút ra một số nhận xét và cũng là
bài học có thể áp dụng vào Việt Nam. Các nhà phân tích đã thực hiện phơng
pháp CVM thu đợc số liệu WTP sử dụng vào 2 mục đích.
Các WTP đợc tính toán và phân chia thành 3 loại: WTP trung bình toàn thể
mẫu, WTP trung bình của nhóm sử dụng và WTP trung bình của nhóm không
sử dụng. Từ đó họ có thể phân tích đợc sở thích, nhu cầu sử dụng dòng sông
theo các mục đích khác nhau của nhóm ngời có nghĩ tới việc sử dụng sông làm
phơng tiện giải trí. Đồng thời, phân tích đợc mức độ quan tâm tới dòng sông,
quan tâm tới cải thiện môi trờng sông của nhóm ngời không có nhu cầu sử dụng
sông.
Dựa vào WTP trung bình toàn thể mẫu, các nhà phân tích cho thấy mức độ
quan tâm của ngời dân tới từng chất lợng nớc sông thay đổi nh thế nào và qua
đó dựng đợc đờng cầu chất lợng nớc sông.
Nh vậy có thể sử dụng số liệu WTP theo nhiều mục đích tùy thuộc vào nhà
phân tích, việc phân loại WTP cho thấy cần quan tâm tới nhiều yếu tố ảnh hởng
tới WTP (ví dụ nh ngời dân có ý định sử dụng dòng sông vào mục đích giải trí
hay không sẽ tác động tới mức WTP hộ trả lời).
11
1.4. Xử lý kỹ thuật cho tính toán.
1.4.1. Cơ sở toán học xây dựng mô hình xác định phí
a. Mô hình đờng cầu
Mô hình đờng cầu đợc xây dựng nh sau: P
i
= a + b Q
i
* Hệ số chiết khấu của dự án: đợc sử dụng trong phân tích kinh tế của dự
án. Hệ số chiết khấu càng lớn thì thời gian chiết khấu của dự án sẽ càng nhỏ bởi
nó làm giảm giá trị hiện tại ròng của dự án.
Chiết khấu là một cơ chế mà nhờ đó ta có thể so sánh chi phí và lợi ích ở
các thời điểm khác nhau trên trục thời gian. Trong sử dụng chiết khấu cần đảm
bảo hai điều kiện sau:
Một số biến số đa vào tính chiết khấu (chi phí lợi ích) phải đợc đa
về cùng một đơn vị giá trị.
Giá trị một đơn vị chi phí hoặc lợi ích hiện tại lớn hơn một đơn vị lợi ích
hoặc chi phí trong tơng lai.
* Giá trị tơng lai (FV) của khoản tiền phát sinh đều đặn hàng năm
Giả sử các khoản tiền phát sinh vào đầu n thời đoạn của thời kỳ phân tích
là một số không đổi A thì tổng của chúng theo mặt bằng thời gian tơng lai (cuối
thời kỳ phân tích) theo công thức sau:
FV = A
1
*(1+r)
n
+ A
2
*(1+r)
n-1
+ +
A
n
*(1+r)
1
= A* (1+r)
n
nhiên nhỏ ( 0,003%) và dốc theo hớng Đông Bắc - Tây Nam. Khu vực phía Bắc
và Tây Bắc có độ cao trên 7m. Khu vực trung tâm thành phố có độ cao trung
13
bình từ 6m đến 7m, khu vực phía Nam thành phố là vùng trũng có độ cao từ
4,5m đến 5m và đây là khu vực thờng xuyên xảy ra ngập úng khi có ma lớn kéo
dài, vùng cao nhất có cốt là +10m. Do địa hình tơng đối bằng phẳng nên gây
khó khăn cho việc thoát nớc.
Hà Nội có 4 sông thoát nớc chính là : sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét,
sông Kim Ngu với chiều dài là 38,9 km và các mơng đất có tổng chiều dài là 38
km, 18 hồ với tổng diện tích là 660 ha, lớn nhất là Hồ Tây có diện tích là 516
ha.
Hệ thống thoát nớc Hà Nội là hệ thống cống chung với tổng chiều dài đ-
ờng cống thoát nớc là 170km trên tổng số 220 km đờng và nh vậy là có tới hơn
50 km đờng không có hệ thống thoát nớc.
Sông Tô Lịch với chiều dài 14,4km, là 1 trong 4 con sông thoát nớc chính
ở Hà Nội , là sông chính tiếp nhận nớc thải sinh hoạt, công nghiệp, bệnh viện
trong địa bàn Thủ đô. Nhng hiện nay con sông này đang bị ô nhiễm nặng. Sự
quá tải rác thải là nguyên nhân chính gây ra ngăn cản dòng chảy, làm lòng sông
bị thu hẹp đáng kể, sinh thái dới nớc nghèo đi, số lợng và chất lợng các loài
thuỷ sinh vật giảm rõ rệt. Do đó, việc đánh giá thực trạng ô nhiễm sông Tô Lịch
do các hoạt động công nghiệp, sinh hoạt gây ra đã trở thành vấn đề cấp bách,
đặc biệt khi Hà Nội đang phát triển thành một thủ đô văn minh, hiện đạị. Nguồn
nớc sông Tô Lịch bị ô nhiễm trầm trọng dẫn đến tình trạng ảnh hởng tới đời
sống của dân c hai bên bờ.
Bảng 3 : Tình trạng ô nhiễm sông Tô Lịch năm 1999- 2000
TT Chỉ tiêu Đơn vị
S. Tô Lịch (Cầu Mới) TCVN 5942-1995B
1999 2000
1 DO mg/l 1,78 0,4 >=2
2 BOD
-N (mg/l) 13,7 6,5 4,3 5,5
NO
3
-N (mg/l) 2,1 1,5 1,5 0,9
Độ đục
24 46 60 53
SS (mg/l)
16 38 49 52
Cha lọc
320 288
Đã lọc 169 119
14
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trờng Hà Nội năm 2002-Sở Khoa học công
nghệ môi trờng Hà Nội
Từ bảng 4 ta nhận thấy các hồ bị ô nhiễm từ nhẹ đến nặng do các loại n-
ớc thải sinh hoạt, nhà máy, bệnh viện... đổ vào.
Tình trạng ô nhiễm của môi trờng nớc do một số nguyên nhân chính sau
* Hệ thống thoát nớc bị quá tải do mức độ tăng trởng nhanh của đô thị,
hơn nữa hệ thống này đã quá cũ mà không đợc cải tạo, bảo dỡng thờng xuyên
do điều kiện kinh phí hạn hẹp.
* Dòng chảy ở các sông, mơng ở một vài nơi bị thu hẹp do sự lấn chiếm
trái phép của dân c xung quanh đó.
* Các nguồn nớc bị ô nhiễm nặng do nớc thải sinh hoạt và nớc thải công
nghiệp, bệnh viện đổ trực tiếp vào mà cha qua xử lý sơ bộ.
* Ngoài ra ý thức của ngời dân cha cao nên các sông, mơng, hồ, ao bị
dân sống quanh vùng đổ đầy rác và các loại phế thải.
Do hệ thống thoát nớc nhiều nơi đã cũ cho nên về mùa ma các trận ngập
lụt thờng xuyên xảy ra, ngập lụt thờng kèm theo những vấn đề nghiêm trọng
không chỉ với tài sản của nhân dân mà còn ảnh hởng tới sức khoẻ do trong khi
ngập lụt có thể có dịch bệnh do nớc thải gây nên. Nớc ma có thể mang hàm l-
Các chỉ
tiêu
(mg/l)
Cống Bởi Cầu Mới Cầu Dậu Cầu Bơu
Mùa
ma
Mùa
khô
Mùa
ma
Mùa
khô
Mùa
ma
Mùa
khô
Mùa
ma
Mùa
khô
Độ pH 8,5 8,8 7,8 8,1 7,7 8,09 8,14 8,6
BOD
5
155 18,88 23,7 33,6 26,8 45,1 21 29,8
COD 31,2 34 44,7 57,6 57,9 87,3 41,5 51
DO 132 2,6 0,67 1,5 0,708 1,2 1,1 1,7
SS 28 37 29 35 38 39 26 66
Pb 0,15 0,15 0,125 0,15 0,22 0,29 0,155 0,21
CN
-
toàn sông khoảng nhỏ hơn 1 mg/l.
- Hàm lợng các chất hữu cơ NO
3
đều vợt quá tiêu chuẩn, sông ở tình
trạng phì dinh dỡng.
- Hàm lợng các kim loại nặng, độc hại lên rất cao Pb (0,12 0,15 mg/l)
Cr
6+
(0,1 0,15 mg/l) hợp chất có chứa Xianua (CN-) từ 0,2 0,25 mg/l cá
biệt tại cầu Dậu là 0,3 mg//l.
16
- Các kim loại khác nh : Fe, Zn, Mn, Sn .đã xuất hiện trong nớc sông.
- Lợng dầu mỡ trong sông rất cao từ : 3,9 5,2 mg/l, tại cầu Dậu lên tới
5,7 mg/l, váng dầu có thể tìm thấy dọc sông.
- Lợng Coliform Fe, Fs lên rất cao, tổng lợng Coliform từ 10.000
20.000 MPN/100 ml .
- Nớc sông có màu xanh đen, mùi hơi đặc biệtvào những ngày nắng
nóng, rau bèo hai bên bờ sông ngăn cản dòng chảy.
* Về mùa ma nớc sông chảy mạnh hơn, lu tốc dòng chẩy tăng do ảnh h-
ởng của nớc ma đã pha loãng nớc thải nên chất lợng nớc sông Tô Lịch đợc cải
thiện nhiều.
Tuy nhiên kết quả phân tích cho thấy dù thậm chí đã đợc pha loãng hơn
nhng nớc sông vẫn ở tình trạng xấp xỉ hoặc cao hơn chút ít so với tiêu chuẩn
cho phép và một số chỉ tiêu vẫn cao hơn nhiều nh :
- Các chất dầu mỡ : 4,5 5 mg/l
- Hàm lợng COD : 30 45 mg/l; hàm lợng BOD: 20 25 mg/l
- Chất lơ lửng SS : 120 mg/l
Để thấy rõ hơn ta đi vào xem xét đánh giá mức độ ô nhiễm cụ thể một
nguồn thải và điển hình là khu công nghiệp Thợng Đình, khu này nằm xen kẽ
trong khu dân c đông đúc, khâu xử lý chất thải gần nh không có.Căn cứ vào kết
17
nguồn này là những nguồn nớc chính của c dân trong khu vực. Sự ô nhiễm
nguồn nớc ngầm ở đây ảnh hởng tới nguồn cung cấp nớc sinh hoạt cho nhân
dân làm cho sức khoẻ của nhân dân bị đe dọa.
Bảng 6: Thành phần tính chất nớc thải ở cống xả của khu vực Thợng
Đình chảy ra sông Tô Lịch
TT Các chỉ tiêu Cao xà lá Đình Vòng
Bóng đèn
phích nớc
Nhà máy
nớc
1 Lu lợng (m3/ngd) 9000 4700 500 7000
2 Nhiệt độ nớc thải (
0
C) 22 - 27 22 - 26 25 - 30 22 - 27
3 Độ pH 7,4 7,6 7,4 7,8 6,8 7,2 7 7,8
4 Cặn lơ lửng (mg/l) 60 450 60 125 120
180
120
300
5 ôxy hoà tan (mg/l) 2,2 3,3 1,5 3,5 4 7,5 1,5 - 5
6 Độ ôxy hoá KmnO
4
(mg/l) 65 750 8 1,5 7 12
7 COD (mg/l) 800 2080 80 290 150
180
175
290
8 BOD5 (mg/l) 30 155 15 60 50 100 15 72
9 NH
2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực sông Tô Lịch
Theo số liệu của Dự án điều tra và xây dựng phơng án xử lý ô nhiễm môi
trờng hệ thống sông Tô Lịch, tình hình kinh tế xã hội khu vực ven sông Tô Lịch
bao gồm một số đặc điểm:
2.2.1. Thu nhập của các gia đình còn ở mức thấp
18
Số gia đình có thu nhập từ 1 triệu đồng trở lên đã tăng hơn. Trong tổng số
các phiếu điều tra (700 phiếu) cho thấy:
45% số hộ có thu nhập < 300.000 đồng/tháng.
40% số hộ có thu nhập từ 300.000 đồng/tháng đến 700.000 đồng/tháng.
15% số hộ có thu nhập từ 1 triệu đến 3 triệu đồng/tháng.
2.2.2. Cấp thoát nớc vệ sinh và môi trờng
Nguồn cấp nớc trong khu vực nghiên cứu gồm các loại nh nớc cấp do
Công ty Kinh doanh nớc sạch Hà Nội cấp và nớc giếng khoan. 70% số gia đình
có máy nớc riêng (do Công ty Kinh doanh nớc sạch cung cấp). 5% dùng máy n-
ớc công cộng. 25% các gia đình dùng nớc giếng khoan.
Hệ thống vệ sinh của các gia đình hầu hết là hố xí tự hoại (hơn 80%), còn
lại gồm 20% số hộ đợc phỏng vấn dùng xí công cộng hoặc xí hai ngăn, phần
này chủ yếu thuộc các xã phía nam hoặc tây nam, các gia đình này dùng phân
để phục vụ cho nông nghiệp.
Hệ thống thu gom rác: tại các nơi tập trung dân c đông hoặc các nhà cao
tầng, rác đợc tập trung vào các bể chứa sau đó công nhân viên chức của Công ty
Môi trờng đô thị lấy rác đi vào các buổi chiều. Một số dân c sóng dọc hai bên
bờ sông thờng có thói quen vứt rác và các loại phế thải xuống lòng sông gây
mất vệ sinh và ô nhiễm môi trờng.
Hệ thống thoát nớc: tại khu vực nghiên cứu hệ thống thoát nớc cũng bị ô
nhiễm nặng do nớc thải sinh hoạt và sản xuất gây ra. Hệ thống thoát nớc gồm
các cống kín và các ao hồ, kênh mơng hở.
Các bệnh truyền nhiễm: Việc sống không vệ sinh, vứt rác và các phế thải
bừa bãi gây mất vệ sinh gây ra bệnh đờng ruột, bệnh về mắt. Theo số liệu điều
Chia khu vực nghiên cứu thành 7 vùng xử lý nớc thải, vị trí cụ thể nh sau
- Vùng 1 : Đặt tại Bởi
- Vùng 2 : Đặt tại xã Trần Phú
- Vùng 3 : Đặt tại Láng Hạ
- Vùng 4 : Đặt tại sân bay Bạch Mai
- Vùng 5 : Đặt tại xã Trung Hoà
- Vùng 6 : Đặt tại xã Tân Triều
- Vùng 7 : Thuộc huyện Thanh Trì
Chất lợng nớc sau khi xử lý đợc đề xuất tuỳ thuộc vào mật độ dân số ở
khu vực xử lý.
* Khu vực có mật độ dân số thấp: Mật độ dân số < 50 ngời/ha, mức độ xử
lý đề xuất là 75%. Chất lợng nớc sau khi xử lý: 90 mg/l tính theo BOD với nớc
thải sinh hoạt, 50 mg/l tính theo BOD với nớc thải công nghiệp.
* Khu vực có mật độ dân số trung bình: Mật độ dân số từ 50 đến 100 ng-
ời/ha, mức độ xử lý đề xuất là 80%. Chất lợng nớc sau khi xử lý: 60 mg/l tính
theo BOD với nớc thải sinh hoạt, 50 mg/l tính theo BOD với nớc thải công
nghiệp.
* Khu vực có mật độ dân số cao:
Mật độ dân số trên 350 ngời/ ha, mức độ xử lý đề xuất là 85%. Chất lợng
nớc sau khi xử lý: 50 mg/l tính theo BOD với nớc thải sinh hoạt,
50 mg/l tính theo BOD với nớc thải công nghiệp.
2.2.2. Ưu nhợc điểm của phơng án cải tạo
Phơng án này tất nhiên là có rất nhiều điểm mạnh nh giải quyết triệt để
nguồn gây ô nhiễm, tạo nhiều lợi ích về mặt kinh tế và xã hội. Những nhợc
điểm của nó cũng không phải là không có, nhng những lợi ích của nó mang lại
thực sự rất lớn không chỉ về mặt môi trờng mà còn cả về vấn đề quy hoạch đô
thị, ổn định dân c trong chiến lợc mở rộng và phát triển thành phố Hà Nội. Nh-
ợc điểm lớn nhất hiện nay của phơng án này là đòi hỏi vốn đầu t ban đầu lớn,
20
công nghệ hiện đại và giải pháp đa ra là bớc đầu sẽ vay vốn nớc ngoài để thực
Bảng 8: Tổng chi phí xử lý nớc sông về mức tiêu chuẩn tơng ứng với
giai đoạn II của dự án Đơn vị tính: 1000USD
STT Hạng mục công trình Kinh phí
1 Tổng chi phí giai đoạn I 216.268
2 Chi phí 7 trạm xử lý nớc thải 295.340
Tổng cộng 511.608
Nh vậy sau khi xem xét thực trạng ô nhiễm sông Tô Lịch và Dự án cải tạo
hệ thống thoát nớc Hà Nội kết hợp với những cơ sở lý luận đã nghiên cứu giải
21
pháp đợc đa ra là bớc đầu chúng ta sẽ vay vốn nớc ngoài để thực hiện và sau đó
là dựa vào phí thu đợc sẽ góp phần hỗ trợ trả nợ dần. Trong phạm vi đề tài chỉ
tiến hành xác định mức phí cho những ngời dân hởng lợi trực tiếp từ việc cải
thiện môi trờng sông Tô Lịch.
22
Chơng III
Xây dựng mô hình và áp dụng xác định mức phí
huy động từ dân cho việc cải thiện môi tr-
ờng sông Tô lịch
3.1. Phơng thức tiến hành nghiên cứu thực Địa và thu thập thông tin
Khu vực điều tra đợc tiến hành trên 3 phờng có sông Tô Lịch chảy qua:
phờng Thợng Đình, Phờng Hạ Đình và phờng Yên Hoà. Trong quá trình phỏng
vấn trực tiếp và phát phiếu điều tra thực tế 130 hộ tiêu biểu, trong đó thu đợc
127 phiếu hợp lệ.
3.1.1. Quá trình điều tra
Quá trình điều tra đợc thực hiện theo các bớc sau:
* Xác định đối tợng điều tra
Chia các hộ điều tra thành 3 lớp:
- Lớp 1 là các hộ ở sát ven bên bờ sông( 59 hộ).
- Lớp 2 là các hộ ở cách ven bờ sông 1 lớp nhà (38 hộ).
- Lớp 3 là các hộ dân cách bờ sông nhiều hơn 2 lớp nhà (30 hộ).
2000 4 5 0
3000 5 4 5
5000 15 11 8
7000 2 3 3
10000 18 18 17
14000 5 11 5
20000 11 6 10
30000 4 9 5
40000 0 6 6
50000 3 5 12
70000 0 0 3
100000 3 4 3
200000 3 3 2
350000 0 0 1
Tổng 97 97 97
3.1.2. Mối quan hệ giữa WTP với các tình huống
Số liệu đợc tiến hành xử lý bằng phần mềm SPSS kết hợp với kiến thức
kinh tế môi trờng, thu đợc đờng cầu của xã hội về Mức giá sẵn lòng trả để cải
tạo môi trờng sông Tô Lịch, từ đây tính đợc tổng lợi ích thu đợc từ ngời dân và
đa ra mức phí thờng kỳ tạo thêm nguồn thu cho hoạt động cải tạo và bảo vệ môi
trờng.
Phơng pháp đợc sử dụng chủ yếu là phơng pháp Đánh giá ngẫu nhiên
CVM, phơng pháp này bỏ qua nhu cầu tham khảo giá thị trờng bằng cách hỏi
thẳng từng cá nhân một cách rõ ràng để đánh giá tài sản môi trờng. Vì vậy trong
thực tế chỉ tiến hành lập mẫu điều tra và phỏng vấn nhân dân sống sát hai bên
bờ sông Tô Lịch, tuy nhiên do thời gian có hạn nên điều tra chọn mẫu tại 3 ph-
ờng Thợng Đình, Hạ Đình, Yên Hòa với số hộ mẫu là 130 hộ trong đó có 127
phiếu hợp lệ.
Bảng 10: Mức giá sẵn lòng trả trung bình mẫu.
Tình huống 1 Tình huống 2 Tình huống 3
Phơng trình đờng cầu của các hộ dân thuộc đặc trng 1(ví dụ các hộ dân ở
lớp nhà đầu tiên ven bờ sông, các hộ dân thuộc nhóm có chi tiêu thấp).
D
1
: P
1
= a
1
- b
1
Q
1
( tổng số hộ điều tra thuộc đặc trng 1 là q
1
)
Phơng trình đờng cầu của các hộ dân thuộc đặc trng 2 (ví dụ các hộ dân ở lớp
nhà thứ hai ven bờ sông, các hộ dân thuộc nhóm có chi tiêu cao).
D
2
:
P
2
= a
2
b
2
Q