Phân tính tâm nhân vật bà cụ Tứ trong chuyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
BÀI LÀM
Cái cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
(Ca dao Việt Nam)
Sẽ chẳng bao giờ ta quên cánh cò bay mải mê chấp chới cách cò trắng
gầy guộc suy tư lặng lẽ như cuộc đời người mẹ. Người mẹ việt nam hiền
lành, nhẫn nhục thương con va giầu lòng nhân ái. Chẳng biết từ bao giờ
hình ảnh người mẹ đã trở thành một đề tài khá quen thuộc trong thi đàn
văn học Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ 1945-1975. Giữa những năm “đói
mòn đói mỏi” ấy nếu như cái đói đã làm con người ta mất đi nhân tính
vui với “một bữa no”, “một cái móng giò” thì đây vẫn còn những người
mẹ giầu lòng nhân hậu săn sàng đánh đổi sự sống của mình để cưa mang
kể khác. Có đọc Vợ nhặt của Kin Lân ta mới thấu hiểu thé nào là lòng
mẹ. Vâng, “Lòng mẹ bao la như biển thái bình dat dào”.
Truyện được mở đầu bằng một tình huông khà độc đáo. Vào một buổi
chiều “Tối sầm lại vì đói khát” giữa những năm tháng “người chết như
ngả rạ” ấy. Chàng lại dắt về giới thiệu một “nàng dâu”. Cả cái xóm ngụ
đang bị cái đói làm mờ cả măt ấy bỗng xôn xao hẳn lên: Người thở
người thì “khẽ thì thầm” người “bỗng lại cười lên cùng cục” và họ cùng
nín lặng. Cái khống khí ảm đạm ấy đi theo tràng và người đàn bà nọ đến
tận nhà. Buổi lễ ra mắt hêt sức kỳ quặc và hết sức bất ngờ. Không bất
ngờ làm sao được khi mọi chuyện lại xảy ra một cách chóng váng như
thế, dẫu bà cụ Tứ có thương con đến mấy lòng cũng không khỏi ngạc
nhiên. Tràng nhắc đi nhắc lại mấy lần: “Kìa nhà tôi nó chào u”. Nhưng
bà cụ vẫn không hiểu. “Bà lão băn khoăn ngồi xuống giường. Ô hay, thế
là thế nào nhỉ?”. Chỉ đến khi Tràng nhắc lại “Nhà tôi nó mới về làm bạn
với tôi đấy u ạ.” thì bà lão mới vỡ lẽ. Ra là thế. Đọc đến đây tự dưng tôi
lại nhớ đến bà mẹ trong Một đám cưới (Nam Cao), bà mẹ ấy trong đám
cưới của con mình dù là một đám cưới nghèo đã hoạt bát và nhanh nhẹn
Hơi đâu ép lấy hai dòng chứa chan.
Năm tháng qua đi, những nhọc nằhn, lo toan, vất vả đã vắt kiệt sức
mẹ. Mẹ không khóc được nữa “nước mắt người già chảy ngược vào
trong tim”. Vâng, mẹ già rồi nước mắt của mẹ chỉ đủ làm thành hai dòng
lăn chậm trên khuôn mặt già nua nhân hậu ấy thôi. Bà khóc cho niềm
vui và khcó cho cả nỗi buồn. Đấy là nước mắt của người mẹ! “May ra
mà qua khỏi được cái tôi đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên
bề nó, chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà
lo hết được”. Bà lão nghĩ thế nên bà quyết định. “Ừ thôi tuỳ các con”. -
Đọc đến đây ta như cùng Tràng “thở phào một cái ngực nhẹ hẳn đi”. Tất
cả những gì của thực tại của đói rét ngoài kia vụt biến đi phút chốc, chỉ
con đây cái khung cảnh ấm áp của gia đình. Bà lão vui, vui lắm chứ, bà
nói với nàng dâu mới với cái giọng ngân nga như hát “ Nhà ta thì
nghèo ai khó ba đời”. Người già hay cả nghĩ, lắm lo xa, bà lão chợt :
“Nghĩ đến ông lão, đến đứa con út”, “đến cuộc đời cực khổ dằng dặc của
mình mà lo lắng” đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?
Người xưa nói đúng, bao giờ lòng mẹ cũng bao la, cũng “dạt dào” như
“nước trong nguồn chảy ra”. Giữa lúc đói nghèo lại phải “đèo bòng”
thêm một miệng ăn mẹ Tứ nghĩ về nàng dâu mới không phải ở cảm giác
của một người biết ơn, mà tràn đầy tình yêu thương. Người mẹ nghèo
nhân hậu ấy càng thấu hiểu cảnh ngộ xót xa của nàng dâu mới càng
thương chị ta hơn. Tâm trạng bà cụ buồn vui lẫn lộn. Giữa cái “tao
đoạn” này niêm vui càng trông càng tội nghiệp. Đọc đến đây tôi cứ hình
dung cái cảnh con chim sơn ca đang bị giam hãm trong lồng. HÌnh như
niềm vui của mẹ Tứ ở đây cũng trở nên héo hon, như không thể thoát ra
khỏi nỗi ám ảnh của sự buôồ tủi, xót thương của cái không khí thời đại
lúc bấy giờ. Nhưng với tấm lòng của người mẹ, bà vẫn gượng làm vui
“cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão săm sắn thu dọn,
quét tước nhà cửa”, “vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn”, “nói toàn chuyện
vui, toàn hcuyện sung sướng ngày sau”. Tất cả như vẽ ra trước mắt