THỦ TỤC XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT
LUẬT TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG – CHỨNG KHOÁN

CHỦ ĐỀ:
THỦ TỤC XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC
PHÁP LUẬT
GVHD: Ths.Huỳnh Thị Nam Hải
Nhóm sinh viên thực hiện:
STT HỌ VÀ TÊN MSSV
1 Nguyễn Thị Thảo My K125042075
2 Quách Thị Như K125042091
3 Nguyễn Thị Kim Thanh K125042105
4 Nguyễn Thị Thùy K125042116
5 Trần Phương Trinh K125042128
6 Nguyễn Thị Thu Uyên (NT) K125042135
7 Nguyễn Thị Thành Vinh K125042137
Mục lục
Trang 2 / 25
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, Bộ luật tố tụng dân sự với những
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng như: trình tự, thủ tục khởi kiện, xét xử, sự
tham gia tố tụng dân sự của các chủ thể được quy định đều nhằm mục đích giải quyết
các vụ việc dân sự được chính xác, công bằng và đúng pháp luật. Tuy nhiên trong thực
tiễn , hoạt động xét xử có thể không tránh khỏi những sai sót khiến cho những phán quyết
của Tòa án không đúng với sự thật khách quan hoặc trái pháp luật.Những sai sót này có
thể xuất phát từ yếu tố chủ quan hoặc yếu tố khách quan nên dẫn đến việc có những bản
án, quyết định của Tòa án đã trải qua hai cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thậm chí qua
nhiều vòng xét xử lặp đi lặp lại mà vẫn không đúng pháp luật. Do đó để khắc phục và sửa
chữa những sai lầm, thiếu sót nhằm đảm bảo tính pháp chế XHCN trong công tác xét xử
của tòa án cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì cần có một

việc xử lý vụ án được chính xác.
- Khác với phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, chỉ khi bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật mới được xem xét
trong khi phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có
kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát thì dù việc xét xử sơ thẩm có vi
phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật, bản án sơ thẩm đúng hay sai, vụ án vẫn
được xét xử lại. Do đó không phải trường hợp nào đương sự khiếu nại bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cũng được kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám
đốc thẩm.
1.2. Ý nghĩa
Việc xét lại bản án hay quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục
giám đốc thẩm có ý nghĩa to lớn. Trước hết, nó làm cho kỷ cương pháp luật được tôn
trọng, sau đó nó giúp cho Tòa án cấp trên thấy được những sai lầm, thiếu sót của Tòa án
cấp dưới đối với những vụ án cụ thể và sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm đó, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thủ tục giám đốc thẩm Nhóm 11
Mặt khác, thông qua hoạt động giám đốc thẩm, Tòa án cấp trên có thể tổng kết, rút
kinh nghiệm công tác xét xử. Trên cơ sở đó, họ hướng dẫn Tòa án cấp dưới hiểu và áp
dụng đúng pháp luật. Vì vậy, kết quả của hoạt động giám đốc thẩm được coi như là
những kinh nghiệm; đồng thời là những định hướng hướng dẫn hoạt động xét xử của Tòa
án cấp dưới.
2. Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
2.1. Khái niệm
Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là hoạt động tố tụng của người có thẩm
quyền của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc phản đối bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật và yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đó khi phát hiện
được sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
2.2. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Để tiến hành kháng nghị, người có thẩm quyền kháng nghị phải dựa trên những căn
cứ nhất định do pháp luật quy định. Theo điều 283 BLTTDS, bản án quyết định của Tòa

2.3. Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị
Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại
Điều 285 BLTTDS.
Theo quy định này thì chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh
mới có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. (Việc kháng nghị có sự phân cấp
rõ ràng).
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của tòa án nhân dân các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp huyện.
Lưu ý: chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền yêu
cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc
phục được. Thời hạn: không quá 3 tháng (Theo điều 48 Luật thi hành án dân sự 2008).
2.4. Hình thức kháng nghị
Hình thức kháng nghị là phương diện để các chủ thể có thẩm quyền thể hiện quyền
kháng nghị của mình.
2.4.1. Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét
lại theo thủ tục giám đốc thẩm
 Đơn đề nghị
Theo khoản 1 điều 284: “Trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định
đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị
quy định tại Điều 285 BLTTDS để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm”.
 Nội dung: điều 284a BLTTDSHH; khoản 1 điều 1 của Thông tư liên tịch
03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC; tham khảo mẫu số 1.
 Gửi đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (điều 2; khoản 1 điều 9 của
Thông tư liên tịch 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC)

Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án ra bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân
sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung
kháng nghị.
Theo Điểm e, khoản 1, điều 2 TTLT 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC thì trong
trường hợp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh
kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện
kiểm sát cùng cấp ngay sau khi Chánh án tòa án tối cao ra quyết định kháng nghị. Viện
kiểm sát nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền
giám đốc thẩm.”
Thủ tục giám đốc thẩm Nhóm 11
Trong trường hợp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị phải được gửi
ngay cho Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
2.5. Thời hạn kháng nghị
Theo khoản 1 điều 288 BLTTDS thì:
Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị
trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự cho thấy, có nhiều trường hợp gần hết thời hạn
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, Tòa án, Viện kiểm sát mới nhận được đơn khiếu
nại của đương sự nên không có đủ thời gian để xem xét; có trường hợp đương sự gửi đơn
trong thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng không được người có thẩm
quyền xem xét hoặc không kịp thời phát hiện các sai sót, do đó, khi phát hiện thì đã hết
thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
chính đáng của đương sự.
Chính vì vậy, khoản 2 điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự

quy định trường hợp đã hết
thời hạn kháng nghị ba năm nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được

Ví dụ : Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, phần bản án sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh H về chia
tài sản bị kháng cáo và đã được Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội xét xử. Sau khi phát
hiện bản án phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TANDTC và bản án sơ thẩm (phần không bị
kháng cáo) của Tòa án cấp tỉnh H đều có vi phạm pháp luật nghiêm trọng nên Chánh án
TANDTC đã kháng nghị đối với cả hai bản án này. Trong trường hợp này, Hội đồng thẩm
phán TANDTC sẽ xét xử giám đốc thẩm đối với toàn bộ vụ án.
3.2. Hội đồng giám đốc thẩm
Khi xem xét lại bản án, quyết đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm,
vì đây là thủ tục đặc biệt, được giao cho các Tòa án khác nhau giải quyết nên thành phần
Hội đồng giám đốc thẩm là những thẩm phán xét xử chuyên nghiệp, được quy định phù
hợp với Tòa án có thẩm quyền và phù hợp với Luật tổ chức Tòa án nhân dân (gồm các
Thẩm phán, không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân tham gia). Thành phần hội
đồng giám đốc thẩm được quy định tại điều 54 BLTTDS như sau:
- Hội đồng giám đốc thẩm Toà án nhân dân cấp tỉnh là Uỷ ban thẩm phán Toà án
nhân dân cấp tỉnh. Khi Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh tiến hành giám
đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần
ba tổng số thành viên tham gia.
Xem thêm: Các thành viên của Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Điều
29 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002)
- Hội đồng giám đốc thẩm Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao gồm có ba
Thẩm phán.
- Hội đồng giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao là Hội đồng thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao. Khi Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành giám
đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần
ba tổng số thành viên tham gia.
Xem thêm: thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Điều 21
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002)
Thủ tục giám đốc thẩm Nhóm 11
3.3. Những người tham gia phiên tòa GĐT (điều 292)
Để đảm bảo thủ tục giám đốc thẩm tiến hành đúng pháp luật, thì Viện trưởng VKS

giám đốc thẩm. (Điều 294 BLTTDS).
3.4.2. Thủ tục tiến hành phiên toà giám đốc thẩm
Thủ tục giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án, quyết đã có hiệu
lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm nghiêm trọng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước nên phải được xem xét
theo một trình tự chặt chẽ và có nhiều điểm khác biệt với phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm vì
nó được tiến hành trên cơ sở xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là chủ yếu.
Thủ tục giám đốc thẩm Nhóm 11
Bên cạnh đó, do giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử nên phiên tòa giám
đốc thẩm không phải là một phiên tòa công khai mà giống như một phiên họp và được
tiến hành trong phòng họp của Tòa án dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên Tòa.
Cụ thể, theo điều 295 BLTTDS phiên tòa giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục như
sau:
- Chủ tọa khai mạc phiên toà.
- Một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá
trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của
người kháng nghị.
- Trong trường hợp có người tham gia tố tụng hoặc người khác được Toà án triệu
tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm thì họ được trình bày ý kiến của mình về
quyết định kháng nghị.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng
nghị.
- Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm thảo luận và phát biểu ý kiến của
mình về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
- Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án theo trình tự tán
thành, không tán thành và ý kiến khác.
Quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên của

có sự vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án dân sự, không sai về thủ tục tố
tụng cũng như việc áp dụng pháp luật. Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng
nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật khi những bản
án hay quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm phù hợp với pháp luật, đúng
người và phù hợp với thực tế khách quan của vụ án dân sự và việc kháng nghị là không
có căn cứ.
2. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL và giữ nguyên bản án, quyết định đúng
pháp luật của Tòa án cấp đưới đã bị hủy hoặc bị sửa;
Theo điều 298 BLTTDS
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp dưới xét xử đúng
pháp luật, nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị huỷ bỏ
hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ.
Ví dụ: Khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm của Tòa
kinh tế TANDTC có thể hủy bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và giữ
nguyên bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện đã bị Tòa án nhân dân cấp
tỉnh sửa hoặc bị hủy.
3. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL đẻ xét xử sơ thẩm
lại hoặc xét xử phúc thẩm lại;
(Điều 299 BLTTDS)
4. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.
Hội đồng giám đốc thẩm quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và đình chỉ giải quyết vụ án, nếu vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy định
tại Điều 192 của Bộ luật này.
Trường hợp quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với vụ trường hợp sự việc
không thuộc thẩm quyền của tòa án thì tòa án cần hướng dẫn đương sự yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền để giải quyết.
3.4.4. Ra quyết định giám đốc thẩm
Khi xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tòa án ra quyết định giám đốc
thẩm. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều

1. Khái niệm và ý nghĩa tái thẩm dân sự
1.1. Khái niệm tái thẩm dân sự
Theo Điều 304 BLTTDS quy định tính chất của tái thẩm, đồng thời cũng chính là
khái niệm pháp lý về tái thẩm: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay
đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được
khi Toà án ra bản án, quyết định đó.”
Từ khái niệm trên ta thấy, cũng như Giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm là một thủ tục
đặc biệt của tố tụng dân sự. Tính chất của thủ tục tái thẩm cũng là “xét lại” khác với “xét
xử” trong thủ tục sơ thẩm hay “xét xử lại” trong thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, việc xét
lại bản án, quyết định đã có hiệu lực này là dựa trên cơ sở mới phát hiện tình tiết quan
trọng của vụ án chứ không phải là trên cơ sở phát hiện sai lầm của tòa án trong việc giải
quyết vụ án như trong giám đốc thẩm.
Như vậy, ta có thể hiểu rằng, trong thủ tục tái thẩm Tòa án không có nhiệm vụ xét
xử lại vụ án mà chỉ tiến hành kiểm tra, xem xét, đối chiếu với những quy định của pháp
luật xem bản án hoặc quyết định bị kháng nghị có căn cứ và hợp pháp không. Hay nói
cách khác, Hội đồng tái thẩm có quyền “xét” chứ không “xử”. Vì vậy, thủ tục tái thẩm
không được coi là một cấp xét xử trong hệ thống tư pháp Việt Nam.
1.2. Ý nghĩa tái thẩm dân sự
Trang 14 / 25
Thủ tục tái thẩm Nhóm 11
Tái thẩm dân sự có ý nghĩa quan trọng đối với cả việc giải quyết vụ án dân sự của
tòa án và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Việc xét xử lại theo thủ tục
tái thẩm giúp:
 Tòa án khắc phục được những thiếu sót trong những bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật không phụ thuộc vào thời gian bản án, quyết đinh có hiệu lực pháp
luật và được thi hành từ bao giờ.
 Đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của công tác xét xử.
 Bảo đảm cho bản án, quyết đinh cho tòa án có căn cứ và hợp pháp, từ đó có tác
dụng bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.

• Tình tiết mới được phát hiện phải là tình tiết quan trọng, liên quan đến vụ án,
làm thay đổi cả nội dung vụ án, làm cho bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật không hợp pháp, không có căn cứ. Đối với những tình tiết tuy mới được
phát hiện nhưng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật
giữa các đương sự, không có mối quan hệ nhân quả đối với quyết định của Tòa
án thì cũng không là căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
• Những tình tiết mới được phát hiện làm căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm phải là những tình tiết Tòa án muốn xác định được phải qua quá trình xét
xử lại. Những tình tiết đã có sẵn trong hồ sơ vụ án, Tòa án không đánh giá sử
dụng hoặc những tình tiết đã có vào lúc Tòa án giải quyết vụ án nhưng do sai
lầm nên Tòa án không phát hiện được, không yêu cầu đương sự cung cấp thì
không được coi là tình tiết mới.
Ví dụ: Trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế các đương sự không biết
được người để lại di sản thừa kế đã lập di chúc để lại toàn bộ khối di sản cho người
con út, nên vụ án đã được giải quyết theo pháp luật. Mấy năm sau người con út mới
phát hiện ra di chúc. Việc phát hiện ra di chúc là tình tiết mới quan trọng làm thay đổi
bản chất của vụ án. Bản án nếu so với di chúc thì khác nhiều và kết luận của bản án đã
làm thiệt hại đến lợi ích của thừa kế được chỉ định trong di chúc. Đây là tình tiết quan
trọng để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
+ Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch
không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;
Bằng chứng, kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch là những
phương tiện quan trọng được Tòa án sử dụng để xác định sự thật của vụ án. Trong
nhiều trường hợp, nó mang tính chất quyết định đối với việc giải quyết vụ việc dân
sự thì khi có cơ sở chứng minh rằng kết luận của người giám định, lời dịch của
người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng thì phải
kháng nghị xét lại bản án, quyết định theo thủ tục tái thẩm.
+ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc
cố ý kết luận trái pháp luật;
Theo Khoản 3 Điều 305 BLTTDS thì bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của

+ Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện
+ Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Toà án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao.
+ Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết
định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái
thẩm.
2.4. Thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện
Nếu như căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là những vi phạm pháp luật nghiêm
trọng trong việc xử lý vụ án thì căn cứ kháng nghị tái thẩm chủ yếu là những vi phạm
pháp luật (hay còn gọi là sai lầm) mang tính chủ quan của người tiến hành tố tụng. Ngoại
trừ trường hợp căn cứ do có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án mà Tòa án không
có lỗi trong việc không biết có tình tiết mới này bởi việc xác định sự thật của vụ án hoàn
toàn không đơn giản, đôi khi vượt quá nhận thức của con người vào thời điểm ra bản án
Trang 17 / 25
Thủ tục tái thẩm Nhóm 11
hoặc quyết định. Vì vậy, tại Điều 306 BLTTDS nhà làm luật đã quy định về việc thông
báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện như sau:
+ Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện tình tiết mới
của vụ án và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị quy
định tại Điều 307 của Bộ luật này.
+ Trong trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Toà án phải
thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều
307 của Bộ luật này.
Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc Viện kiểm sát, Tòa án phát hiện tình
tiết mới thì phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm
biết được những tình tiết mới đó dựa vào những căn cứ tại Điều 305 BLTTDS để được
các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị đảm bảo thời hạn và đúng quy định của pháp luật.

những quy định của kháng nghị tái thẩm kể trên thì những quy định khác của kháng nghị
tái thẩm sẽ giống với kháng nghị giám đốc thẩm. Bao gồm:
+ Thủ tục gửi, nhận và xem xét đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm áp dụng tương tự Điều 284b
BLTTDS; hướng dẫn chi tiết tại Điều 2, 3, 4, 5, 8, 9 Thông tư liên tịch
03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC;
+ Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật áp dụng
tương tự Điều 286 BLTTDS; Điều 48, 49 Luật thi hành án dân sự 2008;
+ Quyết định kháng nghị tái thẩm áp dụng tương tự Điều 287 BLTTDS;
+ Thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị tái thẩm áp dụng tương tự Điều 289
BLTTDS;
+ Gửi quyết định kháng nghị tái thẩm áp dụng tương tự Điều 290 BLTTDS; Điểm e
Khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC.
3. Xét xử tái thẩm
3.1. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm (Điều 309 BLTTDS)
Vì thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm đều là thủ tục xét lại bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên hội đồng xét xử không xem xét trực tiếp về quyền và
lợi ích của các bên đương sự mà chỉ xem xét tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trên cơ sở hồ sơ vụ án. Với tính chất này, thẩm
quyền của Hội đồng tái thẩm giống Hội đồng giám đốc thẩm ở chỗ:
+ Có quyền không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nếu bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là đúng, việc
kháng nghị không có căn cứ;
+ Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án nếu
có 1 trong các căn cứ quy định tại Điều 192 BLTTDS
Ngoài hai quyền hạn trên thì do tính chất của giám đốc thẩm và tái thẩm khác nhau nên
quyền hạn của hội đồng tái thẩm cũng khác với hội đồng giám đốc thẩm ở chỗ:
+ Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục
chung.
LƯU Ý: Thủ tục tái thẩm không có việc giao vụ việc để xét xử phúc thẩm lại.

+ Gửi quyết định tái thẩm áp dụng tương tự Điều 303 BLTTDS
4. Áp dụng pháp luật TTDS theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (hướng
dẫn theo Nghị quyết 02/2012/NQ-HĐTP)
Áp dụng pháp luật TTDS để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản
án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia định, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/01/2012 (Điều 2)
Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ việc dân sự được thụ lý trước ngày
01/01/2012 (Điều 3)
Trang 20 / 25
Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC Nhóm 11
III.THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1. Cơ sở của thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao
Dựa trên tính chất của các căn cứ xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhà
lập pháp Việt Nam đã phân hoá các căn cứ này thành hai loại, trên cơ sở đó thiết lập hai
thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật tương ứng là thủ tục giám đốc
thẩm và thủ tục tái thẩm. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, trong phần thẩm quyền
kháng nghị tại điều 285 đối với thủ tục giám đốc thẩm: “…trừ quyết định giám đốc thẩm
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” và điều 307 đối với thủ tục tái thẩm:
“…trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”. Thực tiễn công tác
giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã phát hiện một số quyết định giám
đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có sai lầm nghiêm
trọng nhưng pháp luật tố tụng trước đây cũng chưa có quy định về vấn đề xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Khiến cho đương sự và dư
luận xã hội rất bức xúc, khiếu nại gay gắt, kéo dài.
Mặt khác, khoản 1 Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân chỉ quy định Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm chứ không quy định quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là
quyết định cuối cùng, do đó, khoản 52 Điều 1 của Luật đã bổ sung Chương XIXa quy

Yêu cầu của UBTV Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của
Viện trưởng VKSND tối cao về phát hiện vi phạm, tình tiết mới phải lập thành văn bản và
được gửi cho Chánh án TANDTC. Như vậy, theo BLTTDS hiện hành thì việc xem xét lại
quyết định của HĐTPTANDTC theo thủ tục đặc biệt không phải dựa trên kháng nghị của
Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC.
Lưu ý: Điều 16 Thông tư liên tịch 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC
Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư
pháp của Quốc hội hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị
xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định
tại khoản 1 Điều 310a BLTTDS, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân
tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện
kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét
kiến nghị, đề nghị theo hướng dẫn tại Điều 19 Thông tư liên tịch này về trình tự tiến
hành phiên họp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
1. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem
xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phát hiện
vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao, thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
Trang 22 / 25
Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC Nhóm 11
Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không nhất trí với kiến

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về các vấn đề sau đây:
a) Nội dung kiến nghị, đề nghị; căn cứ của việc kiến nghị, đề nghị;
b) Phân tích chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm
pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hoặc có những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trang 23 / 25
Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC Nhóm 11
3. Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc xem xét đề
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kiến nghị, đề nghị; nêu rõ quan
điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng
văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi
cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc
phiên họp.
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số
về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trường hợp nhất trí kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở
phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
đồng thời giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ báo
cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp
xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
6. Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản cho cá nhân, cơ quan quy định tại Điều
20 Thông tư liên tịch này và nêu rõ lý do.
7. Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định được

mời tham dự, nếu có, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định hủy
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực
của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới
làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định và tùy từng trường hợp mà quyết định
như sau:
a) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật và xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định vi phạm pháp luật nghiêm
trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho đương sự hoặc xác định trách
nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của pháp luật;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật để giao hồ sơ vụ án cho Tòa án
cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lưu ý: Điều 23 Thông tư liên tịch 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC
4. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba
phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết
tán thành. (Quyết định này do Chánh án TANDTC ký thay mặt HĐTPTANDTC và có
hiệu lực thi hành ngay kể từ ngày ra quyết định) Thông thường quyết đinh của
HĐTPTANDTCtheo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm phải được quá nửa tổng số thành
viên của HĐTPTANDTC biểu quyết tán thành. Tuy nhiên, để tránh nguy cơ thủ tục đặc
biệt sẽ phá vỡ nguyên tắc hai cấp xét xử và việc xét lại quyết định có thể trở thành cấp
xét xử thứ ba, nên đã có quy định nghiêm ngặt hơn về việc biểu quyết của
HĐTPTANDTC khi xét lại quyết định của mình.
Lưu ý: Điều 24 Thông tư liên tịch 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC
5. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng
dẫn thi hành Điều này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status