Lý luận chung về nợ quá hạn (2) - Pdf 23

Lời giới thiệu :
Rủi ro luôn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, điều đó lại càng có thể dễ xảy
ra trong lĩnh vực kinh doanh. Chấp nhận rủi ro trong kinh doanh là quy luật tất
yếu của các thơng gia từ ngàn xa, đây là một quy luật song hành lợi nhuận
càng tăng thì rủi ro càng cao. Trong kinh tế thị trờng thì rủi ro trong kinh
doanh là không thể tránh khỏi, dới giác độ là một tổ chức kinh doanh, NHTM
cũng chịu sự tác động và chịu tác động của môi truờng chính yếu và môi trờng
thứ yếu. Mối quan hệ giữa hai môi trờng này xoay quanh trung tâm hạt nhân
Vận hội và thách thức đối với các tổ chức kinh tế hay còn gọi là rủi ro môi
trờng. Trong môi trờng cạnh tranh toàn cầu, xu hớng hợp nhất khu vực ngày
càng phát triển, các vận hội sẽ xuất hiện, là thời cơ cho các ngân hàng lớn
mạnh. Song bên cạnh đó cũng tồn tại song hành các nguy cơ rất lớn từ môi tr-
ờng kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, cạnh tranh ảnh hởng to lớn đến hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng có phản ứng dây truyền, lây lan và ngày càng có những biểu
hiện phức tạp. Rủi ro trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói
chung và rủi ro tín dụng nói riêng là một phạm trù tiềm ẩn, nó có thể xảy ra
bất kỳ lúc nào và làm sai lệch, đảo lộn kết quả hoạt động kinh doanh ngân
hàng. Mà nh chúng ta đã biết ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng, sự sụp
đổ của ngân hàng sẽ ảnh hởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế chính trị
và xã hội của của nớc đó. Do vậy quản trị kinh doanh mà đặc biệt là quản trị
rủi ro kinh doanh ngân hàng đóng vai trò quan trọng và là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà quản trị ngân hàng không chỉ diễn ra trên phơng diện lý
thuyết mà còn đợc áp dụng trong hoạt động thực tiễn của các ngân hàng thơng
mại. Trên thế giới lĩnh vực quản trị rủi ro ngân hàng đã đạt đợc đến trình độ
tiên tiến và hiện đại, còn ở VN nó mới trong giai đoạn phôi thai mặc dầu trong
những năm gần đây cùng với sự đổi mới của đất nớc, hệ thống NHVN đã thu
đợc những thành công đáng khích lệ.
Nhìn chung thì những rủi ro đặc thù trong kinh doanh NH bao gồm:
1
Rủi ro về lãi suất.

Nói nh vậy để thấy rằng việc tăng cờng quản lý chất lợng tín dụng tại các
NHTM luôn là một yêu cầu bức thiết, là điều kiện sống còn cho bản thân mỗi
ngân hàng thơng mại, cho ngành ngân hàng và rộng hơn là cho toàn bộ nền
kinh tế.
Phải nhìn nhận rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng là một hoạt động kinh tế
nhiều rủi ro so với nhiều lĩnh vực kinh tế khác. Quan điểm này hết sức đúng
đắn về cả mặt lý luận và thực tiễn.
+ Xét về mặt lý luận:
Với đặc điểm kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, sản
phẩm mà ngân hàng kinh doanh là một sản phẩm độc quyền tiền tệ và chỉ
kinh doanh loại sản phẩm này. Kinh doanh tín dụng ngân hàng chỉ bán giá
trị sử dụng tiền tệ và giá bán lãi suất quyền sử dụng tiền tệ đó, thờng rất
nhỏ so với giá trị khoản vay, nên những khoản thu đợc là tơng đối nhỏ so với
cái đã mất. Bởi vậy kinh doanh ngân hàng cho đến nay chủ yếu vẫn là kinh
doanh tín dụng và thờng gặp rất nhiều rủi ro.
+ Xét về mặt thực tiễn:
Quá khứ của những năm tháng qua đã chứng minh một cách hùng hồn hàng
loạt các vụ phá sản của NH trên thế giới. Một số quốc gia có nền kinh tế phát
triển nh Nhật Bản, Pháp, Anh... cũng có nhiều vấn đề mà điển hình là sự sụp
đổ của ngân hàng Baring, việc thất thoát của ngân hàng Daiwa... Hẳn chúng ta
3
vẫn cha quên cơn bão biển tín dụng trong những năm 1989-1990 làm cho
hàng loạt các hợp tác xã tín dụng bị sụp đổ, nền tài chính trong trạng thái bị
khủng hoảng, có nhiều ảnh hởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế xã hội
trong nớc. Phải chăng tơng lai cha có gì đảm bảo chắc chắn cho một quá trình
vận hành kinh tế thông suốt mà không gặp phải những cam go, điều này
khẳng định thêm kinh doanh ngân hàng là một loại kinh doanh có nhiều rủi
ro.
Hoạt động tín dụng bao gồm cả huy động vốn và cho vay vốn. Trong
cho vay bao gồm cả khâu cho vay, thu lãi thu vốn. Mong ớc lớn nhất của các

Nợ quá hạn khó đòi: Khả năng thu hồi không đủ và phải kéo dài.
Nợ quá hạn mất trắng.
- Nếu chia theo nguyên nhân:
Nợ quá hạn do mất khả kháng nh do thiên tai, do thay đổi cơ chế
chính sách, do khủng hoảng. Nguyên nhân không thuộc lỗi của bên cho vay và
ngời đi vay.
Nợ quá hạn do lỗi của ngời đi vay: Yếu kém về trình độ quản lý nh
yếu kém về trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh hoặc cố tình không trả nợ...
Nợ quá hạn do lỗi của ngời cho vay: Thờng bao giờ cũng gắn với
lỗi của ngời vay do có sự thông đồng, đồng tình.
- Nếu chia theo thời gian:
Nợ quá hạn dới 180 ngày.
Nợ quá hạn từ 181 ngày trở lên đến 360 ngày.
Nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Nếu chia theo biện pháp bảo đảm tiền vay
Nợ quá hạn có bảo lãnh của ngời hay bên thứ ba.
Nợ quá hạn còn vật t, hàng hoá tồn kho chờ bán và có tài sản hình
thành từ vốn vay.
Nợ quá hạn có tín chấp.
5
Nợ quá hạn có xác nhận của cấp chủ quản.
Nợ quá hạn có ngời thừa kế hợp pháp theo luật phải trả thay.
- Nếu chia theo khả năng thu hồi vốn:
Nợ quá hạn bình thờng: Là nợ quá hạn do định kỳ cho vay sai thực
tế, là nợ quá hạn có thời gian quá hạn dới 6 tháng kể từ sau ngày đến hạn trả
nợ.
Nợ khê đọng: Là nợ quá hạn có thời gian quá hạn từ 6 tháng đến 12
tháng kể từ ngày sau ngày đến hạn trả nợ mà vẫn cha thu hồi đợc vốn vì đã
tiềm ẩn những rủi ro.
Nợ khó đòi: Là nợ quá hạn có thời gian quá hạn trên 12 tháng kể từ

quá hạn trên tổng d nợ cho vay vợt quá ngỡng cho phép (Nhiều nhà kinh tế
thống nhất ngỡng an toàn này đối với một nền kinh tế là 3% - 5%). Vấn đề nợ
quá hạn hiện nay còn liên quan đến mối quan hệ giữa nhà nớc và hệ thống tài
chính, tức là sự can thiệp và khả năng kiểm soát đối với hệ thống ngân hàng
làm cho nợ quá hạn không còn mang tính chất thuần tuý kinh tế nh trớc đây.
Trên Thế giới, theo Washington Post ngày 30/3/98 tình trạng nợ khó
đòi của các nớc Đông và Đông Nam á rất căng thẳng, đe doạ làm tan rã nền
kinh tế toàn cầu. Nợ khó đòi của Thái Lan chiếm tới 30% tổng d nợ và cần tới
15 tỷ USD để tái tạo vốn cho các ngân hàng, con số tơng tự ở Hàn Quốc là
25% và 34 tỷ USD, ở Indonêxia là 70% và 20 tỷ USD. Số nợ không có hiệu
quả ở các ngân hàng Nhật bản lên tới con số khổng lồ 500 tỷ USD. Vào tháng
1/1997 nợ quá hạn của Nga lên tới 522.000 tỷ Rbl, còn ở Trung Quốc nợ khó
đòi chiếm khoảng 30% tổng tín dụng. Còn đối với VN thì đến cuối năm 1997
tỷ lệ nợ quá hạn lên tới 10% trong khi đó số liệu công bố cuối năm 1996 là
5,7%.
Một số đặc điểm về tình hình nợ quá hạn ở VN hiện nay:
+ Trong số nợ quá hạn hiện nay chủ yếu là phát sinh từ thời bao cấp.
Trớc đây cơ chế quản lý tín dụng mang hình thức cấp phát chứ không phải
kinh doanh nh hiện nay, nên đến nay phát sinh nợ quá hạn cũng là điều dễ
hiểu. Còn những món nợ mới phát sinh trong thời kỳ thời gian gần đây phần
7
lớn tập trung vào một số ít doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, quản lý kém do
không theo kịp với sự chuyển đổi, đổi mới thích ứng với nền kinh tế thị trờng.
Tất nhiên cũng phải kể đến những món nợ quá hạn do khách hàng lừa đảo
hoặc cán bộ ngân hàng kém phẩm chất gây ra. Tuy nhiên số đó là rất ít so với
tổng số nợ quá hạn của ngân hàng và càng ít hơn nữa trong toàn bộ khối lợng
tín dụng của ngân hàng đã phát ra.
+ Hiện nay, nợ quá hạn là quá cao, hơn cả mức giới hạn cho phép là 5%
đang làm cho hoạt động tín dụng trong các NHTM thiếu lành mạnh, rủi ro
cao, gây ách tắc, ứ đọng vốn, đe doạ nền tài chính của cả hệ thống NHTM.

Thực tế những năm gần đây cho thấy số nợ quá hạn trên một năm, nợ khó đòi
chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng số nợ quá hạn, thờng là trên 50%, ở một
số NHTM cổ phần tình hình còn đáng sợ hơn nhiều 80%, 90%, thậm trí còn
100%. Một con số làm kinh hoàng cho những ai hiểu về hoạt động ngân hàng.
Song không chỉ có vậy, nợ khó đòi không phải chỉ đơn giản là khó đòi, mà
trong số đó một tỷ lệ không nhỏ là nợ không có khả năng thu hồi, tức là d nợ
rủi ro 100%.
+ Rủi ro tiềm ẩn trong số d nợ không có vấn đề cũng rất cao:
Nếu tách hết số d quá hạn ra khỏi tổng d nợ, ta còn lại số d nợ bình thờng, hay
d nợ không có vấn đề gì lo ngại. Song ở một số ngân hàng, số d nợ này vẫn
buộc các nhà phân tích phải quan tâm, bởi trong số d nợ tởng chừng bình th-
ờng đó lại ẩn chứa rất nhiều vấn đề không bình thờng, không đúng quy chế,
luật pháp nh:
Số d nợ đó đã đợc gia hạn nhiều lần, thậm trí thời gian gia hạn còn
nhiều hơn kỳ hạn cho vay lần đầu.
Số d nợ đó đợc đảo nợ nhiều lần (Cho vay mới để thu hồi nợ cũ), có
nhiều trờng hợp kế toán đã không chuyển sang nợ quá hạn, lại chuyển vào
hạch toán trong hạn. Khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng này để trả
nợ cho ngân hàng khác. Đây cũng là một hình thức đảo nợ nhng có sự tham
gia của nhiều ngân hàng.
Nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng với cùng một tài sản
thế
chấp mà hoàn toàn không hề hay biết.
Tình hình trên cho thấy, số d nợ phát sinh trong các trờng hợp đã nêu tuy
nằm trong tổng số d nợ bình thờng nhng xét về bản chất nó khó có khả năng
thu hồi ngay từ khi cho vay.
9
Trớc những khó khăn trong vấn đề nợ quá hạn trong hệ thống NHTM nh đã
nêu trên thì mặc dù các ngân hàng đã đề ra thực hiện một số giải pháp để
nhằm hạn chế, giảm thiểu và xử lý mức nợ quá hạn, nhng mức nợ quá hạn vẫn

tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp hoặc cá nhân có những hành vi lừa
đảo, nhà nớc cho phép nhiều doanh nghiệp đợc sản xuất kinh doanh với
nhhiều chức năng, trình độ, năng lực quản lý, quy mô hoạt động là quá lớn so
với nguồn vốn tự có của NH. Do đó sẽ dẫn đến tình trạng vay vốn của NH
nhiều.
Đối với vai trò quản lý của ngân hàng nhà nớc, hiệu quả giám sát thanh
tra và xử lý sau thanh tra còn bị hạn chế, thiếu kiên quyết, không dứt điểm, do
đó không phát huy tác dụng trong việc củng cố sự phát triển của ngân hàng
thơng mại. Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực rất nhạy cảm đối với những biến
động của tình hình kinh tế xã hội, đòi hỏi sự nhạy bén, thế nhng một số quy
chế quản lý của ngân hàng nhà nớc lại chậm đợc ban hành hoặc chậm đợc bổ
sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế nh các quy chế về an toàn vốn,
về quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, về thế chấp tài sản, về hớng dẫn sử lý vi phạm
trong lĩnh vực ngân hàng. Qua đó thấy đợc vai trò quản lý của ngân hàng nhà
nớc nhất là các chi nhánh bị lu mờ hay nói đúng hơn là cha đầy đủ, cha thờng
xuyên trong việc giám sát, kiểm tra, nhắc nhở đối với các ngân hàng thơng
mại.
- Do ngân hàng nhà nớc quy định thời hạn cho vay trung và dài hạn tối
đa chỉ có 3 năm: Thời hạn cho vay này chỉ phù hợp với tính chất nguồn vốn
của các ngân hàng thơng mại (chủ yếu là vốn ngắn hạn, có khi phải dùng một
bộ phận vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn). Song đối với ngời vay thì
không có một doanh nghiệp nào có khả năng trả nợ đầy đủ cho ngân hàng
trong thời gian 3 năm đối với các dự án vay trung và dài hạn. Ngay từ khi đặt
vấn đề vay ngân hàng, các doanh nghiệp hoàn toàn ý thức đợc vấn đề này, nh-
ng vì có sự khống chế tối đa về thời hạn của ngân hàng nhà nớc nên cả ngời
vay và ngời cho vay phải nhắm mắt ký hợp đồng, để rồi không có khả năng trả
nợ và thu nợ đúng hạn. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nợ quá hạn của
các ngân hàng thơng mại đềnh lên nhanh chóng.
- Do môi trờng kinh tế kinh doanh cha ổn định: Sự rủi ro trong kinh
doanh tiền tệ đã là rủi ro lớn nhất trong mọi hoạt động kinh doanh, nhng ở VN

thực hiện.
Mặt khác các chính sách về ngân hàng cha đủ sức bảo vệ cho các ngân
hàng chống đỡ đợc với những sóng gió của thơng trờng nh các chính sách về
12
lãi suất, dự phòng rủi ro..., tỷ lệ dự phòng của những năm trớc quá thấp lại
trích từ lợi nhuận chứ không phải từ chi phí.
Đối với những doanh nghiệp và những nhà kinh doanh: Do sự thay đổi về môi
truờng pháp lý và chính sách của nhà nớc mà những ngời kinh doanh này
không lờng trớc đợc và không đợc hớng dẫn thực hiện một cách cụ thể cũng
góp phần làm cho khối lợng nợ quá hạn phình to ra. Các chính sách và cơ chế
quản lý vĩ mô của nhà nớc đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện nên th-
ờng có sự điều chỉnh, nhiều doanh nghiệp trong kế hoạch kinh doanh đã
không theo kịp nên có sự bị động, dự báo nhu cầu không sát dẫn đến phát
triển tràn lan và không đúng nhu cầu của thị trờng, do vậy sản xuất kinh doanh
không có hiệu quả. Hơn nữa việc ban hành một số chủ trơng, chính sách của
chính phủ do không dự đoán trớc đợc những khó khăn vớng mắc khi triển khai
thực hiện nên đã tạo ra những rủi ro không dự đoán trớc đợc ví dụ nh những
chỉ thị về đóng của rừng, chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng, những
quy định về quản lý sử dụng đất đai... do đó đã có không ít những doanh
nghiệp bị thua lỗ do không theo kịp với sự thay đổi của những chính sách
quản lý kinh tế mà hậu quả là NH cho vay phải gánh chịu. Đồng thời do sự
thay đổi về môi truờng pháp lý và chính sách của nhà nớc làm cho môi truờng
kinh tế cha ổn định do vậy làm cho sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn,
hàng hoá sản xuất ra không cạnh tranh nổi với thị trờng hàng ngoại nhập tràn
lan làm cho một số doanh nghiệp làm ăn bị thua lỗ, phá sản, làm đảo lộn
chính sách tín dụng của các ngân hàng, đây là nguyên nhân tác động mạnh mẽ
đến sự bất ổn mà hiện nay các ngân hàng thơng mại còn đang phải khắc phục
hậu quả.
- Do khách hàng: Năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng còn bị
hạn chế Một số doanh nghiệp khi vay họ lập phơng án kinh doanh rất hiệu quả

sản thế chấp.
Các quy định của pháp luật kế toán thống kê, kiểm toán cha đủ khả năng
và hiệu lực buộc các doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, thống kê kiểm
toán chính xác và kịp thời, hiện nay mới thực hiện bắt buộc đối với các doanh
nghiệp nhà nớc. Trên thực tế có đến 50% khách hàng không thực hiện đúng
quy định của pháp luật về kế toán thống kê. Đối với ngân hàng thì số liệu và
những thông tin để làm căn cứ cho vay lại không đúng và đầy đủ, do vậy dẫn
đến rủi ro.
Tín dụng thơng mại (Mua bán chịu) đang trở thành phổ biến trong giao
dịch thơng mại nhng cha có các chế định về lu thông kỳ phiếu thơng mại nên
xảy ra tình trạng thiếu dụng vốn, công nợ dây da, lừa đảo, chốn thuế, sử dụng
14
vốn vay ngân hàng sai mục đích, gây khó khăn đối với các cơ quan chức năng
trong việc kiểm soát.
- Do khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích: Nhiều doanh
nghiệp sử dụng tiền vay ngân hàng quay vòng không đúng đối tợng kinh
doanh, không đúng với phơng án, mục đích khi xin vay nên đã không trả đợc
nợ đúng hạn, thậm trí do khách hàng sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu t vào
tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản nên không trả đợc nợ đúng hạn.
- Do các doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau kể cả từ vốn vay của
ngân hàng, thậm trí còn lừa đảo. Có một số doanh nghiệp tuy đợc cấp giấy
phép hoạt động và đăng ký kinh doanh nhng thiếu vốn hoặc không có vốn
hoạt động, dẫn đến hiện tợng phổ biến là các doanh nghiệp cố tình chiếm
dụng vốn lẫn nhau, thậm trí còn lừa đảo rồi bỏ chốn làm cho doanh nghiệp
vay vốn ngân hàng không trả đợc nợ...Tình trạng chiếm dụng vốn trong xây
dựng cơ bản vẫn còn khá phổ biến, đã khiến cho một số đơn vị thi công xây
lắp hoặc một số doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đầu t vaò các công trình đổi
dất lấy cơ sở hạ tầng, do thị trờng bất động sản đóng băng nên không có khả
năng trả nợ ngân hàng, dẫn đến nợ quá hạn.
- Do hiện nay pháp lệnh kế toán thống kê cha đủ hiệu lực, bắt buộc các

lực thực sự của khách hàng do đó khi họ kinh doanh thua lỗ không thể trả nợ
đợc khách hàng là một tất yếu. Do lực lợng lao động trong hệ thống ngân hàng
hầu hết chuyển tiếp từ hệ thống ngân hàng thời bao cấp, số mới tuyển dụng lại
cha tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm, kiến thức về ngân hàng trong cơ chế thị
trờng. Do đó đôi khi cán bộ ngân hàng không bắt kịp mạch phát triển của nền
kinh tế, bỏ lỡ những cơ hội đầu t hoặc không đủ sức thẩm định những dự án
lớn phức tạp trong đầu t, do đó dễ dẫn đến rủi ro.
Kiến thức về thị trờng, xã hội của cán bộ tín dụng bị hạn chế cũng gây
cho món vay bị rủi ro vì trong nhiều trờng hợp khách hàng đã không nắm bắt
đợc nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng, không phân tích đợc cung cầu của thị
trờng dẫn đến mặt hàng kinh doanh đó bị ứ đọng, nếu cán bộ tín dụng là ngời
có kiến thức, có trình độ và kinh nghiệm, biết phân tích tình hình thị trờng giá
cả, cung cầu sẽ t vấn cho khách hàng, sẽ giúp cho khách hàng tránh đợc thiệt
hại trong kinh doanh và khi đó tiền vay của ngân hàng sẽ không bị rủi ro.
Việc chấp hành thể lệ, quy định tín dụng cha nghiêm túc. Còn một thực
tế nữa là việc đầu t của một số ngân hàng thơng mại cho các doanh nghiệp, cá
nhân vay vốn có nơi, có lúc vẫn còn mang tính chủ quan, thiếu sự quan tâm
khai thác và cung cấp kịp thời các thông tin về doanh nghiệp với trung tâm
thông tin tín dụng của ngân hàng nhà nớc để hạn chế rủi ro, nhiều nơi cha xem
16
xét kỹ hồ sơ, không điều tra kỹ khách hàng trong quá trình xét duyệt cho vay.
Thí dụ nh khách hàng đã vay nhiều ở ngân hàng, có d nợ quá hạn, nợ khoanh
đang bị kẹt mà vẫn đợc vay ở ngân hàng mới khác và rõ ràng nh vậy món vay
đó khó mà tránh đợc rủi ro. Bên cạnh đó đánh giá tài sản tín chấp lại không
chính xác, hồ sơ tài sản thế chấp không đợc lập và bảo quản đúng quy định,
nh vậy khi khách hàng không trả đợc nợ thì tài sản thế chấp có phát mại cũng
không thể hoàn trả đủ vốn cho ngân hàng hoặc tài sản thế chấp không đủ cơ sở
pháp lý để phát mại. Bên cạnh đó còn có trờng hợp cho vay để trả lãi tiền vay
hoặc cho vay đảo nợ nh cho vay và thu nợ một khách hàng cùng số tiền trong
một ngày hay cho vay để trả nợ ngân hàng, hoặc chuyển nợ quá hạn không kịp

vay sai mục đích, buôn bán lòng vòng, làm ăn kiểu chiếm đoạt, lừa đảo chiếm
dụng vốn của nhau dẫn đến gia tăng tỷ lệ nợ quá hạn ở một số ngân hàng
thơng mại hiện nay.
Kiểm tra, kiểm soát khách hàng cha thờng xuyên, kịp thời. Bên cạnh
công tác tôn trọng các quy trình tín dụng cần phải thờng xuyên tiến hành
kiểm tra, kiểm soát mới đảm bảo an toàn tín dụng. Tuy nhiên thời gian qua
việc làm này còn cha chủ động vì thờng chỉ khi nào có phát sinh vụ việc thì
lúc đó mới cử đoàn kiểm tra xuống. Do vậy chức năng ngăn ngừa là không
thực hiện đợc, mà kết quả của cuộc kiểm tra đó chỉ là để rút kinh nghiệm hoặc
là sửa chữa qua loa vì nó đã qua. Việc thanh tra kiểm tra nhằm nâng cao ý
thức trách nhiệm của đơn vị nhằm hạn chế thiệt hại trong công tác tín dụng là
cần thiết, nhng cũng cần tránh phiền hà vì có khi hết đoàn nọ đến đoàn kia nối
tiếp xuống đơn vị sẽ tạo ra sự căng thẳng và mệt mỏi cho đơn vị...
Ngay trong bản thân các ngân hàng thơng mại thiếu sự kiểm tra, kiểm
soát nội bộ tại chỗ đối với cán bộ thừa hành và cán bộ quản lý điều hành
nghiệp vụ tín dụng. Nhiều ngân hàng cha quan tâm đến hớng dẫn quy trình
nghiệp vụ tín dụng, chỉ đạo thực hiện quy trình cha nghiêm, kém hiệu lực và
còn nhiều sơ hở, thậm chí có những sai phạm.
Nói tóm lại, trình độ nhận thức và năng lực quản lý tín dụng của cán bộ
ngân hàng còn có những biểu hiện của sự yếu kém do đó đã dẫn đến rủi ro tín
dụng, nợ quá hạn ngày càng tăng.
18

Trích đoạn Giải pháp xử lý và hạn chế nợ quá hạn trong hệ thống NHTM VN hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status