kiến thức tổng quát về cơ thể người - Pdf 23

Cơ thể người

Bức vẽ Người Vitruviuscủa Leonardo da Vinci về con người với các tỷ lệ lý tưởng
Cơ thể người là toàn bộ cấu trúc vật lý của một con người. Cơ thể người bao
gồm đầu, thân và tứ chi (hai tay và hai chân). Chiều cao trung bình của một người
trưởng thành là khoảng 1,7 m (5 - 6 foot). Kích thước này được quyết định chủ yếu
bởi các gen di truyền. Hình dáng và thể trạng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như chế
độ ăn và thể dục, hoạt động hàng ngày. Khi con người đạt đến tuổi trưởng thành, cơ
thể có khoảng 100 ngàn tỉ tế bào. Mỗi tế bào là một phần của một cơ quan được thiết
kế để thực hiện các chức năng sống thiết yếu. Các hệ cơ quan của cơ thể bao gồm: hệ
vận động, các hệ mạch (hệ tuần hoàn, hệ bạch huyết), hệ miễn dịch, hệ hô hấp, hệ tiêu
hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh, hệ nội tiết vàhệ sinh dục nam hoặc nữ.
Khái quát về cơ thể người
Cấu tạo chính
Cơ thể người được bao bọc bởi một lớp da. Trên da có nhiều lông nhỏ, mọc không đều
nhau. Trong da có mạch máu, đầu mút các dây thần kinh và tuyến mồ hôi. Da bảo vệ
các cơ quan trong cơ thể tránh được những ảnh hưởng có hại của môi trường ngoài,
góp phần giữ nhiệt độ cơ thể không đổi. Dưới da là lớp mỡ, dưới lớp mỡ
là cơ và xương. Cơ tạo nên hình dạng ngoài cơ thể, xương làm thành cái khung bảo vệ
cơ thể và các nội quan.
Các phần cơ thể
Các phần cơ thể, hay còn gọi là các khoang cơ thể, là những khoảng không gian trong
cơ thể chứa đựng và bảo vệ các cơ quan và hệ cơ quan, bao gồm:
Khoang sọ và ống xương sống: là các khoang xương chứa bộ não và tủy sống, nhờ
đó mà các bộ phận quan trọng này của hệ thần kinh được bảo vệ chặt chẽ.
Khoang ngực: là khoang được giới hạn trong lồng ngực, ở phía trên cơ hoành ngăn
cách với khoang bụng. Trong khoang này chứa các bộ phận chủ yếu của hệ hô
hấp và hệ tuần hoàn như tim, hai lá phổi (ngoài ra còn có một bộ phận của hệ tiêu
hóa đi qua khoang này là thực quản).
Khoang bụng: nằm bên dưới cơ hoành, là khoang cơ thể lớn nhất. Khoang này
chứa gan, ruột, dạ dày, thận, tử cung (ở nữ), là các cơ quan của hệ tiêu hóa, hệ bài

nhau để tạo hợp tử rồi đến thai nhi, bắt đầu thời kì mang thai ở người mẹ
Sự phối hợp hoạt động của các hệ cơ quan
Cơ thể là một khối thống nhất. Sự hoạt động của các cơ quan trong một hệ cũng như
sự hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể đều luôn luôn thống nhất với nhau. Ví
dụ: khi chạy, hệ vận động làm việc với cường độ lớn. Lúc đó, các hệ cơ quan khác
cũng tăng cường hoạt động, tim đập nhanh và mạnh hơn, mạch máu dãn (hệ tuần
hoàn), thở nhanh và sâu (hệ hô hấp), mồ hôi tiết nhiều (hệ bài tiết), Điều đó chứng
tỏ các hệ cơ quan trong cơ thể có sự phối hợp hoạt động. Các cơ quan trong cơ thể có
một sự phối hợp hoạt động nhịp nhàng, đảm bảo tính thống nhất. Sự thống nhất đó
được thực hiện nhờ sự điều khiển của hệ thần kinh (cơ chế thần kinh) và nhờ dòng
máu chảy trong hệ tuần hoàn mang theo các hooc-môn do các tuyến nội tiết tiết ra (cơ
chế thể dịch).
Tế bào cơ thể người
Một tế bào cơ thể người (động vật) điển hình gồm: (1) nhân con, (2)nhân, (3) ri-bô-
xôm, (4) túi tiết, (5) lưới nội chất hạt, (6) bộ máy Gôn-gi, (7) khung xương tế bào,
(8) lưới nội chất trơn, (9) ti thể, (10) không bào, (11) chất tế bào, (12) li-zô-xôm,
(13) trung thể
Cấu tạo và chức năng các bộ phận trong tế bào
Tất cả các cơ quan ở người đều cấu tạo bằng tế bào. Cơ thể người có số lượng tế bào
rất lớn khoảng 75 nghìn tỉ (75 × 10¹²).Có nhiều loại tế bào khác nhau về hình dạng,
kích thước và chức năng. Có tế bào hình cầu (tế bào trứng), hình đĩa (hồng cầu), hình
khối (tế bào biểu bì), hình nón, hình que (tế bào võng mạc), hình thoi (tế bào cơ), hình
sao (tế bào thần kinh — nơ-ron), hình sợi (tóc, lông) hoặc giống các sinh vật khác
(bạch cầu, tinh trùng), Có tế bào dài, ngắn, có tế bào lớn, bé khác nhau và chức
năng của các tế bào ở các cơ quan cũng khác nhau, ngay cả ở trong cùng một cơ quan
cũng khác nhau. Tế bào lớn nhất là tế bào trứng, có đường kính khoảng 100 μm (0,1
mm), nằng bằng 175000 tinh trùng; tinh trùng là tế bào nhỏ nhất; dài nhất là tế bào
thần kinh (nơ-ron). Mặc dù khác nhau về nhiều mặt nhưng loại tế bào nào cũng có 3
phần cơ bản: màng sinh chất, chất tế bào và nhân.
Các

các nang nảy chồi từ chồng túi, thu nhận, hoàn thiện, phân phối,
tích trữ sản phẩm.
Trung
thể
Là một trung tâm tổ chức các ống vi thể, gồm hai trung tử xếp
thẳng góc, xung quanh là chất vô định hình, tham gia vào quá
trình phân chia tế bào.
Nhân
Hình bầu dục hoặc hình cầu, bên ngoài có màng nhân bao bọc,
trong nhân có dịch nhân và nhiều nhân con giàu ARN (a-xit ri-
bô-nu-clê-ic), là nơi điều khiển mọi hoạt động sống củatế bào
Chất
nhiễm
sắc
Nằm trong dịch nhân. Ở một giai đoạn nhất định, khi tập trung lại
làm thành nhiễm sắc thể, chứa ADN (a-xit đê-ô-xi-ri-bô-nu-clê-
ic) đóng vai trò di truyền của cơ thể
Nhân
con
Chứa rARN (ARN ri-bô-xôm) cấu tạo nên ri-bô-xôm
Thành phần hóa học của tế bào
Tế bào gồm một hỗn hợp phức tạp gồm nhiều chất hữu cơ và các chất vô cơ. Các chất
hữu cơ chính là prô-tê-in, glu-xit, li-pit.
 Prô-tê-in, hay còn gọi là chất đạm, là một chất phức tạp gồm có cac-bon (C), hi-
đrô (H), ô-xi (O), ni-tơ (N), lưu huỳnh (S) và một số nguyên tố khác. Phân
tử của prô-tê-in rất lớn, chứa đến hàng nghìn cácnguyên tử nên thuộc vào
loại đại phân tử. Prô-tê-in là thành phần cơ bản của cơ thể, có trong tất cả các
tế bào.
 Glu-xit, hay còn gọi là chất đường bột, là những hợp chất loại đường và bột. Nó
gồm có C, H và O trong đó tỉ lệ giữa H và O luôn là 2H ÷ 1O. Trong cơ thể,

cơ quan khác nhau thực hiện những chức năng khác nhau nên tế bào có cấu
trúc và hình dạng khác nhau. Một tập hợp các tế bào chuyên hóa, có cấu tạo
giống nhau, đảm nhân chức năng nhất định gọi là mô. Ở một số loại mô còn
có các yếu không có cấu trúc tế bào như huyết tương trong máu; can-xi, phôt-
pho và cốt giao có trong xương. Trong cơ thể thực vật và động vật có rất
nhiều loại mô: mô nâng đỡ, mô mềm, mô phân sinh, nhưng ở người chỉ có
4 loại mô: mô biểu bì, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh.
Mô biểu bì và mô liên kết: Mô biểu bì và mô liên kết là hai loại mô đặc biệt xuất hiện
nhiều trong cơ thể người, hình dạng, cấu tạo, tính chất, chức năng trái ngược
nhau.
Mô biểu bì: có cấu tạo chủ yếu là tế bào, chất gian bào rất ít hoặc không đáng kể. Có
hai loại mô biểu bì: biểu bì bao phủ và biểu bì tuyến.
1.Biểu bì bao phủ thường có một hay nhiều lớp tế bào có hình dáng giống nhau hoặc
khác nhau. Nó thường ở bề mặt ngoài cơ thể (da) hay lót bên trong các cơ quan rỗng
như ruột, bóng đái, thực quản,khí quản, miệng.
2.Biểu bì tuyến nằm trong các tuyến đơn bào hoặc đa bào. Chúng có chức năng tiết
các chất cần thiết cho cơ thể (tuyến nội tiết, tuyến ngoại tiết) hay bài tiết ra khỏi cơ thể
những chất không cần thiết (tuyến mồ hôi).
Mô liên kết: có hầu hết ở các cơ quan. Thành phần chủ yếu của mô liên kết là chất phi
bào, trong đó có các tế bào nằm rải rác. Có 2 loại mô liên kết:
1.Mô liên kết dinh dưỡng: máu, bạch huyết có chức năng vận chuyển các chất dinh
dưỡng nuôi cơ thể.
2.Mô liên kết đệm cơ học: mô sợi, mô sụn, mô xương. Mô sợi có ở hầu hết các cơ
quan, có chức năng làm đệm cơ học, đồng thời cũng dẫn các chất dinh dưỡng
(mô mỡ, dây chằng, gân cũng là loại mô sợi đã được biến đổi). Mô sụn thường nằm ở
các đầu xương, có cấu tạo đặc biệt, yếu tố phi bào rất phát triển. Các tế bào nằm rải rác
hoặc thành từng nhóm. Mô xương gồm có 2 loại: mô xương xốp và mô xương cứng.
Xương xốp ở các đầu xương, chứa nhiều tủy đỏ. Xương cứng ở thân xương được cấu
tạo bởi nhiều trụ xương, trong trụ xương có các dây thần kinh, mạch máu và các tế bào
xương.

cành cây gọi là sợi nhánh; sợi dài mảnh, thường có các vỏ làm bằng mi-ê-lin gọi
là bao mi-ê-lin bọc quanh suốt chiều dài gọi là sợi trục. Giữa các bao mi-ê-lin có các
khoảng cách gọi là eo răng-vi-ê. Đầu tận cùng tua dài phân thành nhiều nhánh nhỏ để
phân bố vào các cơ quan trong cơ thể hay để tiếp xúc với sợi nhánh của các nơ-ron
khác, mút các nhánh nhỏ đó gọi là cúc xi-náp. Thân nơ-ron và các sợi nhánh tạo thành
chất xám trong bộ não, tủy sống và các hạch thần kinh. Sợi trục nối giữa trung ương
thần kinh với các cơ quan, chúng đi chung với nhau thành từng bó gọi là dây thần
kinh.
Nơ-ron có hai chức năng cơ bản: cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh.
2. Cảm ứng là khả năng tiếp nhận các kích thích và phản ứng lại các kích thích đó
dưới hình thức phát sinh các xung thần kinh.
2. Dẫn truyền là khả năng lan truyền các xung thần kinh trong dây thần kinh. Người ta
phân biệt xung li tâm và xung hướng tâm. Xung li tâm đi từ các nơ-ron li tâm ở não và
tủy sống đến các cơ quan, xung hướng tâm truyền từ các cơ quan về trung ương thần
kinh theo các dây hướng tâm của nơ-ron hướng tâm. Vận tốc các xung thần kinh ở
các động vật rất khác nhau, ở những động vật bậc cao thì vận tốc này lớn. Ở người vận
tốc lớn nhất có thể lên tới 120 m/s, khi đó các phản ứng xảy ra mau chóng và chính
xác; như cũng có khi chỉ đạt 5 mm/s. Nhờ vận tốc xung thần kinh mà ta nói một người
nhanh nhẹn hay chậm chạp.
Có 3 loại nơ-ron:
 Nơ-ron hướng tâm (nơ-ron cảm giác) có thân nằm ngoài trung ương thần
kinh do những sợi trục của các nơ-ron hướng tâm tạo nên. Những dây này
dẫn xung thần kinh ngoại biên về trung ương thần kinh.
 Nơ-ron trung gian (nơ-ron liên lạc) nằm trong trung ương thần kinh, gồm
những sợi hướng tâm và li tâm, làm nhiệm vụ liên lạc. Phần lớn các dây
thần kinh trong cơ thể là dây pha, dẫn các xung thần kinh theo cả hai
chiều.
 Nơ-ron li tâm (nơ-ron vận động) có thân nằm trong trung ương thần kinh
(hoặc ở hạch thần kinh sinh dưỡng), được tạo nên bởi những sợi trục
hướng ra cơ quan phản ứng (cơ, tuyến) và dẫn các xung li tâm từ bộ não

và cơ thể (quá trình đồng hóa) với sự tham gia của các hệ en-zim có trong tế bào.
Chính những hợp chất đơn giản này lại là kết quả của quá trình biến đổi những hợp
chất phức tạp có trong thành phần thức ăn lấy ở môi trường ngoài nhờ các cơ quan tiêu
hóa. Trong quá trình hoạt động của các tế bào (co rút của tế bào cơ, tiết của tế bào
tuyến, truyền hưng phấn của tế bào thần kinh, hoạt động đổi mới thành phần của tế
bào, ) đòi hỏi phải tiêu dùng năng lượng. Nguồn năng lượng này chính là do quá
trình ô-xi hóa các hợp chất tích năng lượng có trong thành phần của tế bào cung cấp
(quá trình dị hóa), nhờ ô-xi của không khí bên ngoài được cơ quan hô hấp tiếp nhận
theo dòng máu và thông qua nước mô tới tận các tế bào. Kết quả của quá trình dị hóa,
một mặt tạo ra năng lượng, nhưng mặt khác cũng tạo ra các sản phẩm phân hủy, không
cần thiết cho cơ thể, thậm chí còn có hại. Cuối cùng các chất này sẽ được thải ra ngoài
qua các cơ quan bài tiết (thận, phổi, các tuyến mồ hôi, ). Sự vận chuyển các chất
dinh dưỡng do cơ quan tiêu hóa cung cấp cùng ô-xi từ cơ quan hô hấp tới các tế bào
đảm bảo cho quá trình đồng hóa và dị hóa ở tế bào, đồng thời chuyển các sản phẩm
phân hủy từ tế bào đến các cơ quan bài tiết theo dòng máu là nhờ các cơ quan tuần
hoàn.
Như vậy, hoạt động của các cơ quan trong cơ thể không biệt lập mà phối hợp, ăn khớp
với nhau một cách nhịp nhàng để thực hiện một quá trình sinh lí cơ bản, đó là quá
trình trao đổi chất ở phạm vi tế bào, giữa tế bào với môi trường trong cơ thể (máu,
nước mô và bạch huyết) để đảm bảo cho quá trình đồng hóa và dị hóa (quá
trình chuyển hóa vật chất và năng lượng) ở trong tế bào có thể được thực hiện một
cách liên tục. Các quá trình trên thực hiện được lại nhờ chính sự trao đổi chất với môi
trường ngoài thông qua các cơ quan tiêu hóa, hô hấp, bài tiết và nhờ cơ quan tuần
hoàn làm môi giới trung gian. Sự thay đổi hoạt động sống của cơ thể liên quan đến sự
tăng giảm nhu cầu vật chất và năng lượng của các tế bào, từ đó sẽ ảnh hưởng tới toàn
bộ hoạt động của các cơ quan của cơ thể. Điều khiển, điều hòa và phối hợp hoạt động
của các cơ quan trong đời sống của cơ thể cho phù hợp với sự thay đổi hoạt động từng
lúc, ở từng nơi, phù hợp với nhu cầu trao đổi chất của cơ thể là do hệ thần kinh đảm
nhiệm, thực hiện bằng cơ chế phản xạ: phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều
kiện (ảnh hưởng thần kinh) và có sự tham gia, hỗ trợ của các tuyến nội tiết (ảnh

non, ruột già, ruột thừa, hậu môn
· Các tuyến tiêu hóa: tuyến nước bọt, tuyến mật, tuyến ruột, tuyến tụy
Hệ bài
tiết
Hệ tiết niệu: thận, ống dẫn nước tiểu, bóng đái (bàng quang) ·
Hệ bài tiết mồ hôi: da, tuyến mồ hôi · Hệ bài tiết cac-bô-
nic (CO
2
): mũi, đường dẫn khí, phổi
Hệ vỏ
bọc
Da: lớp biểu bì, lớp bì, lớp mỡ dưới da · Cấu trúc đi
kèm: lông - tóc, móng, chỉ tay và vân tay
Hệ thần
kinh
Thần kinh trung ương: não (gồm trụ não, tiểu não, não trung gian, đại
não), tủy sống · Thần kinh ngoại biên: dây thần kinh (dây thần kinh
não, dây thần kinh tủy), hạch thần kinh ·
Phân loại: hệ thần kinh vận động, hệ thần kinh sinh dưỡng (gồm phân hệ
giao cảm và phân hệ đối giao cảm)
Hệ giác
quan
mắt - thị giác (màng cứng, màng mạch, màng lưới), tai - thín h giác (tai
ngoài, tai giữa, tai trong) · mũi - khứu giác (lông niêm mạc), lưỡi – vị
giác (gai vị giác), da - xúc giác (thụ quan)
Hệ nội
tiết
Nội tiết não: vùng dưới đồi, tuyến tùng, tuyến yên · Nội tiết ngực: tuyến
giáp, tuyến cận giáp, tuyến ức · Nội tiết bụn g : tuyến trên thận, tuyến
tụy, tuyến sinh dục (buồng trứng (ở nữ), tinh hoàn (ở nam))

chức năng đứng thẳng và lao động.
Các loại xương
Căn cứ vào hình dạng cấu tạo, người ta phân biệt 3 loại xương là :
1.Xương dài : hình ống, giữa chứa tủy đỏ ở trẻ em và chứa mỡ vàng ở người trưởng
thành như xương ống tay, xương đùi, xương cẳng chân, Loại xương này có nhiều
nhất.
2.Xương ngắn : kích thước ngắn, chẳng hạng như xương đốt sống, xương cổ chân, cổ
tay,
3.Xương dẹt : hình bản dẹt, mỏng như xương bả vai, xương cánh chậu, các xương sọ.
Loại xương này ít nhất.
Các khớp xương
Nơi tiếp giáp giữa các đầu xương gọi là khớp xương. Có ba loại khớp là : khớp
động như các khớp ở tay, chân; khớp bán động như khớp các đốt sống và khớp bất
động như khớp ở hộp sọ.
Khớp động là loại khớp cử động dễ dàng và phổ biến nhất trong cơ thể người như
khớp xương đùi và xương chày, khớp xương cánh chậu và xương đùi. Mặt khớp ở mỗi
xương có một lớp sụn trơn, bóng và đàn hồi, có tác dụng làm giảm sự cọ xát giữa hai
đầu xương. Giữa khớp có một bao đệm chứa đầy chất dịch nhầy do thành bao tiết ra
gọi là bao hoạt dịch. Bên ngoài khớp động là những dây chằng dai và đàn hồi, đi từ
đầu xương này qua đầu xương kia làm thành bao kín để bọc hai đầu xương lại. Nhờ
cấu tạo đó mà loại khớp này cử động dễ dàng. Khớp động phức tạp nhất trong cơ thể
người là khớp gối.
Khớp bán động là loại khớp mà giữa hai đầu xương khớp với nhau thường có một đĩa
sụn làm hạn chế cử động của khớp. Khớp bán động điển hình là khớp đốt sống, ngoài
ra còn có khớp háng. Ở trẻ em, có xương mông và xương ấy các đĩa sụn rất đàn hồi
nên dễ uốn lưng mềm mại hay xoạc chân ra dễ dàng. Trái lại ở người trưởng thành và
nhất là người già, các đĩa sụn dẹp lại làm cột sống khó cử động hơn, xoạc chân ra khó
khăn.
Khớp bất động : Trong cơ thể có một số xương được khớp cố định với nhau, như
xương hộp sọ và một số xương mặt. Các xương này khớp với nhau nhờ các răng

giao và một số chất vô cơ là các muối can-xi. Chất khoáng làm cho xương bền chắc,
cốt giao đảm bảo tính mềm dẻo. Tỉ lệ cốt giao thay đổi tùy theo tuổi. Trong
xương người trưởng thành, cốt giao chiếm 1/3 còn các muối can-xi chiếm khoảng 2/3.
Nếu ta đem tách riêng hai chất này thì xương không đạt đủ hai đặc tính trên. Thí
nghiệm : lấy hai xương đùi ếch : một xương ngâm trong dung dịch a-xit clo-hi-đric
(HCl) 10% để hòa tan hết các muối can-xi, còn một xương đốt trên ngọn lửa đèn cồn
để đốt cháy hết cốt giao. Sau 10 - 15 phút lấy đoạn xương ngâm trong HCl 10% ra ta
dễ dàng uốn cong, thậm chí thắt nút lại được như một sợi dây đoạn xương này vì nó
rất mềm. Đợi đến khi không còn khói bay lên ta tắt đền cồn rồi bóp nhẹ phần xương
đã đốt thì thấy nó vỡ vụn ra. Tuy vậy khi lấy hai đoạn xương ra chúng vẫn giữ nguyên
hình dạng. Ở trẻ em, cốt giao lại chiếm tỉ lệ cao hơn so với muối can-xi, vì vậy xương
trẻ em mềm dẻo hơn xương người lớn.
Hệ cơ
Cơ bám vào xương, dưới sự chỉ đạo của hệ thần kinh, cơ co làm cho xương cử động,
vì vậy các cơ này gọi là cơ xương (còn gọi là cơ vân). Cơ thể người có khoảng 600 cơ
tạo thành hệ cơ, chưa kể đến các cơ vận động nội tạng (cơ tạng hay cơ trơn) và cơ vận
động tim (cơ tim ). Tùy vị trí trên cơ thể và tùy chức năng mà cơ có hình dạng khác
nhau : hình tấm, hình lông chim, nhiều đầu hay nhiều thân, điển hình nhất là bắp
cơ (vẫn quen gọi là con chuột) ở cánh tay có hình thoi dài.
Cấu tạo và tính chất của cơ
Cấu tạo của bắp cơ và tế bào cơ
Bắp cơ gồm nhiều bó cơ, mỗi bó gồm nhiều sợi cơ (tế bào cơ) nắm dọc theo chiều dài
bắp cơ. Hai đầu bắp cơ thuôn lại, dài ra thành gân bám vào các xương qua khớp, phần
giữa phình to gọi là bụng cơ. Bắp cơ càng khỏe, bũng cơ càng phình làm nổi lên cơ
bắp. Trong bắp cơ có nhiều mạch máu và dây thần kinh, chia thành nhiều nhánh nhỏ
đi đến từng sợi cơ. Nhờ thế mà cơ tiếp nhận được chất dinh dưỡng và các kích thích.
Mỗi sợi cơ là một tế bào cơ dài 10 - 12 cm, có màng sinh chất, chất tế bào và
nhiều nhân hình bầu dục. Trong chất tế bào có nhiều tơ cơ nhỏ nằm song song. Mỗi tơ
cơ gồm những đoạn màu sáng và màu sẫm nằm xen kẽ nhau tạo thành vân ngang, đó
là các đĩa sáng và đĩa tối. Tơ cơ có hai loại là tơ cơ dày và tơ cơ mảnh xếp xen kẽ

Khối xương sọ1. Đường khớp đầu; 2. Xương trán; 3. Xương bướm; 4. Lỗ trên mắt; 5. Hốc mắt;
6. Xương mũi; 7. Xương lệ; 8. Xương gò má; 9. Lỗ dưới mắt; 10. Xương hàm
trên; 11. Xương hàm dưới; 12. Mấu nhọn xương thái dương; 13. Lỗ tai ngoài; 14.
Mấu sau xương thái dương; 15. Xương thái dương; 16. Xương chẩm; 17. Đường
khớp chẩm - thái dương; 18. Xương đỉnh.
Xương đầu của động vật có xương sống và người, cấu tạo từ sụn và (hay) xương, bao
bọc và bảo vệ não, chứa nhiều giác quan quan trọng, là nơi bám của các cơ tạo thành
phần đầu của hệ hô hấp và tiêu hoá. Trong quá trình tiến hoá, hình dạng XS thay đổi
theo sự phát triển của não bộ, các giác quan, các cơ của động vật, và được chia thành
hộp sọ và xương mặt.
Ở người, hộp sọ bao quanh não, gồm xương trán, 2 xương thái dương, 2 xương đỉnh, 1
xương chẩm ở phía sau mũi và xương bướm. Xương mặt gồm có xương mũi, xương
gò má, xương hàm. Khoang XS được nối với ống sống qua lỗ chẩm lớn. Các mảnh XS
ở người trưởng thành liên kết với nhau bằng các đường khớp đầu. Ở trẻ sơ sinh, tại
những chỗ nối các mảnh XS có những phần xương chưa khép kín gọi là thóp (x.
Thóp).
Hệ tuần hoàn

Hệ tuần hoàn của người. Màu đỏ là máu chứa ôxy, màu lam là máu đã hết ôxy.
Hệ tuần hoàn là hệ cơ quan có chức năng tuần hoàn máu trong cơ thể của hầu hết
các động vật.
Lý do
1. Diện tích bề mặt cơ thể rất nhỏ so với thể tích cho nên sự khuyếch tán của các
chất qua bề mặt cơ thể không đáp ứng được yêu cầu của cơ thể.
2. Khoảng cách bên trong rất lớn gây khó khăn cho sự khuếch tán.
3. Phần lớn bề mặt cơ thể của động vật sống trên cạn không thấm nước để giữ
nước.

các mạch bạch huyết. Chúng sẽ đem dịch mô trở lại vòng tuần hoàn với áp lực thấp
hơn áp lực của dịch mô. Hệ thống tuần hoàn kiểu này hoạt động rất có hiệu quả và là
nhân tố quan trọng trong quá trình tiến hóa của các loài động vật có xương sống cỡ
lớn.
Hệ thống tuần hoàn đơn
Hệ thống tuần hoàn đơn là hệ thống tuần hoàn mà máu chỉ đi qua tim một lần trước
khi đến các mô của cơ thể. Các loài cá thường có hệ thống tuần hoàn như thế này vì
chúng có được đệm đỡ từ môi trường xung quanh và thân nhiệt thay đổi theo nhiệt độ
môi trường. Trong hệ tuần hoàn đơn, máu từ tim đi ra dưới áp suất thấp và chảy
đến mang qua động mạch vào mang. Sau khi được ô-xy hóa, máu được tập trung vào
động mạch ra mang, chúng gom lại để thành một mạch máu lớn duy nhất gọi là động
mạch chủ lưng chảy dọc theo thân cá. Các nhánh của động mạch chủ lưng trực tiếp đi
đến các cơ quan trong cơ thể. Sau khi được khử ô-xy, máu được tập trung dưới áp suất
thấp vào một khoang chứa máu lớn gọi là xoang tĩnh mạch. Các xoang chứa máu có
thể tích lớn, từ đó máu chảy đến tim.
Hệ thống tuần hoàn kép
Hệ thống tuần hoàn kép là hệ thống tuần hoàn trong đó máu sau khi được ô-xy hóa sẽ
trở lại tim lần thứ hai trước khi được phân phối đến các mô trong cơ thể. Do đi qua tim
hai lần nên áp lực của máu và tốc độ dòng chảy rất cao. Hệ thống tuần hoàn kép gồm
hai vòng tuần hoàn nhỏ hơn là vòng tuần hoàn phổi và vòng tuần hoàn hệ thống.
Lưỡng cư, Bò sát, Chim và Thú có hệ thống tuần hoàn kép như thế này.
 Vòng tuần hoàn phổi: Máu sau khi bị khử ô-xy được đưa vào tâm nhĩ phải ở
trong tim, từ đây máu được chuyển sang tâm thất phải và được bơm
lên phổi qua động mạch phổi. Ở phổi, máu giải thoát khí CO
2
và hấp thụ ô-xy rồi
quay trở lại tim qua tĩnh mạch phổi.
 Vòng tuần hoàn hệ thống: máu chảy dưới áp lực cao từ tâm thất trái qua động
mạch chủ để phân phối đi khắp cơ thể. Sau khi trao đổi chất với các tế bào trong
mô, máu trở lại tâm nhĩ phải qua tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới kết thúc

Tim người
Tim người nằm trong ngực, giữa hai lá phổi, dưới là cơ hoành, trên là các ống của tâm
trung thất, trước là xương ức, sau là cột xương sống. Tim người gồm có 4 ngăn: 2 tâm
nhĩ phía trên và 2 tâm thất phía dưới. Cơ tim của tâm thất dày hơn tâm nhĩ, của tâm
thất trái dày hơn tâm thất phải.Tâm nhĩ trái nối với tĩnh mạch phổi, tâm thất trái nối
với động mạch chủ. Tâm nhĩ phải nối với tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới,
tâm thất phải nối với động mạch phổi.
Khi tâm nhĩ trái co, máu sẽ dồn xuống tâm thất trái, tâm nhĩ phải co, máu dồn xuống
tâm thất phải, tâm thất trái co dồn máu vào động mạch chủ, tâm thất phải co dồn máu
vào động mạch phổi. Giữa tâm thất và tâm nhĩ có van nhĩ thất giúp cho máu không
chảy ngược lại tâm nhĩ. Van này ở bên phải có ba lá (van ba lá) và bên trái có hai lá
(van hai lá). Ở gốc động mạch với tâm thất có van bán nguyệt (do có hình bán nguyệt),
còn gọi là van tổ chim giúp máu không chảy ngược trở lại tâm thất.
Tim co dãn theo chu kì, mỗi chu kì gồm ba pha: pha nhĩ co (0,1 giây), pha thất co (0,3
giây) và pha dãn chung(0,4 giây).
Máu

Hồng cầu, tiểu cầu và bạch cầu dưới kính hiển vi điện tử quét. Heme.
Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào
(hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Chức năng chính của của máu là cung
cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong
quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí carbonic và acid lactic. Máu cũng là phương
tiện vận chuyển các của các tế bào (cả tế bào có chức năng bảo vệ cơ thể lẫn tế bào
bệnh lý) và các chất khác nhau (các amino acid, lipid, hormone) giữa các tổ chức và
cơ quan trong cơ thể. Các rối loạn về thành phần cấu tạo của máu hay ảnh hưởng đến
sự tuần hoàn bình thường của nó có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan
khác nhau.
Có hai vòng tuần hoàn tương đối độc lập về mặt giải phẫu nhưng liên quan chặt chẽ về
mặt chức năng: tuần hòa phổi (hay còn gọi tiểu tuần hoàn) và tuần hoàn hệ thống
(hay còn gọi là đại tuần hoàn). Hai vòng tuần hoàn này đều hoạt động chủ yếu bởi sức

• Albumin Các yếu tố đông máu
• Các globulin miễn dịch (immunoglobulin) hay kháng thể (antibody)
• Các hormone Các protein khác
• Các chất điện giải (chủ yếu là Natri và Clo, ngoài ra còn có can xi, kali,
phosphate.
• Các chất thải khác của cơ thể.
Trong cơ thể, dưới tác động của cơ tim, hệ thần kinh thực vật và các hormone, máu
lưu thông không theo quy luật của lực trọng trường. Ví dụ não là cơ quan nằm cao
nhất nhưng lại nhận lượng máu rất lớn (nếu tính theo khối lượng tổ chức não) so với
bàn chân, đặc biệt là trong lúc lao động trí óc.
Ở người và các sinh vật sử dụng haemoglobin khác, máu được ôxy hóa có màu đỏ tươi
(máu động mạch). Máu khử ôxy có màu đỏ bầm (máu tĩnh mạch).
Chức năng của máu
• Hô hấp: Huyết sắc tố lấy oxi từ phổi đem cung cấp cho tế bào và vận chuyển
khí CO2 từ tế bào ra phổi để thải ra ngoài.
• Dinh dưỡng: Máu vận chuyển các chất dinh dưỡng: Axít amin, axit béo, glucose
từ những mao ruột non đến các tế bào và các tổ chức trong cơ thể.
• Bài tiết: Máu đem cặn bã của quá trình chuyển hóa đến các cơ quan bài tiết.
• Điều hòa hoạt động của cơ thể: Máu chứa các hormon do các tuyến nội tiết tiết
ra có tác dụng điều hòa trao đổi chất và các hoạt động khác.
• Điều hòa thân nhiệt: Máu chứa nhiều nước có tỷ lệ nhiệt cao, có tác dụng điều
hòa nhiệt ở các cơ quan trong cơ thể.
• Bảo vệ cơ thể: Trong máu có nhiều loại bạch cầu có khả năng thực bào, tiêu diệt
vi khuẩn. Máu chứa kháng thể và kháng độc tố có tác dụng bảo vệ cơ thể.
Sinh lý máu
Vòng đời
Trong quá trình phát triển phôi thai, đầu tiên quá trình tạo máu (haematopoiesis) xuất
hiện ở túi noãn hoàng (york sack (?)hay la` yolk sack) rồi sau đó ở gan. Sau khi trẻ ra
đời, quá trình tạo máu chủ yếu xảy ra ở tủy xương (phần tủy đỏ). Thành phần protein
(nhất là albumin) được sản xuất chủ yếu bởi gan. Hormone dĩ nhiên được sản xuất bởi

Haemoglobin của người lớn là Hb A (A có nguồn gốc từ Adult: trưởng thành). Nhờ ái
tính cao của HbF mà thai nhi có thể thu nhận một lượng thỏa đáng ôxy từ nguồn cung
cấp có độ bão hòa ôxy thấp này.
Ở côn trùng, máu không có nhiệm vụ vận chuyển ôxy. Các lỗ mở nhỏ trên cơ thể các
sinh vật này cũng gọi là khí quản cho phép ôxy môi trường khuyếch tán trực tiếp vào
các tổ chức. Máu ở côn trùng chỉ có nhiệm vụ vận chuyển chất dinh dưỡng đến tổ
chức và đào thải chất cặn bã.
Tương tự như ở côn trùng, một số các động vật không xương sống nhỏ cũng thu nhận
ôxy bằng cách khuyếch tán trực tiếp từ môi trường vào huyết tương. Các động vật lớn
cần phải có các protein hô hấp để nâng cao năng lực vận chuyển ôxy. Haemoglobin
(màu đỏ chứa sắt) là loại protein hô hấp thường gặp nhất trong tự nhiên. Haemocyanin
(màu xanh dương) có chứa đồng hiện hiện ở các loài giáp xác và động vật thân mềm.
Ở nhiều động vật không xương sống các protein mang ôxy này vận chuyển tự do trong
máu. Ngược lại, động vật có xương sống chứa những hồng cầu được biệt hóa, nhờ đó
cơ thể có thể chứa được một lượng lớn các sắc tố hô hấp này mà không làm tăng độ
nhớt của máu hay phá hủy các cơ quan có chức năng lọc như thận.
Vận chuyển khí carbonic
Khi máu động mạch lưu thông qua các mao mạch, khí carbonic khuyếch tán từ tổ chức
vào máu. Một lượng khí carbonic sẽ được hòa tan trong máu. Một phần khác kết hợp
với Hb để tạo nên dạng carbamino hemoglobin. Phần carbonic còn lại được chuyển
đổi thành bicarbonate và ion hydro. Phần lớn khí carbonic được vận chuyển trong máu
dưới dạng ion bicarbonate.
Vận chuyển ion hydro
Một lượng oxyhaemoglobin mất ôxy trở thành Hb khử ôxy. Dạng Hb khử ôxy này có
ái tính với ion hydro cao hơn so với oxyhaemoglobin. Lượng Hb khử này tăng cao sau
khi máu đã trao đổi khí ở tổ chức, đồng thời lúc này ion hydro cũng gia tăng. Nhờ đó
phần lớn H+ được Hb khử vận chuyển.
Sinh lý bệnh
Y học thời cổ đại
Y học thời Hippocrates xem máu là một trong bốn dịch thể (cùng với niêm dịch, mật

con trai bị bệnh và 50% con gái mang gene bệnh. Có nhiều thể khác nhau nhưng cơ
chế chung là do thiếu một yếu tố đông máu do đó làm rối loạn cơ chế đông cầm máu
bình thường. Bệnh thường xuất hiện khi trẻ bắt đầu chạy nhảy và té ngã. Biến chứng
nặng nề là xuất huyết nội tạng, hoặc chảy máu khi làm các thủ thuật như nhổ răng,
phẫu thuật, do chấn thương….Biến chứng lâu dài (nếu trẻ sống đến tuổi trưởng thành)
thường gặp là thoái hóa các khớp chịu lực (như khớp gối) do máu chảy vào trong khớp
dần dần phá hủy cấu trúc bình thường.
Bệnh bạch cầu cấp (hay còn gọi với các tên khác như bệnh máu trắng, bệnh lơ xê mi
cấp): là một nhóm gồm nhiều các bệnh ung thư máu có nguồn gôc từ các tổ chức tạo
máu.
Mất máu nặng do chấn thương, phẫu thuật hoặc do tai biến sản khoa cần phải truyền
máu.
Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em và phụ nữ mang thai hoặc thiếu máu do nhiễm vi
sinh vật (nhiễm giun móc) thường gặp ở các nước nghèo và vùng nhiệt đới.
Thalasemia (bệnh thiếu máu vùng biển): một bệnh lý di truyền phát hiện đầu tiên ở
vùng Địa Trung Hải và sau đó tìm thấy ở hầu hết các vùng địa lý và chủng tộc.
Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm: cũng là một bệnh di truyền, thường gặp ở người
gốc châu Phi.
Máu cũng là một vector truyền các bệnh nhiễm trùng như AIDS, viêm gan virus B, C,
nhiễm virus vùi hạt cự bào (CMV), đôi khi cả sốt rét…
Điều trị
Truyền máu là phương thức sử dụng máu trực tiếp nhất. Máu được lấy từ người cho
máu tình nguyện. Có nhiều hệ nhóm máu khác nhau, điển hình là hệ nhóm máu ABO
và Rhesus. Việc phân loại nhóm máu phù hợp cũng như các xét nghiệm phát hiện tác
nhân gây bệnh trước khi truyền máu là những quy định bắt buộc và nghiêm ngặt.
Khuynh hướng hiện nay là không sử dụng máu toàn phần. Máu được lấy từ người cho
sẽ được tách ra thành từng chế phẩm khác nhau tùy theo mục đích sử dụng. Các chế
phẩm thường dùng là tiểu cầu khối, hồng cầu khối, huyết tương tươi đông lạnh, tủa
lạnh, các yếu tố đông máu, globulin miễn dịch…
Công thức máu

lit)
MCV được tính bằng công thức: MCV = Hct / số hồng cầu. Giá trị MCV cho
phép phân biệt các loại thiếu máu sau:
 Thiếu máu hồng cầu nhỏ: khi MCV < 90 fl
 Thiếu máu hồng cầu bình: khi 90 fl < MCV < 100 fl
 Thiếu máu hồng cầu đại: khi MCV > 100 fl
o MCHC - nồng độ hemoglobin trung bình trong một hồng cầu, đơn vị
thường dùng là (g/dl hay g/l)
MCHC được tính theo công thức: MCHC = Hb / Hct. MCHC cho phép phân
biệt thiếu máu
 Thiếu máu đẳng sắc: khi MCHC trong giá trị bình thường
 Thiếu máu nhược sắc: khi MCHC < 33g/l
o MCH - số lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu, đơn vị
thường dùng là picogram (1 pg = 10
-12
g)
MCH được tính theo công thức: MCH = Hb / số lượng hồng cầu, hay MCH =
Hb / RBC
Các giá trị bình thường của hồng cầu
Giá trị bình thường Nữ giới Nam giới
Hồng cầu RBC hay HC 3.87 - 4.91 4.18 - 5.42
/l)  (10
Hemoglobin - Hb (g/l) 117.5 - 113.9 132.0 - 153.6
Hematocrit - Hct (%) 34 - 44 37 - 48
MCV (fl) 92.57 - 98.29 92.54 - 98.52
MCH (pg) 30.65 - 32.80 31.25 - 33.7
MCHC (g/dl) 33.04 - 35 32.99 - 34.79
Tóm lại, các trị số của dòng hồng cầu cho những thông tin về tình trạng hồng cầu của
máu người được làm xét nghiệm, tất nhiên không đầy đủ, gợi ý bệnh lý thiếu máu và
nguyên nhân gây thiếu máu.

khả năng này của nó mạnh hơn của bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng sẽ phân bố
đến các mô của cơ thể, tồn tại tại đó hàng tháng, hàng năm cho đến khi được huy động
đi làm các chức năng bảo vệ. Vì vậy mono bào sẽ tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn
mãn tính như lao, viêm vòi trứng mãn

Trích đoạn CẤU TRÚC CƠ THỂ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status