Vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM
1. Vốn đầu tư mạo hiểm
1.1 Khái niệm
Vốn đầu tư mạo hiểm là những khoản đầu tư cổ phần vào giai đoạn
đầu của những doanh nghiệp mới khởi sự, các doanh nghiệp này đang
cần vốn để tài trợ cho việc phát triển sản phẩm mới hoặc ý tưởng về
khoa học công nghệ, do vậy đây là những khoản đầu tư hứa hẹn một
tiềm năng tăng trưởng rất lớn để bù đắp cho mức độ rủi ro cao hơn. Các
chuyên gia quản lý vốn ĐTMH sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập vốn tiềm
năng cao hơn.
Sở dĩ gọi là "nguồn vốn mạo hiểm" bởi vì:
Các công ty được đầu tư không cần một khoản đặt cọc hay kí quỹ
nào. Việc rót vốn của các quỹ đầu tư mạo hiểm dựa vào sự tin tưởng vào
việc tạo dựng thành công doanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ
giám đốc công ty.
Các quỹ đầu tư tham gia vào việc kiểm soát và điều hành công
ty. Họ tư vấn ở cấp chiến lược, hướng dẫn, hỗ trợ các công ty trong quản
lý, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường...Vì vậy họ có thể gặp rủi
ro, bị mất khoản đầu tư nếu công ty bị phá sản. Tuy nhiên, điều này ít
xảy ra và họ thường đạt tỷ suất lợi nhuận từ 35- 50%.
Vốn ĐTMH được huy động thông qua các quỹ ĐTMH và trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua các công ty quản lý quỹ để đầu tư vào các
doanh nghiệp, dự án khả thi.
1.2 Vai trò
Khuyến khích sự phát triển của khoa học công nghệ
Thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế:
Việc ra đời của vốn ĐTMH đã mở ra một cơ hội mới cho những
người muốn “làm giàu” từ ý tưởng sáng tạo, người ta có động lực để
kinh doanh nhiều hơn, sáng tạo nhiều hơn và giá trị mang đến cho xã hội
cũng được tăng lên
nhàn rỗi lớn, sẵn sàng đầu tư và chấp nhận rủi ro để hi vọng đạt được
khoản lợi nhuận cao như mong muốn trong tương lai.
Các nhà quản lý quỹ: họ chính là những người quản lý quỹ
ĐTMH, tiến hành đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp, vừa có kiến thức về
công nghệ vừa có tài năng quản trị, họ hoạt động vốn từ các nhà ĐTMH,
họ tìm kiếm và đánh giá các cơ hội đầu tư, thực hiện công cuộc thoát
vốn để thu hồi vốn và lợi nhuận cho quỹ.
Trang 2
Vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam
Các doanh nghiệp: chủ yếu là các doanh nghiệp mới khởi sự, họ
là những tổ chức, những cá nhân đang mong muốn biến một phát hiện
công nghệ, một ý tưởng đọc đáo, mới mẻ thành một sản phẩm thành
công trên thị trường nhưng do tiềm lực tài chính có hạn, họ cần có sự
góp vốn của các quỹ ĐTMH.
2.3 Đặc điểm
Các khoản đầu tư có tiềm năng rất tăng trưởng cao nhưng rủi ro
cũng rất lớn.
Đây là một điểm đặc biệt tạo nên sự khác biệt với các nguồn tài
trợ vốn khác vì thành công chủ yếu của các Quỹ ĐTMH dựa chủ yếu vào
kỹ năng tìm kiếm những dự án đầu tư ban đầu tương đối nhỏ nhưng lại
hàm chứa một tiềm năng tăng trưởng cao.
Hỗ trợ phi tài chính cho các doanh nghiệp.
Ngoài sự hỗ trợ về tài chính cho doanh nghiệp các chuyên gia
quản lý quỹ còn hỗ trợ cho doanh nghiệp những vấn đề khác như: quản
lý, chính sách nhân sự, marketing, phát triển sản phẩm,..Với vị trí cũng
như những kinh nghiệm thu được từ các doanh nghiệp khác, quỹ ĐTMH
có thể tác động sâu sắc đến sự phát triển của doanh nghiệp mà họ đầu tư.
Quỹ đầu tư mạo hiểm là một quỹ đầu tư tư nhân.
Vì đầu tư mạo hiểm có mức độ rủi ro rất cao nên các quỹ thành
viên không phù hợp với việc huy động vốn từ công chúng. Quy mô và
sát, tư vấn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhận đầu tư. Trong quá trình
quản lý quỹ, các thành viên tổng quát sẽ nhận một khoản phí quản lý
(lương) và một tỉ lệ nhất định từ tổng số lợi nhuận thu được sau khi thực
hiện công cuộc thoát vốn để đổi lại những đóng góp của họ cho quỹ.
Điều này đã tạo ra động lực mạnh mẽ để các thành viên tổng quát không
ngừng nổ lực để tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho quỹ.
- Những thành viên hợp danh hữu hạn :
Họ là những nhà đầu tư mạo hiểm, họ góp vốn vào quỹ và được
chia lợi nhuận (hoặc chịu rủi ro), họ không có bất cứ vai trò gì trong các
quyết định đầu tư của quỹ. Các thành viên hợp danh hữu hạn thường là
các tập đoàn công nghiệp hoặc là các tổ chức tài chính như ngân hàng,
công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,…
Với hình thức này, các doanh nghiệp được đầu tư không những
nhận được sự hỗ trợ về vốn mà còn nhận được sự hỗ trợ về các mặt quản
lý, hoạt động điều hành,…
Mô hình công ty con:
Ngoài hình thức hợp danh hữu hạn, còn có một hình thức tổ chức
khác của quỹ đầu tư mạo hiểm, đó là hình thức quỹ là công ty con của
các tập đoàn công nghiệp hay các tổ chức tài chính lớn (mô hình này là
nét đặc trưng của các quỹ đầu tư mạo hiểm ở Nhật). Trong hình thức
Trang 4
Vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam
này, công ty mẹ thực hiện tài trợ vốn đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp
là nhằm tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp mới để cung cấp
những dịch vụ khác hoặc hi vọng vào những khoản lợi nhuận trong
tương lai.
Mô hình tín thác (dạng hợp đồng):
Trong mô hình này quỹ đầu tư mạo hiểm không có tư cách pháp
nhân nhân mà chỉ là một lượng tiền nhất định do các nhà đầu tư đóng
góp. Mô hình này thể hiện rõ ở vai trò của ba bên tham gia vào hoạt
án, tới thực hiên việc đầu tư, rót vốn và kết thúc là việc thu hồi vốn.
Bước 1: Xem xét và thẩm định các dự án đầu tư. Các quỹ đầu tư
sẽ tiến hành nhiệm vụ xem xét và thẩm định dự án đầu tư rất kỹ trước
khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp. Đó là thẩm định tỉ lệ rủi ro, vốn
rút để tái đầu tư, mức độ lợi nhuận… Trên thực tế ở Việt Nam, các quỹ
đầu tư mạo hiểm chấp nhận tỉ lệ rủi ro thấp nên thường tìm đến với các
doanh nghiệp đã có tên tuổi và uy tín trên thị trường.
Bước 2: Thực hiện đầu tư, rót vốn. Sau khi ký hợp đồng hợp tác,
các quỹ đầu tư mạo hiểm tiến hành đầu tư, rót vốn vào doanh nghiệp.
Quá trình rót vốn chia làm 5 giai đoạn, 3 giai đoạn đầu có mức độ rủi ro
cao hơn 2 giai đoạn sau. Không chỉ rót vốn, quỹ còn hỗ trợ, tư vấn cho
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh như xây dựng năng lực, mở thị
trường, tạo thương hiệu…
5 giai đoạn rót vốn:
- Tài trợ vốn mồi/ươm tạo (seed financing): Giúp doanh nghiệp để
phát triển ý tưởng sáng tạo.
- Tài trợ khởi động (start-up financing): Giúp phát triển sản phẩm
và hoạt động tiếp thị khởi đầu.
- Tài trợ giai đoạn đầu (first stage financing): Giúp doanh nghiệp
sản xuất hàng hoá và tung ra thị trường.
- Tài trợ mở rộng sản xuất (expansion financing): Giúp doanh
nghiệp mở rộng sản xuất, thị trường, nâng cấp sản phẩm, xây dựng cơ
cấu sở hữu hợp lý…
- Tài trợ tăng tốc: Giúp doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị
trường, tăng tốc hoạt động kinh doanh, tạo sản phẩm mới…
Bước 3: Kết thúc đầu tư, hay thu hồi vốn ( giai đoạn thoát vốn)
Các khoản đầu tư được thu hồi qua 4 kênh chính:
- Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng – IPO (Initial Public
Offerings).
Trang 6
Nguồn:www.pso.hochiminhcity.gov.
vn
Việt Nam là quốc gia có chế độ chính trị ổn định, có chủ
trương chính sách đầu tư và phát triển kinh tế nhất quán theo quan điểm
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trang 7