mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng seabank chi nhánh kim liên - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thị trường, năng suất
lao động ngày càng cao đã tạo ra lượng hàng hóa vô cùng phong phú và đa dạng
làm cho đời sống của người dân ngày càng được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh
thần. Ngoài những nhu cầu thiết yếu như: ăn, ở, mặc thì còn nhiều nhu cầu cao
cấp hơn là nhà lầu, xe hơi, du lịch, đi du học, Song, với mức thu nhập vào thời
buổi lạm phát ngày nay thì phần lớn người tiêu dùng không thể trang trải được đủ
nhu cầu cho nhưng vật dụng đắt tiền cùng với những dịch vụ cao cấp. Tất cả
những điều này đã tạo ra nhu cầu vay mượn để tiêu dùng trong dân cư nên đã
hình thành thị trường cho vay tiêu dùng đầy hấp dẫn cho các ngân hàng thương
mại. Đây là một kênh tín dụng không mới ở các nước phát triển trên thế giới
nhưng lại khá còn mới mẻ ở Việt Nam, người dân Việt Nam luôn có suy nghĩ
Ngân hàng là để phục vụ cho doanh nghiệp, là một kênh đầu tư tiền nhàn rỗi. Bởi
vậy mà thị trường cho vay tiêu dùng còn khá sơ khai và chưa có nhiều Ngân
hàng tham gia.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Chi nhánh Kim Liên Ngân hàng Seabank đã triển
khai loại hình cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân và hộ gia đình với
phạm vi vẫn còn hẹp nên chưa đáp ứng đủ được nhu cầu của người dân và chưa
cạnh tranh được với Ngân hàng bạn. Xét những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “
Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Seabank Chi nhánh Kim Liên” làm
đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
1
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Khái niệm và những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại

2
Chuyên đề tốt nghiệp
thiết với nhau, chúng tương trợ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển để từ đó
tạo nên uy tín cho Ngân hàng.
- Từ hình thức sơ khai đầu tiên là Ngân hàng thợ vàng ở thế kỷ XV, đến nay
Ngân hàng thương mại đã trở thành Ngân hàng hiện đại với các chức năng và
dịch vụ đa dạng và được coi là bách hoá tài chính.
- Ngân hàng thương mại được tổ chức dưới các hình thức sau:
+ Ngân hàng bán buôn và Ngân hàng bán lẻ, trong đó Ngân hàng bán buôn
chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho các Ngân hàng, các công ty tài chính, Nhà
nước, các doanh nghiệp lớn, còn Ngân hàng bán lẻ là Ngân hàng chủ yếu cung
cấp các dịch vụ trực tiếp cho hộ gia đình, các cá nhân, các doanh nghiệp nhỏ với
các khoản tín dụng nhỏ. Với xu hướng phát triển hiện nay, rất ít Ngân hàng chỉ
có bán buôn hoặc chỉ có bán lẻ mà chủ yếu là kết hợp chặt chẽ cả hai hình thức
này.
+ Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng thương mại 100% vốn
nước ngoài, Ngân hàng thương mại liên doanh, Ngân hàng thương mại tư nhân,
ngân hàng thương mại cổ phần.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
- Hoạt động huy động vốn:
Các Ngân hàng cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền
kinh tế luôn luôn có nhu cầu huy động vốn để duy trì hoạt động và phục vụ nhu
cầu phát triền. Nguồn vốn của Ngân hàng gồm có: vốn tiền gửi, vốn tiền vay, vốn
chủ sử hữu và nguồn vốn uỷ thác đầu tư. Để thực hiện hoạt động này Ngân hàng
sẽ tiến hành nhận tiền gửi, phát hành các giấy nợ hoặc cổ phiếu với cam kết sẽ
hoàn trả khách hàng đúng hẹn kèm theo một khoản tiền gọi là tiền lãi. Việc huy
động được càng nhiều vốn sẽ càng tạo điều kiện cho Ngân hàng trong việc mở
rộng kinh doanh do đó các Ngân hàng luôn luôn tìm kiếm các nguồn vốn với chi
phí thấp và ổn định, đồng thời đa dạng hoá các hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy
nợ nhằm huy động được nhiều vốn trong nền kinh tế.

Ngân hàng hiện đại ngày nay đang mở rộng hoạt động dịch vụ này nhằm tăng
nguồn thu và giảm bớt rủi ro.
1.2. Cho vay tiêu dùng và vai trò của cho vay tiêu dùng
1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của cho vay ngân hàng
1.2.1.1. Khái niệm:
Cho vay là hoạt động truyền thống và là chức năng kinh tế hàng đầu của
các Ngân hàng giúp Ngân hàng thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm thành
đầu tư. Ngân hàng thương mại có thể cho các tổ chức, cá nhân vay trong thời
gian ngắn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản suất, kinh doanh, đời
sống và cũng có thể cho các tổ chức, cá nhân vay trung và dài hạn nhằm thực
hiện các dự án đầu tư phát triển, sản suất kinh doanh.
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhiều người vẫn có cho rằng hoạt động cho vay và hoạt động tín dụng của
Ngân hàng là một nhưng thực ra không phải vậy. Tín dụng rộng hơn cho vay, bao
gồm cả hoạt động cho vay và các hoạt động khác như chiết khấu thương phiếu,
cho thuê tài chính, Có thể hiểu rằng: Cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền
hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và
bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay sẽ
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho
bên đi vay khi đến hạn thanh toán.
Đối với hầu hết các Ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị
tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 1/3 nguồn thu nhập của Ngân hàng. Nhưng, rủi
ro trong các hoạt động Ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các
khoản cho vay. Vậy thực ra, Ngân hàng đã thực hiện những khoản cho vay nào?
1.2.1.2. Phân loại hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Có rất nhiều tiêu thức khác nhau để Ngân hàng phân loại các khoản cho

đầu tư, các phương án sản suất.
+ Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng sẽ cho các cá nhân hay hộ gia đình vay để
đáp ứng nhu cầu về mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như: nhà cửa, phương tiện
vận chuyển, và các nhu cầu khác,
Cho vay tiêu dùng là một trong những lĩnh vực dịch vụ mới phát triển gần
đây của Ngân hàng nhưng nó đã tỏ rõ được những ưu thế so với các khoản cho
vay khác của Ngân hàng. Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành xu
hướng tất yếu để các Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị
trường tài chính.
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng
1.2.2.1. Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính hết
sức quan trọng giúp những người vay trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình
và xe cộ và các nhu cầu khác. Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục,
y tế và du lịch, cũng có thể được tài trợ bởi cho hoạt động vay tiêu dùng.
1.2.2.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
- Quy mô của từng khoản vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay
cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại
cho vay khác trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.
- Nhu cầu về vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc nhiều vào chu
kỳ của kinh tế.
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
6
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu hết là ít co dãn với lãi suất mà
thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà
họ phải chịu.
- Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết

MSV: CQ502113
7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Đối với Ngân hàng thương mại: Cho vay tiêu dùng phải chiếm tỷ trọng lớn
trong toàn bộ hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Vậy, ta có thể rút ra những kết luận sau:
Mở rộng cho vay tiêu dùng phản ánh khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng
gia tăng về vốn cho nền kinh tế theo một cơ cấu hợp lý và hoàn toàn phù hợp với
tốc độ phát triển của xã hội trong từng thời kì, qua đó nó cho thấy sự tăng trưởng
và phát triển của cho vay tiêu dùng nói riêng và của Ngân hàng nói chung.
Mở rộng cho vay tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như :
trình độ của cán bộ, khả năng quản lý, nguồn vốn Ngân hàng và các nhân tố
khách quan như: sự phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách của Nhà nước,
tốc độ phát triển của nền kinh tế cũng như sự thay đổi cơ cấu đầu tư.
Mở rộng cho vay tiêu dùng được thực hiện dựa trên cơ sở việc thực hiện đa
dạng hoá nguồn khách hàng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Ngân hàng.
Việc xây dựng các mức lãi suất hợp lý cũng như xác định các kỳ hạn nợ phù hợp
với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng đi đôi với việc cung cấp các loại
hình bảo lãnh thích hợp cũng góp phần vào việc mở rộng cho vay tiêu dùng.
Mở rộng cho vay tiêu dùng là một khái niệm cụ thể, dễ hiểu tuy nhiên, để
thực hiện được tốt thì đòi hỏi chúng ta phải đánh giá một cách đầy đủ và chính
xác về nó và đặt nó trong mối quan hệ tổng thể với các chỉ tiêu tài chính khác.
Quá trình phân tích và đánh giá mở rộng cho vay tiêu dùng hiện đại sẽ tạo điều
kiện để tìm hiểu chính xác các nguyên nhân tồn tại, các vướng mắc về mở rộng
cho vay tiêu dùng từ đó giúp Ngân hàng lựa chọn được các giải pháp thích hợp
để có thể thực hiện việc mở rộng cho vay tiêu dùng trong từng thời kỳ sao cho
phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế.
1.2.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.2.4.1. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với ngân hàng thương mại
- Tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy góp phần nâng

Hoạt động này giúp Ngân hàng mở rộng sự quan hệ với khách hàng, từ đó
giúp cho Ngân hàng có những thuận lợi trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt
là huy động vốn từ dân cư. Hơn nữa, tính lan truyền trong dân cư là rất cao nên
các Ngân hàng có thể thông qua các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về
mình, từ đó thu hút các khách hàng đến với các dịch vụ khác nữa của Ngân hàng.
Trong khi đó các khoản cho vay tiêu dùng tuy là những khoản cho vay nhỏ
nhưng nhu cầu về chúng lại vô cùng lớn nên nếu khai thác được thị trường này
thì các Ngân hàng thương mại có thể sử dụng được một số lượng vốn vô cùng
lớn. Hơn nữa, nguồn dân cư cũng chính là nguồn khách hàng tiềm năng lớn của
Ngân hàng, Ngân hàng muốn phát triển bền vững thì nên dựa vào đối tượng
khách hàng này.
Trong khi cấp các khoản cho vay tiêu dùng thì các Ngân hàng cũng góp
phần đẩy mạnh tiêu dùng, từ đó tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và các ngân
hàng có thêm những khoản cho vay mới phục vụ cho các nhà sản xuất. Sản xuất
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
9
Chuyên đề tốt nghiệp
phát triển lại cung cấp ra thị trường những sản phẩm mới làm nảy sinh thêm nhu
cầu tiêu dùng. Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần, không ngừng làm cho
thị trường tiêu dùng ngày càng phát triển.
1.2.4.2. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với người tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu
của người tiêu dùng. Do vậy, khách hàng của cho vay tiêu dùng cũng chính là
người tiêu dùng, đặc biệt là những người có thu nhập trung bình. Nhờ những
khoản cho vay tiêu dùng, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị
cao, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài
chính hiện tại của họ chưa cho phép.
Trên thực tế, ta thấy rằng có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, vô cùng
thiết yếu, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân và

tích luỹ đủ số tiền cần thiết. Khách hàng có tiền sẽ tìm đến doanh nghiệp mua
hàng và doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa sau đó mới có khả năng thanh toán
nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Khi đã tiêu thụ được hàng hoá, doanh nghiệp sẽ mở
rộng việc sản xuất và sẽ tìm tới Ngân hàng để tiếp tục vay vốn. Như vậy, Ngân
hàng cho vay tiêu dùng sẽ có lợi cho cả ba bên: người tiêu dùng, doanh nghiệp và
Ngân hàng hay chính là có lợi cho cả nền kinh tế. Tóm lại, cho vay tiêu dùng được
dùng để tài trợ cho chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ trong nước thì nó sẽ có tác
dụng rất thiêt thực cho việc kích cầu, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Song, nếu các khoản cho vay tiêu dùng không được dùng như vậy thì chẳng
những không kích được cầu mà nhiều khi còn làm giảm khả năng tiết kiệm trong
nước.
1.2.5. Các loại hình cho vay tiêu dùng
1.2.5.1. Căn cứ vào mục đích cho vay
Cho vay tiêu dùng được chia làm hai loại:
Một: Cho vay tiêu dùng cư trú (Residential Mortage Loan): Cho vay tiêu
dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng
hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
Hai: Cho vay tiêu dùng không cư trú (Nonresidential Mortage Loan): Cho
vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí
mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch
1.2.5.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
- Cho vay tiêu dùng trả góp:
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm cả số
tiền gốc lẫn lãi) cho Ngân hàng theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định
trong thời hạn cho vay. Phương thức này được áp dụng cho các khoản vay mà có
giá trị lớn hoặc thu nhập theo từng định kì của người đi vay không đủ khả năng
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
11
Chuyên đề tốt nghiệp

Chi phí của khoản vay là chi phí mà người đi vay phải trả cho Ngân hàng
về việc sử dụng vốn. Chi phí này chủ yếu bao gồm lãi vay cộng với các chi phí
khác có liên quan. Chi phí khoản vay này phải trang trải được chi phí huy động
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
12
Chuyên đề tốt nghiệp
vốn, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời phải mang lại một phần lợi nhuận thoả
đáng cho chính Ngân hàng.
+ Thứ tư: Điều khoản thanh toán.
Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách
hàng thì Ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
• Số tiền thanh toán mỗi kỳ hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhập
trong mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của các khách hàng.
• Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền cho vay mà chưa
được thu hồi.
• Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng
• Thời hạn cho vay không nên quá lâu, thời hạn cho vay bị giới hạn bởi
thời gian hoạt động của tài sản tài trợ. Và nếu thời hạn cho vay quá dài sẽ dễ làm
cho giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh đồng thời rủi ro cho vay cũng tăng lên.
Hơn thế nữa, khi thời hạn cho vay quá dài thì thiện chí trả nợ của những người đi
vay cũng như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối.
+ Thứ năm: Số tiền khách hàng thanh toán cho Ngân hàng mỗi kỳ trả nợ.
Để xác định số tiền mà khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng trong
mỗi kỳ trả nợ, ta có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây:
• Phương pháp gộp (Add on Method): Đây là phương pháp thường hay
được áp dụng trong cho vay tiêu dùng trả góp, do tính chất đơn giản và dễ hiểu
của nó. Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc
nhân với lãi suất và thời hạn cho vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho
số kỳ hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn trả nợ.

- Cho vay tiêu dùng gián tiếp (Indirect Consumer Loan)
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay mà trong đó ngân hàng
mua đứt các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa
hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
+ Cho phép Ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng
+ Cho phép Ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay
+ Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động
ngân hàng khác đặc biệt trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt
thì cho vay tiêu dùng gián tiếp sẽ được an toàn hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp.
Bên cạnh một số ưu điểm trên, cho vay tiêu dùng gián tiếp còn tồn tại một số
nhược điểm sau:
+ Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu,
thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng
hóa
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
14
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
Do những nhược điểm nêu trên nên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà
với cho vay tiêu dùng gián tiếp. Còn những ngân hàng nào tham gia vào hoạt
động này thì đều phải có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp (Direct Consumer Loan)
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân
hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người đi
vay.
Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được những sở
trường của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào tạo chuyên môn
và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định cho vay

trong việc mở rộng hoạt động này. Ngược lại, nếu chính sách cho vay không đáp
ứng được những yêu cầu trên thì Ngân hàng sẽ không mở rộng quy mô cho vay
tiêu dùng được.
Đặc biệt là trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì
một chính sách cho vay hợp lý, một chính sách đa dạng lãi suất hoá phù hợp với
từng loại khách hàng, từng kỳ hạn cho vay sẽ thu hút được nhiều khách hàng và
thực hiện thành công việc mở rộng cho vay tiêu dùng.
- Thứ hai: Quy trình cấp tín dụng
Quy trình cấp duyệt cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, các quy định của
Ngân hàng trong việc cấp tín dụng, gồm các bước cụ thể theo một trình tự nhất
định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ
cho vay.
Việc xây dựng một quy trình cấp duyệt cho vay hoàn thiện và hiệu quả có ý
nghĩa rất lớn trong công tác ngăn ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra, đồng thời nó còn
gây được cảm tình với khách hàng và thu hút được nhiều khách hàng hơn.
- Thứ ba: Về thông tin cho vay
Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm bắt được nhiều thông tin chính xác, kịp
thời về khách hàng thì người đó sẽ chiến thắng trong việc cạnh tranh. Và trong
hoạt động cho vay, Ngân hàng cấp duyệt các khoản vay cho khách hàng dựa trên
nguyên tắc tin tưởng và sự hoàn trả. Sự tin tưởng ở đây phụ thuộc vào thông tin
có được. Do vậy, để hoạt động tín dụng tiêu dùng ngày càng được mở rộng với
chất lượng cao, hiệu quả lớn thì Ngân hàng phải nắm bắt được thông tin một cách
kịp thời, chính xác về khách hàng vay vốn như:
+ Các thông tin phi tài chính, gồm có: tư cách, uy tín, năng lực quản lý,
năng lực sản xuất kinh doanh và cả các mối quan hệ xã hội.
+ Các thông tin gián tiếp bao gồm: tình hình kinh tế xã hội, thông tin về xu
hướng phát triển cũng như khả năng cạnh tranh của ngành nghề.
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
16

lĩnh vực này được phát triển nó sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ đến sự phồn thịnh
của cả nền kinh tế.
1.3.2. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhóm nhân tố này thường bao gồm: tình trạng của nền kinh tế, hệ thống
pháp lý và cả tình hình xã hội. Có thể nói nhóm nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động tiêu dùng nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng. Cụ
thể là:
- Nhân tố tình trạng của nền kinh tế:
Chúng ta đều đã biết rằng nhu cầu tiêu dùng hàng hoá dịch vụ của dân cư
phụ thuộc rất lớn vào tình trạng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế ở trong giai
đoạn hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, mức sống của dân cư ngày
một phát triển đi lên thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng, chính vì vậy mà họ sẽ tin
tưởng vào thu nhập của mình trong tương lai có thể chi trả được các khoản nợ để
phục vụ mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống. Do đó mà cho vay tiêu dùng
của Ngân hàng thời kỳ này sẽ tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình
trạng suy thoái, thiểu phát, không ổn định thì nhu cầu chi tiêu sẽ giảm do lúc này
dân cư có xu hướng tích luỹ hơn là tiêu dùng, bởi vậy tín dụng tiêu dùng thời kỳ
này sẽ giảm xuống.
- Nhân tố xã hội: Nhân tố xã hội bao gồm: quan niệm xã hội, phong tục tập
quán, tình hình trật tự an ninh, trình độ dân trí, độ tin tưởng lẫn nhau, Các nhân
tố này ảnh hưởng trực tiếp tới các tác nhân tham gia vào quan hệ tín dụng tiêu
dùng nói riêng và các tín dụng khác của Ngân hàng nói chung. Do quan hệ tín
dụng được hình thành dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau nên nếu khách hàng nào
có uy tín với Ngân hàng, có thu nhập ổn định, có trình độ cao thì sẽ được hưởng
nhiều ưu đãi trong mối quan hệ này. Đồng thời, nếu một Ngân hàng hoạt động an
toàn và hiệu quả, tạo được lòng tin trong dân chúng thì sẽ có nhiều sự lựa chọn

19
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI
NHÁNH KIM LIÊN NGÂN HÀNG SEABANK
2.1. Tổng quan về chi nhánh
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Kim Liên Ngân hàng
Seabank
Chi nhánh Kim Liên Ngân hàng Seabank được thành lập và bắt đầu đi vào
hoạt động ngày 04/05/2007. Chi nhánh có địa chỉ tại số 436 Xã Đàn, Đống Đa,
Hà Nội, với số lượng cán bộ nhân viên ban đầu là 20 người.
Việc thành lập Chi nhánh Kim Liên Ngân hàng Seabank là hoàn toàn phù
hợp với tiến trình cơ cấu lại, gắn với quá trình đổi mới toàn diện nhằm mục tiêu
Ngân hàng phát triển bền vững đồng thời đảm bảo nhịp độ tăng trưởng hợp lý.
Sau 5 năm kể từ ngày thành lập, số lượng cán bộ nhân viên đã tăng lên 60
người, hệ thống phòng ban, bộ phận nhìn chung đã đầy đủ gồm Ban Giám Đốc,
phòng kế toán ngân quỹ, phòng khách hàng và thẩm định, phòng hỗ trợ và hạch
toán tín dụng, phòng thanh toán quốc tế, phòng hành chính nhân sự, bộ phận bảo
vệ và bộ phận tạp vụ.
Hệ thống khách hàng của Chi nhánh: không ngừng được mở rộng cả đối
tượng khách hàng tiền gửi và khách hàng có quan hệ tín dụng với số lượng khách
hàng vay vốn ban đầu chỉ gồm 14 khách (trong đó có 07 khách hàng doanh
nghiệp và 07 khách hàng cá nhân), nay đã tăng lên trên 160 khách hàng (trong đó
có 60 khách hàng doanh nghiệp và 100 khách hàng cá nhân) với ngành nghề kinh
doanh rất đa dạng như kinh doanh sắt, thép inox, đồng, nhôm, chè, thiết bị điện
tử, số lượng khách hàng tiền gửi và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng cũng
tăng trưởng không ngừng. Tổng số lượng khách hàng có quan hệ giao dịch tại Chi
nhánh đạt trên 1000 khách. Số dư huy động và cho vay đã không ngừng tăng lên.
 Về vị trí địa lý:
Seabank CN Kim Liên nằm trên đường Kim Liên mới thuộc địa bàn

Bảng 2.1. Thành tựu đạt được của Chi nhánh từ 2009 đến 2011.
Đơn vị tính: tỷ đồng, %.
STT Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Kết
quả
% so với
năm
trước
Kết
quả
% so với
năm
trước
Kết
quả
% so với
năm
trước
1 Tổng nguồn vốn huy động 302 +35,3 390 +29,1 472 +21
2 Tổng dư nợ 687 +20 809 +17,8 1.105 +36,6
3
Tỷ lệ nợ xấu (nhóm
3,4,5/tổng dư nợ)
0,33 +0,1 0,66 +0,33 0,5 -0,16
4 Quỹ thu nhập 6162 +27 9043 +47 9558 +6
5
Tỷ lệ thu nhập dịch vụ/
tổng thu nhập
0,9 -10 0,8 -12 1 +25

báo, đồng thời thực hiện có hiệu quả các đợt tiết kiệm dự thưởng, khuyến mãi, lãi
suất huy động vốn cả Việt Nam đồng và ngoại tệ luôn có tính cạnh tranh trên thị
trường, giao khoán chỉ tiêu huy động vốn cho từng cán bộ và từng đơn vị, phát
động thưởng thi đua, cán bộ công nhân viên Ngân hàng Seabank Chi nhánh Kim
Liên làm việc không kể giờ, nhiệt tình chu đáo, tận tụy với khách hàng, …
2.1.2.2. Tình hình sử dụng vốn của Chi nhánh
Ngoài khách hàng truyền thống là các hộ gia đình là chính, thì khách hàng
doanh nghiệp của chi nhánh cũng ngày càng tăng. Thủ tục cho vay vốn của Ngân
hàng cùng với điều kiện vay vốn ngày càng được cắt giảm chính là một điều kiện
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
22
Chuyên đề tốt nghiệp
để thu hút các thành phần khách hàng khác nhau đến với Ngân hàng. Dư nợ cho
vay đối với các doanh nghiệp ngày càng được cải thiện rõ ràng. Đây là một
nguồn thu lãi đáng kể cho Chi nhánh. Nhóm khách hàng này cũng đem đến cho
Chi nhánh một khoản thu từ phí dịch vụ thanh toán đáng kể.
Doanh số cho vay năm 2011 đạt: 1.897 tỷ đồng, bằng 136.6% so với năm
2010 (1.388 tỷ), năm 2010 đạt 1.388 tỷ bằng 117,8% so với năm 2009.
Bảng 2.2. Doanh số cho vay đối với các thành phần kinh tế từ 2009 đến 2011.
Đơn vị: Tỷ đồng
Doanh số cho
vay
Nợ trong tiêu
chuẩn
Tỷ lệ nợ xấu %
(Loại 3,4,5)
Năm 2009 1.178 1174 0,33
Năm 2010 1.388 1378 0,66
Năm 2011 1.897 1888 0,5

2.2.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động cho vay tiêu dùng.
Cũng giống như tất cả các Ngân hàng và tổ chức tín dụng cung cấp các sản
phẩm tín dụng tiêu dùng, hoạt động cho vay tiêu dùng của Chi nhánh Kim Liên
ngân hàng Seabank phải tuân theo các văn bản quy định của pháp luật và Ngân
hàng Nhà nước như:
- Luật các tổ chức tín dụng 2010.
- Văn bản số 34/ CVTD ngày 07/01/2000 của thống đốc NHNN về việc cho
vay không có tài sản đảm bảo đối với cán bộ công nhân viên và thu nợ từ tiền
lương, trợ cấp và khoản thu nhập khác.
- Nghị định 178/1999/NĐ - CP ngày 19/12/1999 của chính phủ về bảo đảm
tiền vay của tổ chức tín dụng.
- Quyết định 1627/ QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy chế
cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
- Nghị định số 85/2002/NĐ - CP ngày 25/10/2002 của chính phủ về sửa đổi
bổ sung nghị định 178/1999/NĐ - CP.
Ngoài ra cho vay tiêu dùng của Chi nhánh Kim Liên Ngân hàng Seabank
còn phải tuân theo các quy định riêng của hệ thống Ngân hàng Seabank.
2.2.2. Điều kiện cho vay
Ngân hàng Seabank Chi nhánh Kim Liên thực hiện cho vay tiêu dùng đối
với tất cả các cá nhân, hộ gia đình thoả mãn các điều kiện sau:
- Cá nhân hoặc chủ hộ có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.
- Mục đích sử dụng vốn vay hoàn toàn hợp pháp.
SV: Nguyễn Thị Phượng
MSV: CQ502113
24
Chuyên đề tốt nghiệp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn đã cam kết. Cụ thể là
đối với cho vay ngắn hạn, khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu 10% trong tổng
số vốn cam kết, đối với cho vay trung và dài hạn thì mức tối thiểu là 15%. Khách

MSV: CQ502113
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status