Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong Thương mại điện tử - Pdf 23

Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian làm việc với sự cố gắng nỗ lực cùng với tinh thần làm việc
nghiêm túc của các thành viên trong nhóm, chúng em đã hoàn thành bài tập lớn với đề
tài: “Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh thương mại điện tử”.
Chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Đặng Vân Anh đã hướng dẫn tận
tình nhóm chúng em thực hiện đề tài này.
Đồng thời chúng tôi xin gửi lời biết ơn đến các thầy cô trong Khoa CNTT cùng các
bạn sinh viên đã nhiệt tình chỉ bảo, động viên, giúp đỡ cho chúng em trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức có hạn nên bài tập lớn không tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế. Nhóm rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô
và các bạn để bài tập lớn của nhóm chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thanh Huyền
Nguyễn Thị Hồng
Phạm Thị Thu Hường
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 1
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Hình 1.2.1. Định vị giá trị doanh nghiệp.
Hình 1.2.2. Các mô hình doanh thu.
Bảng 1.2.2.5. Năm mô hình doanh thu chủ yếu.
Bảng 2.5.1. Tỷ lệ tham gia mua hàng và giao dịch ngân hàng của những người dùng
Bảng 4.2. Tốc độ tăng trưởng của số người sử dụng internet trên thế giới
Hình 4.2. Quá trình mua hàng của khách hàng
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 2
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ MÔ HÌNH KINH DOANH

Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
1.2.1. Định vị giá trị doanh nghiệp.
Cho biết các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp đã đáp ứng nhu cầu khách hàng
tới đâu. Để xác định được những giá trị này cần trả lời câu hỏi:
• Tại sao khách hang chọn tiến hành giao dịch với doanh nghiệp anh chị mà không phải là
doanh nghiệp khác?
• Doanh nghiệp anh chị đã cung cấp cho khách hàng những giá trị gì mà các doanh nghiệp
khác đã không làm hoặc không thể?
Hình 1.2.1. Định vị giá trị doanh nghiệp.
1.2.2. Mô hình doanh thu.
Mô hình doanh thu là cách thức để doanh nghiệp có doanh thu, tạo ra lợi nhuận, và
mức lợi nhuận lớn hơn trên vốn đầu tư. Chức năng của một tổ chức kinh doanh là tạo ra
lợi nhuận và thu được doanh lợi trên vốn đầu tư lớn hơn các hình thức đầu tư khác. Bản
thân các khoản lợi nhuận chưa đủ để khẳng định sự thành công của một doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp được xem là kinh doanh thành công cần tạo ra mức lợi nhuận lớn hơn
các hình thức đầu tư khác. Bằng không, doanh nghiệp không thể tồn tại.
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 4
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
Thí dụ, một doanh nghiệp bán lẻ một sản phẩm, máy tính cá nhân chẳng hạn,
khách hàng thanh toán bằng tiền mặt hoặc thẻ tín dụng. Thương vụ này tạo ra doanh thu
cho doanh nghiệp. Nếu khoản doanh thu này lớn hơn các chi phí hoạt động của doanh
nghiệp, doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận. Tuy nhiên, để có thể thực hiện
các hoạt động kinh doanh của mình, người bán máy tính phải đầu tư vốn bằng cách đi
vay hoặc lấy từ khoản tiền tiết kiệm cá nhân. Khoản lợi nhuận mà người bán hàng thu
được từ hoạt động kinh doanh tương tự như trên chính là khoản doanh lợi thu được trên
vốn đầu tư bỏ ra và khoản doanh lợi này phải lớn hơn khoản doanh lợi thu được nếu
doanh nghiệp đầu tư vào những nơi khác như đầu tư vào bất động sản hoặc gửi tiền tiết
kiệm tại ngân hàng.
Thực tế có nhiều mô hình doanh thu thương mại điện tử được áp dụng nhưng chủ
yếu tập trung vào một (hoặc là sự phối hợp của một số) trong số các mô hình cơ bản sau:

bán các hàng hoá của mình qua website của eBay; E-Trade - một công ty môi giới chúng
khoán trực tuyến - thu các khoản phí giao dịch khi họ đại diện cho khách hàng thực hiện
các giao dịch chứng khoán.
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 6
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
1.2.2.4. Mô hình doanh thu bán hàng.
Doanh nghiệp theo mô hình này thu được doanh thu từ việc bán hàng hoá, dịch vụ
và thông tin cho khách hàng. Các doanh nghiệp như Amazon.com bán sách, băng đĩa
nhạc và các sản phẩm khác; DoubleClick.net thu thập các thông tin về những người sử
dụng trực tuyến, sau đó bán các thông tin này cho các doanh nghiệp khác; và
Salesforce.com bán các dịch vụ quản lý lực lượng bán hàng trên Web. Tất cả các doanh
nghiệp kể trên đều theo mô hình doanh thu bán hàng.
1.2.2.5. Mô hình doanh thu liên kết.
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh được tiến
hành trên cơ sở xây dựng một website liên kết - hợp tác với các doanh nghiệp sản xuất
hay các nhà phân phối. Doanh thu của doanh nghiệp thu được là các khoản phí tham khảo
(hay phí liên kết kinh doanh) (referral fee) hoặc một khoản phần trăm trên doanh thu của
các hoạt động bán hàng thực hiện trên cơ sở các liên kết giới thiệu trên, chẳng hạn như
trường hợp của công ty MyPoints.com. MyPoints liên kết website của mình với các nhà
sản xuất và các nhà phân phối như Kmart, Barnes & Noble Booksellers, Marriott, Macy's,
Hollywood Video, Olive Garden Mỗi hội viên của MyPoints (cũng là khách hàng tiềm
năng của các đối tác) có một tài khoản "điểm" để lưu giữ "điểm thưởng" và họ tích luỹ
điểm bằng cách thực hiện các yêu cầu của MyPoints: đọc các thư chào hàng, trả lời các
câu hỏi điều tra, thực hiện hoạt động mua bán trực tuyến Điểm thưởng của khách hàng
có thể đổi lấy các phần thưởng như băng đĩa nhạc, sách vở, quần áo, vé máy bay, phiếu
mua hàng và MyPoints sẽ thu được các khoản phí từ các đối tác hay hưởng phần trăm
trên giá trị các giao dịch mua bán được thực hiện
Mô hình
doanh thu
Ví dụ Nguồn doanh thu

cạnh tranh của một doanh nghiệp chịu tác động bởi các nhân tố như: có bao nhiêu đối thủ
cạnh tranh đang hoạt động, phạm vi hoạt động của các đối thủ đó ra sao, thị phần của mỗi
đối thủ như thế nào, lợi nhuận mà họ thu được là bao nhiêu và mức giá mà các đối thủ
định ra cho các sản phẩm của họ là bao nhiêu.
Nhìn chung, đối thủ cạnh tranh chia thành hai loại: đối thủ cạnh tranh trực tiếp và
đối thủ cạnh tranh gián tiếp. Đối thủ cạnh tranh trực tiếp là những người kinh doanh các
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 8
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
sản phẩm hay dịch vụ tương tự các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh trên
cùng một đoạn thị trường. Thí dụ, hai công ty Priceline.com và Hotwired.com cùng bán
giảm giá vé máy bay trực tuyến và là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau bởi các sản
phẩm mà họ kinh doanh hoàn toàn có thể thay thế cho nhau. Đối thủ cạnh tranh gián tiếp
là các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau những vẫn có sự cạnh tranh
gián tiếp với nhau. Thí dụ công ty Priceline.com và Amazon.com được xem là các đối
thủ cạnh tranh gián tiếp của nhau. Công ty Amazon tuy không bán vé máy bay trực tuyến
nhưng lại là chuyên gia trong việc phát triển thương mại trực tuyến và tạo các liên kết với
doanh nghiệp kinh doanh điện tử hoặc kinh doanh truyền thống khác trong lĩnh vực này.
Các nhà sản xuất ôtô và các hãng hàng không hoạt động ở hai lĩnh vực hoàn toàn khác
nhau nhưng cũng cạnh tranh gián tiếp với nhau vì họ cùng cung cấp cho khách hàng các
phương tiện đi lại. Một nhà cung cấp dịch vụ âm nhạc (như MyMP3.com chẳng hạn)
cũng gián tiếp cạnh tranh với công ty bán sách trực tuyến Amazon.com vì cả hai website
này cùng cung cấp cho khách hàng các hình thức giải trí.
Môi trường cạnh tranh là một trong các căn cứ quan trọng để đánh giá tiềm năng
của thị trường. Nếu trên một đoạn thị trường sản phẩm nhất định, có nhiều đối thủ cạnh
tranh với nhau, đó là dấu hiệu đoạn thị trường này đã bão hoà và lợi nhuận khó có thể thu
được. Ngược lại, nếu thị trường có rất ít đối thủ cạnh tranh thì đó là dấu hiệu của, hoặc
một đoạn thị trường hầu như chưa được khai thác, hoặc khó có thể thành công trên thị
trường này vì nó không có khả năng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Như vậy, việc
phân tích yếu tố môi trường cạnh tranh giúp doanh nghiệp quyết định nên đầu tư vào
đoạn thị trường nào có lợi nhất.

công nghệ đã chứng tỏ rằng nếu người đi tiên phong thiếu những nguồn lực cần thiếu để
duy trì những lợi thế của mình, thì những lợi thế sẽ thuộc về những doanh nghiệp đi
sau
(2)
.
Trong một số trường hợp, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp hình thành trên cơ sở
sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Lợi thế cạnh tranh trên cơ sở bất bình đẳng xảy
ra khi lợi thế của doanh nghiệp dựa có được dựa trên những nhân tố mà các doanh nghiệp
khác không có được như các nhân tố thuộc chính sách, qui định của một quốc gia hay
khu vực Khi đó doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc định giá sản phẩm của
mình.
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 10
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
Trong một số trường hợp, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp còn có tính chất đòn
bẩy. Đó là khi doanh nghiệp sử dụng các lợi thế cạnh tranh hiện có để tạo ra các lợi thế ở
các thị trường phụ cận. Tính chất đòn bẩy này giúp doanh nghiệp ngày càng mở rộng
phạm vi hoạt động cũng như mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình.
1.2.6. Chiến lược thị trường
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược và việc thực
hiện chiến lược marketing thường được các doanh nghiệp rất coi trọng. Mọi khái niệm và
ý tưởng kinh doanh sẽ đều trở nên vô nghĩa nếu doanh nghiệp không thể đưa các sản
phẩm hay doanh nghiệp của mình tới các khách hàng tiềm năng. Toàn bộ các hoạt động
mà doanh nghiệp thực hiện nhằm xúc tiến các sản phẩm và dịch vụ của mình cho các
khách hàng tiềm năng gọi là hoạt động marketing của doanh nghiệp.
1.2.7. Sự phát triển có tổ chức
Trong kinh doanh, việc đầu tư thường được bắt đầu từ những người có đầu óc kinh
doanh, biết nhìn xa trông rộng. Tuy nhiên, nếu chỉ mình họ sẽ khó có thể biến các ý
tưởng của mình trở thành các doanh nghiệp giá trị hàng triệu đôla. Để có một doanh
nghiệp tăng trưởng, phát triển nhanh chóng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp thương
mại điện tử, cần phải có đủ các nguồn lực và có một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh.

được những người vừa có khả năng và kinh nghiệm để có thể vận dụng những kinh
nghiệm của cá nhân vào quản lý các mô hình kinh doanh mới.
Để đánh giá khả năng của nhà quản lý, trước tiên phải xem xét những kinh nghiệm
nhà quản lý cần có. Với mỗi doanh nghiệp, mỗi mô hình kinh doanh khác nhau sẽ đòi hỏi
những kinh nghiệm khác nhau. Ngoài ra cần phải xem xét nhiều yếu tố khác như kiến
thức nền tảng của nhà quản lý, kinh nghiệm giám sát, điều hành hoạt động kinh doanh, số
năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn, khả năng phối hợp với các bộ phận khác
trong doanh nghiệp; đặc biệt, đối với các nhà quản trị cao cấp cần xem xét khả năng và
kinh nghiệm trong việc tìm kiếm, ký kết hợp đồng để thu hút các nguồn tài chính từ các
nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp.
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 12
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
1.3. Vai trò của mô hình kinh doanh trong TMĐT.
• Định vị thị trường
• Xác định giá trị cốt lõi mà DN đem lại cho khách hàng
• Đánh giá chi phí và lợi nhuận dự kiến
• Đánh giá chính xác đối thủ cạnh tranh
• Phát huy lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
 Các hình thức kinh doanh trong mô hình kinh doanh thương mại điện tử
 Thư điện tử
Ngày nay, thư điện tử (electronic mail, viết tắt là e-mail) đã trở nên một hình thức
thông tin liên lạc phổ biến và tiện dụng. Người ta, có thể dùng thư điện tử để gửi/ nhận 1
thông điệp trên phạm vi toàn thế giới 1 cách tức thời. Ngoài ra, tính năng đính kèm file
của thư điện tử cho phép gửi kèm 1 hay nhiều tập tin dưới nhiều dạng thức, như : văn
bản, bảng tính, âm thanh, hình ảnh, video…
Không chỉ được sử dụng bởi các cá nhân, ngày càng nhiều các doanh nghiệp, tổ
chức, các cơ quan Nhà nước… sử dụng thư điện tử để gửi các văn bản, hợp đồng, công
văn, giấy tờ chính thức một cách “trực tuyến”. Thông tin trong thư điện tử không phải
tuân theo một cấu trúc định trước nào.
Tuy nhiên, khi trao đổi dữ liệu qua thư điện tử cũng gặp phải nhiều vấn đề liên

(4) Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
 Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, viết tắt là EDI) là việc trao
đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form)
1
, từ máy tính điện tử này sang
máy tính điện tử khác, giữa các công ty hoặc đơn vị đã thỏa thuận buôn bán với nhau,
theo cách này sẽ tự động hóa hoàn toàn không cần có sự can thiệp của con người.
Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), việc trao
đổi dữ liệu điện tử được xác định như sau: “Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển
giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện
tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin”.
TMĐT có đặc tính phi biên giới (Cross - border electronic commerce), nghĩa là
trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau, công việc
trao đổi EDI thường là các nội dung sau:
1/ Giao dịch kết nối
2/ Đặt hàng
3/ Giao dịch gửi hàng
1
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 14
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
4/ Thanh toán
1.4.4. Truyền dung liệu
Dung liệu (content) là nội dung của hàng hóa, mà không phải là bản thân vật mang
nội dung đó; ví dụ như: Tin tức, nhạc phim, các chương trình phát thanh, truyền hình, các
chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng
bảo hiểm, v.v
Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật. Ngày nay, dung liệu được
số hóa và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hóa” (digital delivery).
1.4.5. Bán lẻ hàng hóa hữu hình

Việc hướng tới thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích, cũng như nhiều thử
thách. Mô hình cửa hiệu điện tử là từ mà nhiều người nghĩ tới khi nghe đến “thương mại
trực tuyến”. Mô hình cửa hiệu điện tử kết hợp xử lý giao dịch, thanh toán trực tuyến, an
toàn và lưu trữ thông tin để giúp cho các thương gia bán sản phẩm của họ qua mạng. Mô
hình này là dạng cơ bản cho thương mại điện tử trong đó, người mua và người bán tương
tác trực tiếp.
Để xây dựng cửa hiệu điện tử, người bán cần phải tổ chức các danh mục trực
tuyến về các sản phẩm, đặt hàng qua trang web của họ, chấp nhận chi trả an toàn, gửi các
món hàng đến khách hàng và quản lý dữ liệu khách hàng (như : hồ sơ khách hàng, sở
thích, thói quen mua sắm…). Họ còn phải tiếp thị địa chỉ của họ đến các khách hàng tiềm
năng.
Một số những công ty thành công nhất trong thương mại điện tử đã sử dụng mô
hình cửa hiệu trực tuyến. Rất nhiều công ty hàng đầu theo mô hình cửa hiệu trực tuyến là
các công ty B2C (business to consumer – doanh nghiệp đến người tiêu dùng). Chẳng hạn,
More.com là một địa chỉ thương mại trực tuyến về các sản phẩm y tế và làm đẹp, đã sử
dụng giỏ mua sắm điện tử cho phép khách hàng xem, mua sắm và sắp đặt việc giao hàng.
Sản phẩm của nó bao gồm các sản phẩm chăm sóc da, mắt, dược phẩm và nhiều sản
phẩm chăm sóc sức khỏe khác. Moviefone.com sử dụng mạng Internet để cải tiến dịch vụ
khách hàng không trực tuyến của nó. Qua trang web, các khách hàng có thể truy xuất các
vé xem phim …công nghệ giỏ mua hàng để bán vé, một hệ thống cơ sở dữ liệu cao cấp
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 16
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
để lưu trữ dữ liệu khách hàng và lưu kho và một cơ sở hạ tầng hỗ trợ mạnh mẽ cho các
hoạt động trên Internet của nó.
Ví dụ website Amazon.com và mô hình cửa hiệu điện tử:
Các ví dụ được công nhận nhiều nhất về thương mại điện tử sử dụng công nghệ giỏ mua
hàng là Amazon.com. Được thành lập vào năm 1994, công ty đã phát triển nhanh chóng
để trở thành một trong những nhà bán lẻ trực tuyến lớn nhất thế giới. Amazon.com cung
cấp hàng triệu sản phẩm cho hơn 17 triệu người tiêu dùng trên 160 quốc gia.
Amazon.com còn cung cấp các đấu giá trực tuyến.

danh sách các sản phẩm mà bạn đã đặt trong giỏ. Bạn có thể thay đổi số lượng của mỗi
món, bỏ đi một mặt hàng khỏi giỏ, tính tiền hay tiếp tục mua sắm.
Khi bạn sẳn sàng để đặt hàng, bạn yêu cầu tính tiền. Là khách hàng lần đầu, bạn sẽ được
yêu cầu điền vào bảng thông tin cá nhân, gồm tên, địa chỉ lập hóa đơn, địa chỉ nhận hàng,
phương thức giao hàng, và thông tin thẻ tín dụng. Bạn còn được yêu cầu nhập vào một
mật khẩu mà bạn dùng để truy xuất dữ liệu tài khoản của bạn cho tất cả các giao dịch
trong tương lai. Sau khi đã xác nhận các thông tin, bạn đã có thể đặt hàng.
Các khách hàng trở lại trang Amazon.com có thể sử dụng hệ thống 1-Click của nó, hệ
thống này cho phép khách hàng sử dụng lại các thông tin giao hàng và chi trả đã nhập
trước đây để đặt hàng chỉ bằng một cú nhấp chuột. Đó là một ví dụ về cách mà các ứng
dụng CSDL được thiết kế một cách thông minh giúp cho các giao dịch kinh doanh trên
mạng nhanh hơn và dễ dàng hơn.
Khi bạn đã hoàn tất việc đặt hàng, Amazon.com gởi xác nhận đến bạn bằng e-mail. Nó sẽ
gởi e-mail thứ 2 khi đơn đặt hàng được giao. Một CSDL theo dõi trạng thái của tất cả các
vận chuyển. Bạn có thể theo dõi trạng thái món hàng bạn mua cho đến khi nó rời khỏi
trung tâm vận chuyển của Amazon.com bằng việc chọn mục Your Account ở cuối trang
và nhập vào mật khẩu của bạn. Nó sẽ dẫn bạn đến trang quản lý tài khỏan. Bạn có thể
hủy đặt hàng bất cứ lúc nào, trước khi sản phẩm được vận chuyển, thường là trong vòng
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 18
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
24 hoặc 48 tiếng đồng hồ từ khi mua. Amazon.com có nhà kho ở từng khu vực, nhờ đó,
nó có thể vận chuyển các gói hàng vào ban đêm mà không phải sử dụng dịch vụ phân
phối tốc hành.
Amazon.com họat động trên máy chủ an toàn, bảo vệ các thông tin cá nhân của bạn. Nếu
bạn cảm thấy không thoải mái khi dùng thẻ tín dụng trên web, bạn có thể khởi động đơn
đặt hàng của bạn qua trang web của Amazon sử dụng 5 ký tự cuối của thẻ tín dụng, và
hoàn tất đơn đặt hàng của bạn bằng việc gọi điện cho phòng dịch vụ khách hàng của
Amazon để cung cấp những số còn lại.
2.1.1. Công nghệ giỏ mua hàng
Một trong những kỹ thuật thường được sử dụng cho thương mại điện tử là giỏ mua

địa phương, như Jcrew, The Gap (www.gap.com), The Sport Authority, và Sharper
Image. Những siêu thị trực tuyến khác là Shopnow.com và www.DealShop.com.
2.2. Mô hình đấu giá
Trên web có rất nhiều loại địa chỉ đấu giá, cộng với các địa chỉ mà tìm kiếm trên
các địa chỉ đấu giá khác để tìm ra giá thấp nhất cho một món hàng. Thông thường, các
trang đấu giá hoạt động như một diễn đàn, ở đó người dùng internet có thể đóng vai là
người bán hoặc người đấu giá. Là người bán, bạn có thể gởi một món hàng mà bạn muốn
bán, giá tối thiểu bạn đòi hỏi để bán món hàng của bạn, và hạn chót để đóng một phiên
đấu giá. Một số địa chỉ cho phép bạn thêm các đặc trưng như là một bức ảnh hay là mô tả
về điều kiện của món hàng. Là người đấu giá, bạn có thể tìm kiếm trên trang những món
hàng mà bạn đang cần, xem các hoạt động đấu giá và đặt một giá nào đó, thường là được
thiết kế tăng dần. Một số địa chỉ cho phép bạn đưa ra giá đấu cao nhất và một hệ thống tự
động sẽ tiếp tục đấu giá cho bạn. Công nghệ đấu giá được giải thích sâu hơn qua các đặc
tính của eBay.
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 20
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
Mô hình đấu giá ngược cho phép người mua thiết lập một giá, mà người bán cạnh
tranh với nhau để phù hợp, hay thậm chí đánh bại. Một ví dụ về địa chỉ đấu giá ngược là
LiquidPrice.com, nó xử lý giá bạn đặt ra trong vòng 2 ngày. Một tùy chọn là người nhanh
hơn sẽ thắng, khi người mua cho một giá đặt trước. Giá đặt trước là giá thấp nhất mà
người bán sẽ chấp nhận. Người bán có thể thiết lập giá đặt trước cao hơn giá đấu tối
thiểu. Nếu không có giá nào đến được giá đặt trước thì coi như phiên đấu giá thất bại.
Nếu người bán thiết lập một giá đặt trước ở LiquidPrice.com, người bán sẽ nhận được
một loạt các giá đấu trong vòng 6 giờ sau khi gởi, theo tùy chọn nhanh hơn, nếu một giá
đấu thành công được lập, người mua và người bán phải cam kết với nhau.
Mặc dù, các địa chỉ đấu giá thường đòi hỏi tỷ lệ huê hồng từ phía người bán,
những trang này chỉ là một diễn đàn giữa người mua và người bán mà thôi. Khi một
phiên đấu giá kết thúc thành công, cả người mua và người bán đều được thông báo, và
phương thức chi trả và giao hàng sẽ được thực hiện bởi 2 phía. Hầu hết các trang đấu giá
đều không liên quan đến việc chi trả và giao hàng, nhưng họ sẽ làm nếu dịch vụ chi trả và

từ khóa, giá ban đầu, ngày đóng phiên đấu giá và các thông tin cá nhân. Dữ liệu này được
dùng để tạo ra hồ sơ sản phẩm được xem bởi người mua tiềm năng.
Tiến trình đấu giá bắt đầu khi người bán gởi các mô tả về món hàng cần bán và điền vào
các thông tin đăng ký phù hợp. Người bán phải mô tả một giá mở đấu tối thiểu. Nếu
khách hàng tiềm năng cảm thấy giá này là quá cao, món hàng có thể sẽ không nhận được
giá đấu nào hết. Trong nhiều trường hợp, một giá bảo toàn (reserve price) được thiết lập.
Người bán có thể thiết lập giá mở thấp hơn giá bảo toàn để tạo ra hoạt động đấu giá
Nếu 1 giá đấu thành công, người bán và người mua thương lượng về chi tiết giao hàng,
bảo hành, và các chi tiết khác. eBay phục vụ như một liên lạc viên giữa các phía, nó là
một giao diện mà ở đó người mua và người bán có thể tiến hành kinh doanh. eBay không
duy trì một nhà kho vật lý tốn chi phí, cũng như không xử lý việc giao hàng, hay các dịch
vụ khác mà các doanh nghiệp khác như Amazon và các nhà bán lẻ khác phải cung cấp
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 22
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
eBay tạo ra một số hoạt động kinh doanh sử dụng địa chỉ này như là phương tiện bán sản
phẩm. Các doanh nghịệp này phụ thuộc vào eBay để tồn tại và hoạt động. Bởi vi thời
gian nghỉ có thể là phí tổn đối với 1 doanh nghiệp trực tuyến, các công ty như eBay đầu
tư vào hệ thống tính tóan sẳn sàng cao và hệ thống luôn sẳn sàng.
Hệ thống sẳng sàng cao cố gắng tối thiểu hóa thời gian nghỉ; hệ thống luôn sẳn sàng cố
gắng loại trừ nó hoàn toàn. Một điều quan trọng đối với những công nghệ này là những
hệ thống có khả năng chịu lỗi sử dụng sự dư thừa. Mọi phần cứng quan trọng – bộ xử lý,
dĩa và các kênh truyền thông – được sao lưu ở 1 hay nhiều cấp độ, vì vậy, khi gặp lỗi, hệ
thống chỉ đơn giản là thay đổi các phần hư hỏng bằng các phần đã sao lưu. Hệ thống vẫn
hoạt động trong khi phần bị lỗi được sửa hoặc thay thế. Điều này cũng đúng đối với dữ
liệu: Bởi vì các công ty không thể chấp nhận mất dữ liệu kinh doanh, dữ liệu còn được
duy trì một cách dư thừa. Tandem (www.tandem.com) và Stratus (www.stratus.com) đã
xây dựng những hệ thống tính toán sẳn sàng cao và luôn sẵn sàng.
Ảnh hưởng của eBay lên thương mại điện tử là rất lớn. Những người sáng lập của
nó đã chọn một mô hình kinh doanh giới hạn việc truy xuất không trực tuyến, và bằng
internet, đã có thể mang nó đến với màn hình máy tính của người tiêu dùng trên toàn thế

tiếp. Mỗi cổng giao tiếp sắp xếp các tiến trình mua sắm trực tiếp của nó khác nhau một
chút. Một số cổng giao tiếp tính phí người bán để có các đường liên kết; một số khác lại
không. Chẳng hạn, Goto.com tính tiền người bán trên số lần nhấp vào của người tiêu
dùng. Các địa chỉ khác, như About.com và Altavista.com chẳng hạn, thì không tính phí
người bán khi xuất hiện ở một vị trí nào đó trên trang của họ, nhưng để dành phía trên
của trang và các vịt trí chính yếu cho các khách hàng có trả tiền.
Yahoo! Và mô hình cổng giao tiếp:
Yahoo là một cổng ngang với rất nhiều kết nối đến các địa chỉ và các thể loại theo chủ đề.
Nó còn cung cấp cho người dùng khả năng sử dụng giỏ mua hàng. Qua Yahoo, người tiêu
dùng có thể kết nối tới một số cửa hiệu trực tuyến, thêm các món hàng vào giỏ mua hàng
Yahoo của họ khi mua sắm. Khi người dùng đã đăng ký với Yahoo, họ có thể bẳt đầu tìm
Thanh Huyền- Thu Hường –Nguyễn Hồng. Page 24
Nghiên cứu về các mô hình kinh doanh trong TMĐT
kiếm các sản phẩm. Sau khi chọn ra một sản phẩm và 1 người bán, người sử dụng có thể
chọn lựa việc bỏ nó vào giỏ mua hàng hoặc cho vào 1 danh sách các món ao ước. Danh
sách các món hàng ao ước là một trang web cá nhân, nó tổng hợp và lưu trữ các món
hàng mà bạn muốn mua vào một lúc nào đó sau này. Nó còn có thể được dùng để xây
dựng một danh sách giáng sinh hay một đăng ký cho đám cưới.
Để tham dự vào việc mua sắm của Yahoo, người dùng nhấp vào mục Shopping ở đầu của
trang nhà Yahoo. Từ đó, người dùng có thể tìm kiếm một sản phẩm bằng cách chọn loại,
gõ vào một từ khóa tìm kiếm hoặc viếng thăm một trong các cửa hiệu nổi bật trong
Featured Stores. Các tính năng khác có trong trang này là đăng ký quà tặng, Hot
Products, What’s Selling Now và hệ thống thưởng điểm của Yahoo. Đăng ký vào mục
quà tặng hay hệ thống thưởng là một tiến trình đơn giản, được hoàn tất bằng việc nhấp
vào SignIn và tạo ra một tên đăng nhập và mật khẩu.
Khi người tiêu dùng sẳn sàng để tính tiền, họ có thể mua tất cả các món qua Yahoo, thay
vì phải mua ở từng cửa hiệu. Điều này đơn giản hóa tiến trình mua sắm bằng việc giới
hạn số lần đăng ký và điền vào phiếu mà khách hàng phải thực hiện.
Việc mua sắm trên Yahoo chỉ là một trong nhiều mục khác. Một khách hàng đến địa chỉ
này có thể tìm kiếm bất kỳ sản phẩm nào. Để cải tiến chất lượng của khả năng tìm kiếm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status