NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH LÀ MỤC TIÊU CƠ BẢN VÀ LÂU DÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG - Pdf 66

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH LÀ MỤC
TIÊU CƠ BẢN VÀ LÂU DÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CƠ
CHẾ THỊ TRƯỜNG
I. HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH.
1. Các quan điểm cơ bản về bản chất của hiệu quả sản xuất kinh
doanh:
1.1. Các quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các
hoạt động kinh doanh, từ khâu nghiên cứu khảo sát nhu cầu thị trường để
quyết định sản xuất đến các khâu tổ chức quá trình sản xuất, mua hàng hóa
hoặc làm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu con người và xã hội, và thông qua
hoạt động hữu ích đó mà kiếm lời. Chính vì vậy để xem xét một doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả hay không ta có thể xuất phát từ việc tính toán hiệu
quả của toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hay của từng bộ
phận lĩnh vực riêng lẻ tức là khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên
các góc độ khác nhau để xem xét.
Cũng giống như một số chỉ tiêu khác, hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng
tổng hợp phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất, đồng
thời là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Sản xuất
hàng hóa có phát triển hay không là nhờ đạt được hiệu quả cao hay thấp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa là một phạm trù cụ thể, vừa là phạm
trù trừu tượng. Nếu là phạm trù cụ thể thì trong công tác quản lý phải định
lượng thành các chỉ tiêu, con số để tính toán, so sánh. Nếu là phạm trù trừu
tượng phải
được định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực
sản xuất kinh doanh. Có thể nói rằng, phạm trù hiệu quả là kiến thức thường
trực của mọi cán bộ quản lý, được ứng dụng rộng rãi vào mọi khâu, mọi bộ
phận trong quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đây ta có thể chia hiệu quả
thành hai loại: hiệu quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả kinh tế) và hiệu quả
kinh tế - xã hội. Hiệu quả trực tiếp của doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế, còn

doanh nghiệp đã đề ra.
1.3. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao
động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật
thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử
dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã
hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực.
Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các
điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết
kiệm mọi chi phí.
2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp:
Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu để các nhà quản
trị thực hiện các chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh
doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho
phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp
thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
3. Những biện pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh:
Hiệu quả kinh doanh chẳng những bị ảnh hưởng của những nhân tố bên
trong, còn luôn bị tác động các yếu tố môi trường bên ngoài. Chính vì vậy,
muốn đạt được hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ có những điều
kiện, biện
pháp sử dụng nguồn lực bên trong một cách hiệu quả mà phải nắm bắt các bất
chắc của môi trường có thể có, đưa ra những biện pháp đối phó, thậm trí có
thể lấy đó làm cơ hội cho việc kinh doanh.
3.1. Nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp:
Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó trình độ quản
trị doanh nghiệp đóng vai trò quyết định. Việc thực hiện tốt bốn chức năng cơ

3.3. Xác định mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp:
Mỗi doanh nghiệp cần có cái nhìn đúng đắn về hiện trạng doanh nghiệp,
môi trường hoạt động để đề ra các mục tiêu xác đáng, các chiến lược, giải
pháp để thực hiện mục tiêu đề ra. Với mục tiêu đề ra, các doanh nghiệp phải
xây dựng các chiến lược phù hợp cho từng thời kỳ. Doanh nghiệp không phải
lúc nào cũng theo đuổi chiến lược phát triển, phát triển với một tốc độ nhanh
chóng như việc theo đuổi quá nhiều dự án, những siêu dự án. Những chiến
lược phát triển như vậy dễ dẫn đến mất cân đối tài chính, tài chính bị dàn trải
và dễ dẫn đến sự phá sản. Hơn nữa hầu hết các dự án chỉ luôn đưa ra những
số liệu tính toán theo hướng lạc quan mà không tính đến khía canh ngược lại
của nó là bi quan. Khi dự án gặp phải tình hình thị trường bất lợi, đối thủ cạnh
tranh mạnh, giá bán giảm... lúc đó ta không lường được những rủi ro, những
thua lỗ, thất bại có thể có và khi tình hình không như mong muốn doanh
nghiệp sẽ bị rơi vào tình trạng phá sản.
3.4. Yếu tố con người - sự quan tâm hàng đầu:
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chúng ta không thể không quan
tâm đến yếu tố con người, đây chính là thách thức lớn nhất đối với quản lý.
Làm sao có được một đội ngũ lao động lành nghề, luôn học hỏi, có nỗ lực, có
nhiệt tình cao trong công việc. Đó là điều kiện bảo đảm cho sự thành công của
doanh nghiệp. Muốn vậy phải nhận thức được vai trò quan trọng của yếu tố
con người, phải thường xuyên tạo điều kiện cho người lao động nâng cao trình
độ, đưa ra những ý kiến đóng góp, kích thích tinh thần sáng tạo và tinh thần
tích cực trong công việc nhờ các hình thức khuyến khích bằng vật chất và tinh
thần làm người lao động thỏa mãn, gắn bó với doanh nghiệp.
3.5. Tạo vốn kinh doanh:
Khó khăn chung của hầu hết các doanh nghiệp là thiếu vốn bởi vì nó bổ
sung vốn cơ bản trong suốt quá trình kinh doanh. Tạo vốn bằng hình thức đi
vay sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn
mang gánh nặng lãi suất. Hơn nữa vốn vay lớn tạo ra sự mất cân đối lớn trong
cơ cấu vốn, chứa định nhiều sự bấp bênh rủi ro. Vì vậy không nên lạm dụng

doanh:
1. Nhóm nhân tố khách quan:
1.1. Môi trường nhân khẩu học:
Trong thời đại ngày nay nhất là trong quá trình đất nước ta đang trong
công cuộc đổi mới cùng với sự thúc đẩy của quá trình hội nhập quốc tế đã tạo
ra sự thay đổi về cái nhìn mới đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự biến
đổi của thị trường diễn ra thường xuyên cùng với tính chất khắc nghiệt của nó
cộng với quá trình đô thị hóa và phân bố lại dân cư. Lịch sử đã từng có nhiều
cuộc di dân diễn ra mang tính chất tự nhiên và cơ học. Bản chất của con người
luôn tìm kiếm những vùng có định hướng tự nhiên thuận lợi để cư trú, sinh
sống và làm ăn. Các vùng đô thị tập trung luôn luôn là thị trường quan trọng
cho các nhà quản trị. Bên cạnh đó việc phân bố lại lực lượng sản xuất, phân
vùng lãnh thổ đặc khu kinh tế cùng tạo ra các cơ hội thị trường mới đầy hấp
dẫn, ngay cả khi trung tâm thành phố trở nên quá đông đúc chật chội thì các
nhà quy hoạch bắt đầu phát triển các vùng vên đô, ven thị, chúng trở thành các
vệ tinh và những nơi đó càng trở thành những thị trường. Nền kinh tế ngày
càng phát triển, trình độ văn hóa giáo dục trong dân cư được tăng lên, sự hiểu
biết về cảm nhận mới mẻ hơn, đẹp đẽ hơn cũng được tăng lên cộng thêm nhiều
ngành nghề mới ra đời tạo ra những loại sản phẩm mới, nhu cầu mới, đáp ứng
những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng.
1.2. Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế trước hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế
chung về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng. Nó có thể tạo ra tính hấp dẫn về
thị trường và sức mua khác nhau đối với các thị trường hàng hóa khác nhau.
Khi nền kinh
tế ở vào giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cũng như thuế khóa tăng thì
người tiêu dùng buộc phải đắn đo để ra các quyết định mua sắm. Nhiều hành
vi mua sắm mang tính chất "không tích cực sẽ diễn ra" ảnh hưởng rất lớn đến
các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm phục vụ người tiêu dùng do đó cũng
ảnh hưởng tới nhu cầu về nhãn mác sản phẩm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status