Lời mở đầu
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng trong mọi nền
kinh tế thế giới. Đối với nớc ta, từ một nền sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa, cùng một lúc phải thực hiện những nhiệm vụ to lớn và cấp bách trong
sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ Quốc XHCN, thì việc nâng cao hiệu quả kinh tế
trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị
kinh tế cơ sở càng có ý nghĩa quan trọng.
Việc chuyển đổi nền kinh tế nớc ta từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng
XHCN đã tạo ra những cơ hội mới và cả những thách thức mới cho các doanh
nghiệp. Với các nguồn lực ngày càng khan hiếm, sự cạnh tranh cũng càng trở nên
gay gắt, khốc liệt đã làm cho nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ, giải thể, thậm chí phá
sản, nhng cũng có không ít các doanh nghiệp do nắm bắt đợc cơ hội, tổ chức thực
hiện quá trình sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả đã trụ vững và ngày càng
phát triển. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh càng trở nên
có tính chất sống còn đối với các doanh nghiệp
Nhà máy in Diên Hồng đã gặp không ít những khó khăn từ khi bắt đầu đợc
thành lập. Để tồn tại và phát triển trong cơ chế mới Nhà máy đã mạnh dạn đa
dạng hóa các ngành nghề kinh tế với mục tiêu lâu dài là kinh doanh có hiệu quả.
Nhận rõ đợc vai trò quan trọng của hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng nh việc
không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong thời gian về thực tập
và những tình hình sản xuất kinh doanh ở Nhà máy in Diên Hồng, cùng với sự
giúp đỡ tận tình của Thầy giáo -GS.T.S Trần Minh Tuấn em đã quyết định chọn
một đề tài nghiên cứu với ớc muốn đợc sáng tỏ những kiến thức đã học đợc và
đóng góp cho việc thực hiện mục tiêu lâu dài của Nhà máy. Đề tài của em có tên
"Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở
1
Nhà máy in Diên Hồng" với nội dung gồm 3 chơng:
Chơng I: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu cơ bản và lâu
phát triển hay không là nhờ đạt đợc hiệu quả cao hay thấp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa là một phạm trù cụ thể, vừa là phạm trù
trừu tợng. Nếu là phạm trù cụ thể thì trong công tác quản lý phải định lợng thành
các chỉ tiêu, con số để tính toán, so sánh. Nếu là phạm trù trừu tợng phải
đợc định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh. Có thể nói rằng, phạm trù hiệu quả là kiến thức thờng trực của mọi
cán bộ quản lý, đợc ứng dụng rộng rãi vào mọi khâu, mọi bộ phận trong quá trình
3
sản xuất kinh doanh. Từ đây ta có thể chia hiệu quả thành hai loại: hiệu quả sản
xuất kinh doanh (hiệu quả kinh tế) và hiệu quả kinh tế - xã hội. Hiệu quả trực tiếp
của doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế, còn hiệu quả của ngành hiệu quả của nền
Kinh tế Quốc dân là hiệu quả kinh tế - xã hội.
Cả hai hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nớc. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp bảo đảm bù đắp chi phí đã bỏ
ra và vừa có tích lũy để tiếp tục quá trình tái sản xuất mở rộng. Còn hiệu quả kinh
tế - xã hội đem lại lợi ích cho xã hội và nền Kinh tế Quốc dân, nó thể hiện qua
việc tăng thu ngân sách cho Nhà nớc, tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao
động, nâng cao mức sống của ngời lao động và tái phân phối lợi tức xã hội.
1.2. Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Từ trớc đến nay các nhà kinh tế đã đa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất tức
là giá trị sử dụng của nó (hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu đợc sau quá
trình kinh doanh). Khái niệm này lẫn lộn giữa hiệu quả và mục tiêu kinh doanh.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trởng kinh tế phản ánh nhịp độ
tăng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này chỉ là phiến diện, chỉ đúng trên mức
độ biến động theo thời gian.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết
quả. Đây là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả kinh
hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ có những điều kiện, biện
pháp sử dụng nguồn lực bên trong một cách hiệu quả mà phải nắm bắt các bất
chắc của môi trờng có thể có, đa ra những biện pháp đối phó, thậm trí có thể lấy
đó làm cơ hội cho việc kinh doanh.
3.1. Nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp:
Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó trình độ quản trị
5
doanh nghiệp đóng vai trò quyết định. Việc thực hiện tốt bốn chức năng cơ bản:
Hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra là điều kiện tiên quyết để đạt đợc hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Từ việc xác định mục tiêu, xây dựng chiến lợc, tổ chức
các nguồn lực doanh nghiệp, xây dựng bộ máy quản lý, tác nghiệp, bố trí sử dụng
nớc, các biện pháp đôn đốc, thúc đẩy, động viên và kiểm soát. Ngoài ra quản trị
còn nghiên cứu các yếu tố môi trờng, theo dõi, dự báo những biến động, thay đổi
có thể có nhằm hạn chế những tổn thất, thiệt hại cho quá trình sản xuất kinh
doanh.
Để thực hiện đợc biện pháp này cần nhận thức, hiểu rõ vai trò, tầm quan
trọng của quản trị đối với doanh nghiệp. Nói chung trớc tình hình kinh doanh hiện
nay, nhiều doanh nghiệp đi vào chỗ thua lỗ, phá sản là có nhiều nguyên nhân nhng
có thể khẳng định một trong những nguyên nhân cơ bản nhất đó chính là sự yếu
kém về quản trị của các nhà quản trị.
3.2. Xây dựng cấu trúc tổ chức hợp lý:
Một trong những nguyên nhân phổ biến làm doanh nghiệp hoạt động không
hiệu quả chính là do cơ cấu tổ chức cồng kềnh, trì trệ, hoạt động không hiệu quả.
Vì vậy, để hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả cần phải có cơ cấu tổ chức hợp
lý, có khả năng dẫn dắt đơn vị đến mục tiêu đề ra, tạo đợc những tác động kết hợp
các nguồn lực doanh nghiệp, tác động thúc đẩy các nguồn lực phát triển. Cần phải
có một cơ cấu gọn nhẹ hơn, đồng thời lại mang đến một kết quả lớn hơn.
Khi các doanh nghiệp thất bại hoặc suy giảm thờng hay đổ lỗi cho các yếu tố
khách quan, cho rằng môi trờng kinh doanh khó khăn, cho cạnh tranh gay
gắn bó với doanh nghiệp.
3.5. Tạo vốn kinh doanh:
Khó khăn chung của hầu hết các doanh nghiệp là thiếu vốn bởi vì nó bổ sung
vốn cơ bản trong suốt quá trình kinh doanh. Tạo vốn bằng hình thức đi vay sẽ ảnh
hởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn mang gánh nặng lãi
suất. Hơn nữa vốn vay lớn tạo ra sự mất cân đối lớn trong cơ cấu vốn, chứa định
nhiều sự bấp bênh rủi ro. Vì vậy không nên lạm dụng vốn vay, khi sử dụng biện
7
pháp vay vốn cần phải có kế hoạch sử dụng hiệu quả và có biện pháp phòng chống
những rủi ro có thể từ yếu tố này. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh, biện
pháp cổ phần hóa doanh nghiệp, hình thành thị trờng chứng khoán là một biện
pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn cho các doanh nghiệp. Xác định cơ cấu vốn
hợp lý, chặt chẽ và thích ứng với quy mô doanh nghiệp, tránh không lạm dụng vốn
vay quá mức, đặc biệt là vốn vay ngắn hạn, có những biện pháp hữu hiệu đối phó
với những biến động về tài chính.
3.6. Trình độ kỹ thuật và công nghệ:
Các doanh nghiệp để khẳng định vị trí trên thị trờng, để đạt đợc hiệu quả sản
xuất kinh doanh, để giảm chi phí, sản lợng cao đồng thời để thị trờng chấp nhận
sản phẩm, đòi hỏi sản phẩm phải đạt đợc các tiêu chuẩn, phải đạt đợc chất lợng
sản phẩm. Muốn vậy cần phải tiếp cận với khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến,
vận dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, phải không ngừng cải tiến đầu t
công nghệ, chính đó là một nhân tố giúp doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu
quả hơn.
3.7. Nghiên cứu môi trờng:
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều có sự liên hệ với môi trờng và
chịu sự tác động của môi trờng đến doanh nghiệp. Những tác động của môi trờng
có thể là thuận lợi hay bất lợi cho doanh nghiệp. Do tính chất quốc tế hóa, khu vực
hóa, hoạt động của doanh nghiệp không chỉ còn thuộc phạm vi của một quốc gia
hay một vùng nào đó, cho nên doanh nghiệp còn chịu sự tác động của môi trờng
mua khác nhau đối với các thị trờng hàng hóa khác nhau. Khi nền kinh
tế ở vào giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cũng nh thuế khóa tăng thì ngời
tiêu dùng buộc phải đắn đo để ra các quyết định mua sắm. Nhiều hành vi mua sắm
mang tính chất "không tích cực sẽ diễn ra" ảnh hởng rất lớn đến các doanh nghiệp
sản xuất các sản phẩm phục vụ ngời tiêu dùng do đó cũng ảnh hởng tới nhu cầu về
nhãn mác sản phẩm.
Khi nền kinh tế trở lại thời kỳ phục hồi và tăng trởng. Việc mua sắm tấp nập
9
trở lại làm cho nhịp và chu kỳ kinh doanh trở nên phồn thịnh. Những ngời có thu
nhập cao sẽ đòi hỏi chất lợng hàng hóa và dịch vụ ở mức cao hơn, con ngời không
chỉ đơn thuần cầu "ăn no mặc ấm" mà thay bằng mong muốn "ăn ngon mặc đẹp"
họ cần nhiều loại sản phẩm tiêu dùng cho phép tiết kiệm thời gian, hình thức bao
bì mẫu mã trở thành yếu tố quan trọng để thu hút ngời đặt in.
Việc tiêu dùng mang tính vật chất không còn đóng vai trò quan trọng, việc
thỏa mãn các giá trị văn hóa tinh thần sẽ đòi hỏi phải đợc đầu t với cơ cấu, tỷ trọng
lớn hơn trong những u tiên về chi tiêu. Tuy nhiên ở Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì
một bộ phận không nhỏ tầng lớp dân c có thu nhập thấp, do đó đòi hỏi chất lợng
hàng hóa dịch vụ cha cao, đặc biệt là dân c nông thôn; ảnh hởng không nhỏ tới
nhu cầu về mẫu mã, nhãn hiệu của sản phẩm. Sản phẩm hàng hóa phục vụ ngời
tiêu dùng có phát triển kéo theo sự nâng cao về mặt chất lợng, số lợng, hình thức
mẫu mã của sản phẩm điều đó phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nền kinh
tế.
Chính vì vậy, có thể nói rằng yếu tố kinh tế ảnh hởng rất lớn đến môi trờng
kinh doanh của doanh nghiệp, nhu cầu về hàng hóa sản phẩm thấp tất sẽ dẫn đến
các sản phẩm có sử dụng nhãn mác, bao bì cũng sẽ giảm đi rất nhiều vì lúc đó cầu
của ngời tiêu dùng bị các yếu tố kinh tế tác động làm giảm sức mua của họ, ngoài
ra còn có thể kể đến các yếu tố tác động nh tăng trởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp,
chính sách tài chính tiền tệ.
1.3. Môi trờng công nghệ:
hội đòi hỏi tất cả các xí nghiệp, doanh nghiệp đều phải phân tích các yếu tố đó
nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Khi một yếu tố hay nhiều yếu
tố thay đổi chúng có thể tác động đến các doanh nghiệp nh xu hớng nhân chủng
học, sở thích vui chơi giải trí, chuẩn mực đạo đức xã hội ... Nhng môi trờng văn
hóa xã hội đôi khi trở thành hàng rào "gai góc" đối với các nhà hoạt động quản trị,
11
Marketing . Nói chung các giá trị văn hóa chủ yếu trong xã hội đợc thể hiện quan
niệm hay cách nhìn nhận, đánh giá con ngời về bản thân mình về mối quan hệ và
về thế giới. Điều đó kích thích sự phát triển của nền kinh tế tạo ra nhiều hàng hóa,
sản phẩm đa dạng về mẫu mã, nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất
có liên quan tạo ra sự biến động không ngừng của thị trờng.
2. Nhóm nhân tố chủ quan:
Là nhóm nhân tố doanh nghiệp mà có thể kiểm soát đợc cũng nh có thể điều
chỉnh đợc ảnh hởng của nó.
2.1. Lực lợng lao động:
Lao động là một trong những nhân tố khó xem xét và việc đánh giá dự đoán
kết quả tác động của nhân tố này đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thờng khó
chính xác. Khoa học kỹ thuật càng phát triển thì việc đa chúng trở thành lực lợng
sản xuất trực tiếp là điều tất nhiên, nhng vai trò quan trọng của con ngời là không
thể phủ nhận đợc trong lực lợng sản xuất. Trình độ, năng lực và tinh thần trách
nhiệm của ngời lao động là nhân tố đợc trong lực lợng sản xuất. Trình độ, năng lực
và tinh thần trách nhiệm của ngời lao động là nhân tố tác động trực tiếp đến năng
suất lao động, chất lợng sản phẩm và tốc độ tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp
đã đề ra.
Tiền lơng và thu nhập của ngời lao động có ảnh hởng trực tiếp và gián tiếp
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, vì tiền lơng là một bộ phận lớn cấu thành nên
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tiền lơng cao thì chi phí sản
xuất kinh doanh sẽ tăng do đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh
doanh, nhng mặt khác nó lại khuyến khích ngời lao động tăng năng suất lao động
những động lực to lớn để kích thích sản xuất phát triển. Một doanh nghiệp có năng
lực quản trị non kém sẽ không thể đứng vững trớc sự cạnh tranh khốc liệt của thị
trờng. Nếu bộ máy quản trị đợc bố trí có cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ, linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức
năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hoạt động hợp lý, tránh đợc sự chồng chéo trách
nhiệm vì chống đợc sức ỳ trong quản trị, chi phí hành chính sẽ đợc giảm đi góp
13
phần tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Và ngợc lại.
3. Môi trờng ngành:
Để phân tích môi trờng cạnh tranh ngành ta có thể sử dụng mô hình "Năm
lực lợng tác động vào ngành" của Michael Eporter bao gồm:
+ Mức độ cạnh tranh giữa các Nhà máy đang hoạt động trong ngành.
+ Khả năng cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn
+ Mức độ cạnh tranh của các sản phẩm thay thế
+ Sức ép về giá cả của ngời đặt hàng in
+ Sức ép về giá của ngời cung ứng
Mỗi tác động ngày càng lớn mạnh của những lực đó có thể coi là một sự đe
dọa khi mà nó làm giảm lợi nhuận. Một tác động cạnh tranh yếu có thể coi là cơ
hội khi nó cho phép Nhà máy kiếm đợc lợi nhuận nhiều hơn. Cờng độ của 5 lực
tác động này thờng thay đổi theo thời gian, đòi hỏi các nhà quản lý chiến lợc phải
nhận biết đợc những cơ hội và các đe dọa khi chúng xuất hiện và phải đa ra những
đối sách chiến lợc phù hợp.
3.1. Sự cạnh tranh của các đối thủ tiềm ẩn:
Đối thủ tiềm ẩn là các Nhà máy hiện không ở trong ngành nhng có khả năng
nhảy vào hoạt động kinh doanh trong ngành đó. Những đối thủ này mới tham gia
trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của Nhà máy do họ
đa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với mong muốn giành đợc một phần
thị trờng. Do đó doanh nghiệp đang hoạt động tìm mọi cách để hạn chế các đối
thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào lĩnh vực kinh doanh của mình. Bơi vì hiển nhiên
3.2. Sự cạnh tranh của các sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các Nhà máy ngành khác nhng
thỏa mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng giống nh các Nhà máy trong ngành, tạo ra sự
cạnh tranh gián tiếp giữa các Nhà máy với nhau. Nh vậy, sự tồn tại những sản
phẩm thay thế hình thành một sức ép cạnh tranh rất lớn, nó giới hạn mức giá một
15
Nhà máy có thể định ra và do đó giới hạn mức lợi nhuận của Nhà máy và ngợc lại.
3.3. Sức ép về giá của ngời cung cấp:
Ngời cung cấp đợc coi là sự đe dọa với Nhà máy khi họ có thể đẩy mức giá
hàng cung cấp cho Nhà máy lên, ảnh hởng đến lợi nhuận của Nhà máy. Các Nhà
máy thờng phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau nh
vật t thiết bị, nguồn lao động, tài chính. Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức
cung ứng cũng tơng tự nh các yếu tố làm tăng thế mạnh của ngời đặt in sản phẩm.
3.4. Sự cạnh tranh giữa các Nhà máy đang hoạt động trong ngành:
Sự cạnh tranh giữa các Nhà máy trong ngành là yếu tố quan trọng tạo ra cơ
hội hoặc mối đe dọa cho các Nhà máy. Nếu sự cạnh tranh này là yếu, các Nhà
máy có hội để nâng giá nhằm thu đợc lợi nhuận cao hơn. Nếu sự cạnh tranh này là
gay gắt cả về giá cả lẫn chất lợng sản phẩm thì Nhà máy sẽ gặp nhiều khó khăn
trong việc kinh doanh, Nhà máy phải đa ra đợc mức giá hợp lý đồng thời cũng
phải nâng cao đợc chất lợng sản phẩm ngày càng tốt hơn. Có nh vậy thì Nhà máy
mới thu hút đợc khách hàng và đứng vững trên thị trờng. Sự cạnh tranh giữa các
Nhà máy trong ngành này thờng chịu sự tác động tổng hợp của ba yếu tố: cơ cấu
ngành, mức độ của cầu và những trở ngại ra khỏi ngành.
- Cơ cấu cạnh tranh ngành: đó là sự phân bố về số lợng và quy mô của các
Nhà máy trong ngành. Có hai loại cơ cấu chính.
+ Thứ nhất: ngành phân tán
+ Thứ hai: ngành hợp nhất
Đặc trng của những ngành phân tán là các Nhà máy nhỏ bé không có sức
mạnh chi phối thị trờng và thờng phải chấp nhận mức giá của thị trờng. Khi đó
bởi tỷ số giữa kết quả đạt đợc với chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó.
K
H =
C
17
Hiện nay, phơng pháp đánh giá này đợc áp dụng nhiều trong các doanh
nghiệp do nó có u điểm hơn phơng pháp đánh giá tuyệt đối, bởi vì phơng pháp này
biểu hiện đợc tơng quan về chất và lợng, giữa kết quả với chi phí, phản ánh mức
độ chặt chẽ của mối liên hệ này.
Một quan điểm đa ra khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, là chúng ta
phải xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian, cả về mặt định
tính và định lợng của sản xuất kinh doanh.
a. Về thời gian:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ta có thể tính toán đợc hiệu
quả đạt đợc trong từng giai đoạn, nhng về nguyên tắc thì hiệu quả của từng giai
đoạn không đợc làm giảm hiệu quả khi xem xét trong thời kỳ dài hoặc hiệu quả
của chu kỳ sản xuất trớc không đợc làm hạ thấp hiệu quả của chu kỳ sau. Trong
nhiều trờng hợp vì lý do nào đó chỉ thấy lợi ích trớc mặt mà không thấy lợi ích lâu
dài, nh việc nhập một số thiết bị máy móc cũ kỹ, lạc hậu sẽ làm ảnh hởng đến hiệu
quả sản xuất lâu dài của doanh nghiệp.
b. Về mặt không gian:
Hiệu quả của hoạt động kinh tế cụ thể nào đó ảnh hởng tăng hoặc giảm
đến hiệu quả kinh tế của cả hệ thống mà nó liên quan tức là có sự ảnh hởng giữa
các ngành kinh tế này với các ngành kinh tế khác, giữa từng bộ phận với toàn bộ
hệ thống, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
c. Về mặt định tính:
Đứng trớc góc độ nền Kinh tế Quốc dân, hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp
đạt đợc phải gắn chặt chẽ với hiệu quả của toàn xã hội. Doanh nghiệp có hiệu quả
cao cha chắc đã mang lại hiệu quả cho xã hội. Và ngợc lại hiệu quả xã hội trong
trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải căn cứ vào cả mặt hiện vật lẫn giá trị
hàng hóa. Theo quan điểm này đòi hỏi việc tính toán đánh giá hiệu quả phải đồng
thời chú trọng cả hai mặt hiện vật và giá trị, ở đây mặt hiện vật ở số lợng sản phẩm
19
và chất lợng sản phẩm, còn mặt giá trị là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh:
2.1. Nhóm chỉ tiêu tổng hợp:
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
- Chỉ tiêu doanh thu trên 1 đồng chi phí
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Chỉ tiêu doanh thu trên 1 đồng chi phí =
Chi phí tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ tạo ra đợc
bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này cao khi tổng chi phí thấp, do vậy nó có ý
nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tìm ra các biện pháp giảm chi phí để tăng
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng vốn sản xuất (sức sản xuất của vốn):
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Sức sản xuất của vốn =
Tổng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
một đồng vốn kinh doanh sẽ tạo ra đợc bao nhiêu đồng doanh thu. Do đó, nó có ý
nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp trong việc quản lý vốn chặt chẽ, sử dụng tiết
kiệm và có hiệu quả đồng vốn kinh doanh.
- Chỉ tiêu doanh lợi theo chi phí:
Lợi nhuận trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Chỉ tiêu kết quả sản xuất trên 1 đồng chi phí tiền lơng =
Tổng chi phí tiền lơng trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí tiền lơng trong kỳ tạo ra đợc bao nhiêu
đồng doanh thu.
- Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính cho một lao động:
Lợi nhuận trong kỳ
Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính cho một lao động =
21
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một lao động trong kỳ tạo ra đợc bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định:
- Sức sản xuất của vốn cố định:
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Sức sản xuất của vốn cố định =
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu.
- Sức sinh lợi của vốn cố định:
Lợi nhuận trong kỳ
Sức sinh lợi của vốn cố định =
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định trong kỳ sẽ tạo ra đợc bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn lu động:
- Sức sản xuất của vốn lu động:
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Sức sản xuất của vốn lu động =
Trụ sở chính của Nhà máy đóng tại 187B Giảng Võ - Đống Đa - Hà Nội.
Ngành nghề kinh doanh là "In ấn", in sách giáo khoa, các tài liệu dạy và học
khác của các ngành học... Ngoài ra còn in các tài liệu khác nh: bao bì, lịch, sách
23
tạp chí...
Trong quá trình hoạt động Nhà máy có nhiệm vụ sau:
-Làm đầy đủ các thủ tục đăng ký kinh doanh và hoạt động theo đúng qui
định của nhà nớc .
-Thực hiện đầy đủ các nội dung trong đơn xin thành lập doanh nghiệp nhà n-
ớc và chịu trách nhiệm trớc pháp luật.
-Tạo lập sự quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn kinh doanh của
doanh nghiệp nhằm thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh và đảm bảo Nhà máy làm
ăn có lãi.
-Tuân thủ các chính sách chế độ pháp luật của nhà nớc về quản lý kinh tế , tài
chính, lao động, không ngừng nâng cao hiệu quả thực hiện nghiêm túc các hợp
đồng đã ký kết nhằm nâng cao uy tín cho Nhà máy.
-Quy mô và cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau, đợc chuyên môn hoá, đợc giao những trách nhiệm và
quyền hạn nhất định và đợc bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng
quản trị doanh nghiệp. Quá trình đó phải đợc xây dựng trên cơ sở cơ cấu tổ chức
bộ máy quản trị doanh nghiệp .
Nhà máy in Diên Hồng chuyên in ấn sách giáo khoa, tài liệu dạy và học khác
của các ngành học, ngoài ra còn in ấn các tài liệu khác nh: bao bì, lịch, sách tạp
chí... vì vậy quy mô và cơ cấu tổ chức sản xuất đợc phân cấp từ trên xuống dới dựa
trên cơ sở:
+ Đảm bảo tính chuyên môn hoá đến mức cao nhất có thể
+ Đảm bảo tiêu chuẩn hoá, xác định rõ nhiệm vụ của từng bộ phận, từng cá
nhân cũng nh quy định các nguyên tắc, quy trình thực hiện, tiêu chuẩn chất lợng
sự hội nhập kinh tế đang diễn ra từng ngày nên việc in ấn càng cần phải đáp ứng
tốt hơn yêu cầu của khách hàng.
25