BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN VŨ THANH
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI NGHỊ ĐỊNH 15/2013/NĐ-CP,
NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ NHỮNG BẤT CẬP KHI ÁP DỤNG
VÀO CÁC LĨNH VỰC XÂY DỰNG KHÁC NHAU CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ: 60 - 58 - 03 - 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. VŨ THANH TE
2. PGS.TS. LÊ VĂN HÙNG
Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2014
Tác giả luận văn
NGUYỄN VŨ THANH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban nhân dân
NSNN: Ngân sách Nhà nước
QLCL CTXD: Quản lý chất lượng công trình xây dựng
CTXD: Công trình xây dựng
CLCT: Chất lượng công trình
QLNN: Quản lý Nhà nước
CQQLNN: Cơ quan Quản lý Nhà nước
TVGS: Tư vấn giám sát
CĐT: Chủ đầu tư
BQLDA: Ban Quản lý dự án
QLDA: Quản lý dự án
HTĐGCL: Hệ thống đánh giá chất lượng
XDCT: Xây dựng công trình
XDCB: Xây dựng cơ bản
CQNN: Cơ quan Nhà nước
CLSP: Chất lượng sản phẩm
HĐXD: Hoạt động xây dựng
TKCS: Thiết kế cơ sở
TKKT: Thiết kế kỹ thuật
TKBVTC: Thiết kế bản vẽ thi công
TVQLCP: Tư vấn quản lý chi phí
TW: Trung ương
CP VÀ NGHỊ ĐỊNH 49/2008/NĐ-CP 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH NGHỊ ĐỊNH 15/2013/NĐ-CP 34
2.1. TRÌNH TỰ THỰC HIỆN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH .34
2.1.1. Nguyên tắc chung trong quản lý chất lượng công trình xây dựng 34
2.1.2. Trình tự thực hiện quản lý chất lượng công trình 34
2.2. PHÂN TÍCH TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG VÀO THỰC TẾ 50
2.3. NHỮNG ĐIỂM MỚI, CẢI TIẾN VÀ ƯU ĐIỂM CỦA NGHỊ ĐỊNH
15/2013/NĐ-CP 52
2.4. NHỮNG BẤT CẬP KHI ÁP DỤNG NGHỊ ĐỊNH 15/2013/NĐ-CP KHI
ÁP DỤNG VÀO CÁC LĨNH VỰC XÂY DỰNG KHÁC NHAU: 65
2.4.1. Những bất cập khi mới ban hành Nghị định 65
2.4.2. Làm rõ các nội dung bất cập của Nghị định 15/2013/NĐ-CP 69
2.5. THU THẬP, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ NHỮNG BẤT CẬP TRONG
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG. 72
2.5.1. Thu thập, phân tích, đánh giá những bất cập trong quản lý chất lượng
công trình xây dựng 72
2.5.2. Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công trình xây
dựng 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3. ÁP DỤNG NGHỊ ĐỊNH 15/2013/NĐ-CP ĐỐI VỚI DỰ ÁN XÂY
DỰNG KHU TĐC XUÂN LA – TÂY HỒ – HÀ NỘI PHỤC VỤ XÂY DỰNG
KHU ĐTM TÂY HỒ TÂY 78
3.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH 78
3.1.1. Tên dự án: 78
3.1.2. Chủ đầu tư: 78
3.1.3. Tổ chức lập tư vấn dự án: 78
3.1.4. Chủ nhiệm lập dự án: 78
3.1.5. Mục tiêu đầu tư: 78
H×nh 1.5. Sơ đồ QLNN về CLCT xây dựng ở nước ta 18
H×nh 1.6. Sơ đồ tạo ra sản phẩm xây dựng ở nước ta 18
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành Xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn nhất của nền kinh tế
quốc dân, nó chiếm vị trí chủ chốt ở khâu cuối cùng trong quá trình sáng tạo nên cơ
sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định. Trong những năm vừa qua, nước ta đã có
nhiều cố gắng và thu được nhiều thành công trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
CTXD là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu
xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao
gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt
nước, được xây dựng theo thiết kế. CTXD bao gồm CTXD công cộng, nhà ở, công
trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các loại công trình khác.
CLCT là yếu tố quyết định đảm bảo công năng, an toàn công trình khi đưa
vào sử dụng và hiệu quả đầu tư của dự án. QLCL CTXD là khâu then chốt, được
thực hiện xuyên suốt trong quá trình triển khai dự án đầu tư XDCT đến khi dự án
hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng. Kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số
209/2004/NĐ-CP hướng dẫn Luật Xây dựng (được Quốc hội thông qua ngày 26
tháng 11 năm 2003) về QLCL CTXD đến nay, công tác QLCL CTXD ở nước ta đã
đi vào nề nếp. Nghị định 209/2004/NĐ-CP cùng với Nghị định số 49/2008/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 209/2004/NĐ-CP và các Thông tư
hướng dẫn đã giúp các chủ thể trong HĐXD về cơ bản kiểm soát được chất lượng
từ thiết kế, khảo sát đến thi công và nghiệm thu CTXD; công tác QLCL CTXD nói
chung đã đi vào nề nếp và có hiệu quả thiết thực, qua đó chất lượng các CTXD ngày
lượng CTXD khi áp dụng nghị định 15/2013/NĐ-CP. 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Đặt vấn đề
Thực tế chứng minh rằng, sự phát triển của nhiều quốc gia đã cho thấy không
một nền kinh tế nào có thể phát triển toàn diện khi không có một nền tảng cơ sở hạ
tầng vững chắc. Bên cạnh đó cũng không ai phủ nhận đầu tư XDCB là tác nhân
chính quyết định tới chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng cho một nền kinh tế.
Chính bởi lý do đó mà việc nghiên cứu và phân tích công tác thực hiện đầu tư
XDCB nhằm đề ra giải pháp nâng cao CLCT xây dựng và kết quả đầu tư luôn là
vấn đề đáng được quan tâm đối với mọi quốc gia.
Để nâng cao hiệu quả QLNN về chất lượng các CTXD, cần tăng cường kiểm
tra, kiểm soát của các CQQLNN đối với chủ thể tham gia HĐXD, quy trình, quy
phạm trong thiết kế, thi công xây dựng và nghiệm thu. Phân giao quyền và trách
nhiệm đầy đủ, cụ thể, rõ ràng cho các CQQLNN về CLCT xây dựng từ cấp TW đến
địa phương. Làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia HĐXD trong công tác
QLDA, QLCL và an toàn xây dựng. CQQLNN không thể làm thay toàn bộ CĐT
hay các nhà thầu để kiểm soát CLCT xây dựng. Tuy nhiên cần phải tăng cường
kiểm soát CLCT thông qua hoạt động kiểm tra thường xuyên hơn nữa đối với các
CTXD chứ không chỉ kiểm tra vào các thời điểm, giai đoạn nhất định hay khi có sự
cố đặc biệt hoặc dư luận lên tiếng, nhằm phát hiện, ngăn ngừa kịp thời những sự cố
ảnh hưởng CLCT xây dựng. Vì vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả QLCL
CTXD đang là câu hỏi mang tính cấp bách, là yêu cầu hết sức quan trọng trong giai
đoạn hiện nay.
+ Nhu cầu của thị trường: là xuất phát điểm của quá trình QLCL;
+ Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất
+ Chính sách kinh tế
- Ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học - kỹ thuật. Xu hướng chính của
việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:
+ Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế;
+ Cải tiến hay đổi mới công nghệ;
+ Cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới.
5
- Ảnh hưởng của hiệu lực của cơ chế quản lý: có thể nói khả năng cải tiến,
nâng cao CLSP của mỗi tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý. Hiệu lực
QLNN là đòn bẩy quan trọng trong việc QLCL sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển
ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu
dùng. Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến
CLSP của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn
lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp QLCL hiện đại.
* Nhóm yếu tố bên trong tổ chức: trong phạm vi một tổ chức có 4 yếu tố cơ
bản ảnh hưởng đến CLSP (theo tiếng Anh được biểu thị bằng quy tắc 4M), đó là:
Con người (men): đây là lực lượng lao động trong tổ chức, bao gồm tất cả
thành viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến người thực hiện. Năng lực, phẩm
chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng.
Phương pháp (methods): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản lý
và tổ chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích hợp, trình độ
quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác cao nhất
khả năng nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao SLSP.
Máy móc thiết bị (machines): đó là khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị
của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc
g. Nguyên tắc thứ 7 là quyết định dựa trên sự kiện
h. Nguyên tắc thứ 8 là quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng
Các phương pháp quản lý chất lượng sản phẩm
a. Kiểm tra chất lượng
b. Kiểm soát chất lượng
c. Kiểm soát chất lượng toàn diện
d. Quản lý chất lượng toàn diện
QLCL toàn diện được định nghĩa là phương pháp quản lý của một tổ chức,
định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem
lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của các
thành viên của đơn vị và của xã hội.
Mục tiêu của QLCL toàn diện là cải tiến CLSP và thỏa mãn khách hàng ở mức
tốt nhất cho phép
7
1.1.3. Dự án và dự án đầu tư xây dựng công trình
1.1.3.1. Khái niệm về dự án
Dự án được hiểu là một công việc với các đặc tính như nguồn lực (con
người, tài chính, máy móc), có mục tiêu cụ thể, phải được hoàn thành với thời gian
và chất lượng định trước, có thời điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng, có khối lượng
và công việc cụ thể cần thực hiện, có nguồn kinh phí bị hạn chế và là sự kết nối hợp
lý của nhiều phần việc lại với nhau.
Theo Viện QLDA Quốc tế PMI 2007: QLDA là một quá trình đơn nhất, gồm
một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và
kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy
định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
1.1.3.2. Dự án đầu tư xây dựng công trình
Khái niệm về dự án đầu tư XDCT
- Dự án đầu tư có XDCT thì được gọi là dự án đầu tư XDCT
kiến thức hỗ trợ (pháp luật, tổ chức
nhân sự, kỹ thuật, môi trường, tin
học ) Hình 1.2. Sơ đồ QLDA đầu tư xây dựng1.1.4. Công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.1.4.1. Các khái niệm liên quan
Công trình xây dựng
Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng,
thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với nền đất, bao gồm phần trên và
dưới mặt đất, phần trên và dưới mặt nước và được xây dựng theo thiết kế. CTXD bao
gồm CTXD công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng
và các công trình khác
Chất lượng công trình xây dựng
Theo quan niệm hiện đại, CLCT xây dựng, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây
dựng, CLCT xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, tuân thủ
các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng,
tính kinh tế và đảm bảo về thời gian phục vụ của công trình.
Theo cách nhìn rộng hơn, CLCT xây dựng được hiểu không chỉ từ góc độ
bản thân sản phẩm xây dựng và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà bao gồm
9
cả quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác. Một
số vấn đề cơ bản liên quan đến CLCT xây dựng là:
- CLCT xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về
XDCT, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công cho đến giai
đúng tiến độ.
Quản lý chất lượng công trình xây dựng
QLCL CTXD là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và
thực hiện các yêu cầu, quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng,
đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng. Hoạt động QLCL CTXD chủ yếu là công
tác giám sát và tự giám sát của CĐT và các chủ thể khác.
Nói cách khác: QLCL CTXD là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị
có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng
trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng và đưa
vào khai thác sử dụng.
Hình 1.3. Sơ đồ QLCL CTXD
1.1.5. Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng theo giai đoạn
dự án
HĐXD bao gồm: lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư XDCT, khảo
sát xây dựng, thiết kế XDCT, thi công XDCT, giám sát thi công XDCT, QLDA
đầu tư XDCT, lựa chọn nhà thầu trong HĐXD và các hoạt động khác có liên
quan đến XDCT.
11
QLCL CTXD là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình
thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: CĐT, các nhà thầu, các tổ chức và cá nhân
liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì,
khai thác và sử dụng công trình.
Có thể tóm tắt nội dung hoạt động của các chủ thể giám sát trong các giai
đoạn của dự án xây dựng như sau:
- Trong giai đoạn khảo sát: ngoài sự giám sát của CĐT, nhà thầu khảo sát xây
dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát;
- Trong giai đoạn thiết kế: nhà thầu tư vấn thiết kế tự giám sát sản phẩm thiết
sở lý luận, thực tiễn xây dựng và hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và
VBQPPL ở Việt Nam, bước đầu có thể đánh giá QLCL CTXD như sau:
Thứ nhất, cần xây dựng HTĐGCL
Hệ thống này cần quy định rõ phương pháp đo lường và đánh giá chất lượng
của một CTXD dựa trên các tiêu chuẩn được chấp thuận có liên quan. Nó cho phép
đánh giá chất lượng và so sánh khách quan chất lượng của công trình này so với
công trình khác thông qua một hệ thống tính điểm.
Thứ hai, xây dựng HTĐGCL với các mục tiêu sau:
Xây dựng được điểm chuẩn về chất lượng đánh giá năng lực (bao gồm kinh
nghiệm, năng lực thiết bị, nhân lực, tài chính…) nhà thầu thi công xây dựng. Thiết
lập HTĐGCL tiêu chuẩn về năng lực nhà thầu thi công xây dựng. Đánh giá chất
lượng của một dự án xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn có liên quan được chấp thuận.
Đưa ra tiêu chí để đánh giá năng lực của các nhà thầu tham gia trong lĩnh vực xây dựng
và tạo cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác phân tích thống kê.
Thứ ba, hệ thống đánh giá chất lượng phải bao gồm các nội dung sau:
13
Đánh giá năng lực của nhà thầu tham gia xây dựng: HTĐGCL đặt ra các
tiêu chuẩn về chất lượng năng lực nhà thầu đối với các bộ phận khác nhau của
CTXD và đối với công trình có tính chất khác nhau. Chất lượng năng lực của nhà
thầu thi công xây dựng được đánh giá theo yêu cầu của tiêu chuẩn có liên quan, và
các tiêu chí được công nhận nếu năng lực của nhà thầu tuân thủ tiêu chuẩn. Những
tiêu chí này được đánh giá trên cơ sở tính điểm theo HTĐGCL (có thể theo %) đối
với dự án XDCT có nhiệm vụ và quy mô cụ thể. HTĐGCL đánh giá được thực hiện
thông qua kiểm tra hiện trường và sử dụng các kết quả kiểm tra. Việc đánh giá năng
lực nhà thầu theo cách này nhằm khuyến khích các nhà thầu thi công xây dựng làm
tốt mọi công việc ngay từ khâu chuẩn bị và trong cả quá trình thực hiện;
Việc đánh giá của HTĐGCL một dự án xây dựng được thực hiện dựa trên
kết quả kiểm tra - đánh giá độc lập các giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công, giám
c. Đối với nhà thầu: Việc đảm bảo và nâng cao CLCT xây dựng sẽ tiết kiệm
nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động. Nâng cao
CLCT xây dựng có ý nghĩa quan trọng tới nâng cao đời sống người lao động, thuận
lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ đối với nhà thầu. CLCT xây dựng
gắn với an toàn của thiết bị và nhân công nhà thầu trong quá trình xây dựng. Ngoài
ra, CLCT đảm bảo cho việc duy trì và nâng cao thương hiệu cũng như phát triển
bền vững của nhà thầu
1.1.7.2. Ý nghĩa của việc quản lý chất lượng công trình xây dựng
QLCL CTXD là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức
quan tâm. Nếu công tác QLCL CTXD thực hiện tốt sẽ không xảy ra sự cố, tuổi thọ
công trình đáp ứng thời gian quy định trong hồ sơ thiết kế, phát huy hiệu quả dự án,
đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ theo quyết định phê duyệt. Do vậy, việc nâng cao công
tác QLCL CTXD không chỉ là nâng cao CLCT mà còn góp phần chủ động phòng
chống tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng. Theo thực tế, ở đâu tuân
thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước về QLCL CTXD thì ở đó CLCT tốt
và hạn chế được tiêu cực trong xây dựng. CTXD khác với sản phẩm hàng hoá thông
thường khác vì CTXD có phạm vi ảnh hưởng tương đối rộng, được thực hiện trong
một thời gian dài, do nhiều người tham gia, gồm nhiều vật liệu tạo nên thường
xuyên chịu tác động bất lợi của thời tiết và điều kiện tự nhiên. Cũng vì đặc điểm đó,
việc nâng cao công tác QLCL CTXD là rất cần thiết, bởi nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây
ra tổn thất rất lớn về người và của, tác động xấu đến môi trường vùng hưởng lợi, đồng
thời cũng rất khó khắc phục hậu quả.
15
Nâng cao công tác QLCL CTXD là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con
người. Mỗi công trình được xây dựng có CLCT bảo đảm, tránh được xảy ra những sự
cố đáng tiếc thì sẽ tiết kiệm được đáng kể cho NSNN. Số tiền đó sẽ được dùng vào
công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân,
hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo.
thẩm quyền phê duyệt. Hồ sơ lập thiết kế công trình với quyết định phê duyệt là
những căn cứ để thực hiện QLCL CTXD. Các văn bản đó luôn luôn được bổ
sung, cập nhật các tiến bộ xã hội và phát triển của khoa học để làm công cụ cho
pháp luật về HĐXD.
Ví dụ 1: Về phân loại, phân cấp công trình xây dựng
Theo quy định tại nghị định số 49/2008/NĐ-CP về phân loại, phân cấp công
trình, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 33/2009/TT-BXD về Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia – phân loại, phân cấp công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và
hạ tầng kỹ thuật đô thị; tuy nhiên vẫn còn thiếu về phân loại, phân cấp và cấp công
trình giao thông, thủy lợi và các công trình nông nghiệp khác, nên sắp tới Nhà nước
sẽ cho sửa đổi, bổ sung.
Ví dụ 2: Về công tác QLCL khảo sát xây dựng, thiết kế và thi công XDCT
Theo quy định tại nghị định số 209/2004/NĐ-CP và nghị định số
49/2008/NĐ-CP của chính phủ chưa nêu rõ trách nhiệm quản lý của CĐT và các
nhà thầu tham gia XDCT. Nghị định số 209/2004/NĐ-CP cũng không đề cập hệ
thống QLCL CTXD và công tác QLCL của nhà thầu giám sát thi công xây dựng khi
được CĐT thuê, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 27/2009/TT-BXD đã nêu rõ
những công việc trên nhưng vì là văn bản quy phạm pháp luật nên tính pháp lý
không mạnh như Nghị định nên Nhà nước đang nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị
định 209/2004/NĐ-CP và 49/2008/NĐ-CP.
Qua các thời kỳ việc hình thành, phát triển và đổi mới, các văn bản QLNN
về CLCT xây dựng ở nước ta, có thể thống kê như sau:
Trước khi có Luật Xây dựng: Văn bản đầu tiên về quản lý hoạt động xây
dựng là nghị định số 232/NĐ-CP ngày 06/06/1981, tiếp đó là Nghị định số 385/NĐ-
HĐBT ngày 07/08/1990 sửa đổi, bổ sung thay thế nghị định số 232/NĐ-CP ngày
06/06/1981; nghị định 177/NĐ-CP ngày 20/10/1994 về QLDA đầu tư, nghị định số
42/NĐ-CP ngày 16/07/1996, sau sửa thành Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày
08/07/1999 “ Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” đã cải cách hành chính và phân
rõ quản lý nguồn vốn, điều chỉnh vị thế của CĐT.
giám sát sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể; trong đó chức năng QLNN được Thủ
tướng chính phủ quy định rõ “ Bộ Xây dựng thống nhất QLNN về CLCT xây dựng
trong phạm vi toàn quốc, các Bộ có quản lý xây dựng chuyên ngành phối hợp với