Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống người dân phường thạch bàn, quận long biên, thành phố hà nội - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống người dân
phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội” được thực hiện
từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014. Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau. Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, có một số
thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp
và xử lý.
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng trong bất kì luận văn nào
khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn, em đã nhận được sự
giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quí báu của các thầy giáo, cô giáo
trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Lê Khắc Bộ là người đã
tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong thời gian thực hiện luận văn.
i
Em xin chân thành cảm ơn UBND phường Thạch Bàn, phòng kinh tế,
phòng thống kê, các phòng ban và các hộ dân đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho em trong quá trình thu thập thông tin để thực hiện luận văn.
Cuối cùng em xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, tạo
điều kiện và động viên của em trong suốt quá trình học tập của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Việt Nam đang đi trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa với

tiễn về mức sống dân cư trong quá trình đô thị hóa. Trong cơ sở lí luận tôi đưa
các vấn đề chung về đô thị, đô thị hóa, mức sống dân cư bao gồm khái niệm,
đặc điểm, vai trò và phân loại. Từ những nội dung đó rút ra được tính tất yếu
của đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống của người dân. Cơ
sở thực tiễn chúng tôi đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm về xây dựng phát triển
đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống dân cư ở một số nước
trên thế giới sau đó đánh giá tình hình đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa
đến mức sống dân cư ở Việt Nam.
Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như chọn địa điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu sơ
cấp và thứ cấp, phương pháp xử lí thông tin, phương pháp thống kê mô tả,
iii
phương pháp so sánh, phương pháp kiểm định phi tham số - Kiểm định Chi –
square. Trong bài còn sử dụng các chỉ tiêu nghiên cứu, bao gồm: hệ thống chỉ
tiêu phản ánh mức độ đô thị hóa, chỉ tiêu mức sống dân cư, chỉ tiêu phản ánh
mối quan hệ giữa đô thị hóa với mức sống dân cư.
Ở phần kết quả nghiên cứu, đầu tiên chúng tôi trình bày thực trạng đô
thị hóa ở phường Thạch Bàn về qui hoạch xây dựng, cơ sở hạ tầng vật chất,
văn hóa, xã hội, chính trị, môi trường trên địa bàn. Sau đó chúng tôi đánh giá
mức sống dân cư, thu nhập, chi tiêu, tiếu kiệm, phúc lợi xã hội của các hộ dân
trước và sau khi Thạch Bàn trở thành phường của Quận Long Biên. Từ kết
quả đánh giá đó chúng tôi phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống
dân cư phường Thạch Bàn qua phương pháp kiểm định Chi – square bao gồm
ảnh hưởng đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Sau khi phân tích thực trạng địa bàn và phân tích ảnh hưởng của quá
trình đô thị hóa đến mức sông người dân, chúng tôi đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao mức sống dân cư phường Thạch Bàn như: giải pháp về kinh
tế, y tế, giáo dục đào tạo, nhà ở, điện, nước sạch, thể dục thể thao, giải trí,
phát triển môi trường bền vững, an sinh xã hội, công bằng trong đóng góp và
hưởng lợi, dịch vụ công, giải pháp xử lý ngoại ứng tiêu cực.

Bảng 4.8 Đánh giá của hộ về sự thay đổi thu nhập sau đô thị hóa Error:
Reference source not found
Bảng 4.9 Cảm nhận sự thay đổi cơ cấu hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ
điều tra Error: Reference source not found
Bảng 4.10 Ý kiến về tình hình an ninh trật tự sau khi ĐTH Error:
Reference source not found
Bảng 4.11 Ý kiến của cán bộ phường về sự thay đổi đời sống của người dân
sau ĐTH Error: Reference source not found
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
Hình 3.1 Bản đồ phường Thạch Bàn Quận Long Biên Hà Nội Error:
Reference source not found
Hình 4.1 Qui hoạch đất phường Thạch Bàn Error: Reference source not
found
vi
Hình 4.2 Bản đồ vị trí dự án đường Cầu Bây - Thạch Bàn Error: Reference
source not found
Biểu đồ 4.1 So sánh tài sản hộ trước độ thị hóa và sau đô thị hóa Error:
Reference source not found
Biểu đồ 4.2 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra trước ĐTH Error: Reference
source not found
Biểu đồ 4.3 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra sau ĐTH Error: Reference
source not found
Biểu đồ 4.4 Cơ cấu chi tiêu của hộ điều tra trước ĐTH Error: Reference
source not found
Biểu đồ 4.5 Cơ cấu chi tiêu của hộ điều tra sau ĐTH Error: Reference
source not found
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Diễn giải

và đặc biệt ở nước ta quá trình đó đang diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Sự
hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất
đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới,
nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng rãi khoa học, công
nghệ. Đô thị hóa kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo
hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất,
kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng. Kinh tế phát triển, đời sống của
người lao động được cải thiện đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của
đô thị hóa.
Không nằm ngoài sự phát triển chung đó, tiến trình đô thị hóa cũng
đang diễn ra nhanh chóng ở phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố
Hà Nội. Phường nằm phía Đông Nam quận Long Biên, có hệ thống đường
giao thông quan trọng nằm trên trục tam giác kinh tế phía Bắc Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh và hành lang kinh tế Hà Nội - Lạng Sơn, với những lợi
thế sẵn có đã thu hút được rất nhiều các dự án đầu tư lớn cả về qui mô lẫn giá
trị. Xây dựng và cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kĩ thuật - xã hội, các
khu công nghiệp, khu chế xuất mọc ra nhiều, đồng nghĩa với quá trình đô thị
hóa trên địa bàn phường đã và đang diễn ra nhanh chóng.
Quá trình đô thị hóa ở Thạch Bàn đã và đang ảnh hưởng to lớn đến đời
sống của người dân nơi đây. Trước đây, người dân đa số sản xuất nông
1
nghiệp, cuộc sống gắn liền với ruộng đất, thu nhập chủ yếu dựa vào cây trồng,
vật nuôi. Hiện nay, do xây dựng các khu công nghiệp, khu nhà ở nên diện
tích sản xuất nông nghiệp giảm.
Nhiều vấn đề mới phát sinh trong cuộc sống đô thị hóa đang diễn ra
mạnh mẽ ở Thạch Bàn. Hàng loạt các câu hỏi đang cần có sự tư vấn như thực
trạng đô thị hóa ở Thạch Bàn? Mức sống của người dân ở phường Thạch Bàn
thay đổi như thế nào? Ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống dân cư
phường Thạch Bàn? Giải pháp nâng cao mức sống cho người dân địa phương,
vv Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ảnh

giới hạn nghiên cứu các nội dung của mức sống dân cư về thu nhập và chi
tiêu, tiết kiệm thực tế, tuổi thọ bình quân, chỉ số phát triển con người, phúc lợi
xã hội của người dân phường Thạch Bàn trong quá trình đô thị hóa.
* Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn phường
Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi thời gian: Tài liệu thứ cấp được thu thập ở hai thời điểm
trước và sau khi Thạch Bàn trở thành phường của quận Long Biên.
- Tài liệu sơ cấp thu thập về mức sống của người dân địa phương năm
2013.
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1 - 5/2014.
Phần II: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỨC SỐNG DÂN
CƯ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Những vấn đề lí luận chung
* Các vấn đề lí luận về đô thị
- Khái niệm đô thị
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là dân cư phi
nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm
chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của
một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh
hoặc trong huyện.
3
Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác biệt về trình độ kinh
tế xã hội và hệ thống dân cư của mỗi quốc gia. Mỗi nước có quy định riêng
tùy theo yêu cầu và khả năng quản lí của mình. Song phần nhiều đều thống
nhất lấy 2 tiêu chuẩn cơ bản:
+ Quy mô và mật độ dân số: quy mô trên 2000 người sống tập trung,
mật độ trên 3000 người/km
2
. Đây là những chỉ tiêu phản ánh mức độ tập

+ Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia,
là một sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ
thuật và văn hóa.
+ Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả
nước.
* Các vấn đề lí luận về đô thị hóa
- Khái niệm đô thị hóa
+ Trên quan điểm một vùng: đô thị hóa là một quá trình hình thành,
phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.
+ Trên quan điểm kinh tế quốc dân: đô thị hóa là một quá trình biến
đổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân
cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị
hiện có theo chiều sâu.
+ Đô thị hóa là quá trình từ hình thức sống nông thôn lên hình thức
sống đô thị của các nhóm dân cư.
+ Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật là quá
trình phát triển nông thôn và biến lối sống thành phố cho nông thôn.
+ Đô thị hóa ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của
thành phố do kết quả phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng tạo ra các
cụm đô thị, liên đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn.
+ Đô thị hóa giả tạo là sự phát triển thành phố do tắng quá mức dân cư
đô thị và do dân cư từ vùng khác đến, đặc biệt là nông thôn dẫn đến tình
trạng thất nghiệp, giảm chất lượng cuộc sống.
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình
thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo
chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa khoa học kỹ thuật và tăng quy mô dân số.
- Đặc điểm của đô thị hóa
Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số
lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các hệ thống

mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, qui mô lớn hơn. Ngược lại
những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, qui mô nhỏ hơn.
6
+ Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị
tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó.
Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh. Sự
phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và là tiền đề cho đô thị hóa.
+ Văn hóa dân tộc: mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và
nền văn hóa đó ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói
chung và các hình thái đô thị nói riêng.
+ Trình độ phát triển kinh tế: kinh tế phát triển là yếu tố có tính quyết định
trong quá trình đô thị hóa. Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính. Để
xây dựng, nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi phải có nguồn tài chính lớn.
+ Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau 1975, tốc độ đô thị hóa ngày
càng cao, các đô thị mọc lên nhanh chóng. Đặc biệt trong thời kì đổi mới, với
các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc.
- Phân loại đô thị hóa
+ Đô thị hóa thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hoá diễn ra
ngay chính trong đô thị. Ở đây cũng có sự di dân nhưng từ trung tâm ra ngoại
thành hoặc vùng ven đô. Đô thị hoá thường vẫn mang tính chủ quan thông
qua quy hoạch. Quy hoạch đô thị cho phép con người tạo ra những đô thị tối
ưu theo ý muốn. Tuy nhiên, đô thị được quy hoạch là tối ưu đến mấy vẫn chắc
chắn lạc hậu trong tương lai. Do cư dân tăng lên, kết cấu hạ tầng, kiến trúc đô
thị lần lượt lạc hậu. Đặc biệt các công trình công nghiệp, dịch vụ theo thời
gian trở nên lạc hậu và gây ô nhiễm nặng nề, phải di dởi xa thành phố.
Đô thị hoá thay thế được quan niệm ở đây bao gồm cả sự mở rộng
không gian đô thị ấy bằng cách phát triển đô thị ra vùng ven và ngoại thành.
Để dễ hình dung ta có thể xem đô thị hoá có hai phần, một là, đô thị hoá ngay

trở lại. Mặt khác, nông thôn lại chứa đựng sự phong phú của văn hoá dân tộc, văn
hoá cội nguồn, sự yên tĩnh và đặc biệt môi trường trong sạch.
Quá trình đô thị hoá, di dân từ nông thôn ra thành thị đã góp phần làm
cho nông thôn bị "già" nhanh và mất cân đối dân số. Quá trình phát triển đến
một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh
8
hướng vào sự phát triển nông thôn. Quá trình này sẽ góp phần san bằng
khoảng cách và chất lượng sống thành thị - nông thôn. Đô thị hoá ngược như
một chỉ báo tổng hợp về sự phát triển rất cao của một đô thị, một quốc gia.
Khi đô thị hoá ngược xảy ra, con người đã ở một trình độ văn minh cao. Vấn
đề quan trọng nhất, không còn kinh tế mà là chất lượng sống. Người ta quan
tâm đến an ninh, môi trường tự nhiên và xã hội, giáo dục, y tế Trước hết khi
chọn nơi ở , đời sống vật chất đã đầy đủ, chỉ có đời sống tinh thần mới thật sự
là đích tìm kiếm của con người. Đời sống tinh thần sẽ trở nên vô cùng, trong
sự cách mạng của nó đối với con người.
* Các vấn đề lí luận và mức sống của người dân
- Khái niệm
Mức sống là một khái niệm rất phức tạp và phong phú. Hiện nay có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về mức sống.
Theo đại từ điển Tiếng Việt năm 1994 cho rằng: Mức sống là khái niệm
chỉ mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần. Mức sống được thể
hiện ở khối lượng các dịch vụ, vật phẩm kể từ loại thiết yếu nhất về ăn, ở,
mặc, đi lại, bảo vệ sức khỏe, cho tới những nhu cầu cao nhất liên quan tới
việc thỏa mãn các đòi hỏi về tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ.
Theo đại từ điển Tiếng Việt năm 1999 cho rằng: Mức sống là mức đạt
được trong chi dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần.
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam năm 2006: Mức sống là điều kiện cao
hay thấp của sự sinh hoạt hàng ngày.
Theo Các Mác: “Mức sống không chỉ là sự thỏa mãn những nhu cầu
của đời sống vật chất mà cả các nhu cầu nhất định được sản sinh ra bởi chính

triển của sản xuất xã hội, nhu cầu của con người thường xuyên thay đổi.
Mức sống và nhu cầu liên quan trực tiếp và gắn bó chặt chẽ với nhau.
Thỏa mãn nhu cầu thực tế trong quá trình tồn tại và phát triển con người, thực
chất là mức sống của họ.
Nhu cầu của con người được thỏa mãn đến đâu lại phụ thuộc vào sự
tiêu dùng của họ. Không có tiêu dùng, nhu cầu sẽ không được thực hiện và
mức sống cũng không được thể hiện. Mức độ thỏa mãn nhu cầu được biểu
10
hiện và được đánh giá thông qua mức độ tiêu dùng. Một khối lượng của cải
vật chất và tinh thần được sử dụng cho tiêu dùng càng nhiều bao nhiêu thì nhu
cầu càng được thỏa mãn, càng đầy đủ bấy nhiêu và mức sống dân cư càng cao
bấy nhiêu. Do vậy trong thực tế khi xác định mức sống người ta thường
không đo lường và tính toán nó bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu, mà lại tính
bằng số lượng và chất lượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng trong năm. Cùng
một chất lượng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng không đổi, khi số lượng sản
phẩm và các dạng dịch vụ tiêu dùng bình quân trên đầu người càng cao bao
nhiêu thì mức sống của dân cư nước đó càng cao bấy nhiêu so với nước khác.
Khi nhu cầu vật chất và tinh thần cũng như sản phẩm và dịch vụ tiêu
dùng cần thiết, bảo đảm thỏa mãn những nhu cầu đó tăng lên, thì mức sống
dân cư cũng tăng theo. Do đó quá trình nâng cao mức sống có thể được đặc
trưng bằng quá trình thay đổi cơ cấu nhu cầu, mở rộng và tăng quy mô, mức độ
của các nhu cầu, bảo đảm các phương tiện và điều kiện để thỏa mãn đầy đủ và
tối ưu các nhu cầu truyền thống, nhu cầu hiện tại và nhu cầu mới nảy sinh.
Nghiên cứu mức sống cần đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại
với sản xuất, nhu cầu và tiêu dùng cho phép chúng ta đánh giá đúng đắn, đầy
đủ hơn về phạm trù này. Từ đó chúng ta có thể nói rằng: nâng cao mức sống
không phải chỉ là quá trình tăng về quy mô tiêu dùng, mà phải được xem như
là yếu tố để thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
Mức sống suy cho cùng được biểu hiện và đánh giá thông qua hiệu quả
của quá trình tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất cuộc sống con người.

Nâng cao mức sống không phải chỉ là quá trình tăng về quy mô tiêu
dùng, mà có thể thay đổi cả tổng cơ cấu tiêu dùng, thể hiện phân phối sản
phẩm và các dạng dịch vụ tiêu dùng hợp lý, bảo đảm sử dụng có ích cho cuộc
sống và cho hoạt động lao động của con người.
Tiêu dùng: Khi nói đến phạm trù mức sống, không thể không gắn bó
với phạm trù tiêu dùng. Bởi vì tiêu dùng và mức sống có liên quan chặt chẽ và
gắn bó mật thiết với mức sống. Làm rõ sự khác nhau và trong mối liên quan
giữa chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lý luận cũng như sự khác
nhau trong thực tiễn. Bởi vì trong thực tế khi so sánh mức sống giữa thời kỳ
12
này với thời kỳ khác, giữa nước này với nước khác, người ta không dùng chỉ
tiêu mức sống mà dùng các chỉ tiêu đặc trưng cho sự tiêu dùng để đánh giá.
Bởi vì mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân (tức
là mức sống) thường xuyên thay đổi và khó có thể lượng hóa được.
Phạm trù tiêu dùng bao gồm tất cả những gì có liên quan đến quá trình
hoạt động có tính chất tiêu dùng của con người. Nó thể hiện bản chất của
những quá trình kinh tế diễn ra trong một thời điểm nhất định của quá trình tái
sản xuất xã hội mà thôi.
Phạm trù mức sống lại bao gồm tất cả những gì có liên quan đến việc
thỏa mãn nhu cầu vật chất, nhu cầu xã hội, nhu cầu văn hóa và tinh thần của
dân cư. Do đó nó có thể liên quan tới tất cả các giai đoạn, các khâu của quá
trình tái sản xuất xã hội. Trong phạm trù mức sống, không chỉ bao gồm những
kết quả lao động hiện tại, mà còn chứa đựng cả những kết quả của lao động
quá khứ, biểu hiện dưới hình thức tài sản Quốc gia. Ngoài ra phạm trù mức
sống còn chứa đựng một yếu tố quan trọng khác mà phạm trù tiêu dùng không
có đó là điều kiện lao động.
Mức sống không chỉ là tiêu dùng. Ngoài tiêu dùng là thành phần cốt lõi
nhất thì mức sống còn bao gồm nhiều yếu tố, thành phần khác nữa.
13
- Phân loại mức sống của người dân

14
mối quan hệ giữa đô thị hóa và đời sống con người và các yếu tố này không tồn
tại độc lập mà đươc đặt trong mối quan hệ tương tác, hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
- Ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng – kỹ thuật
Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự tích tụ dân cư và tập trung quá trình
sản xuất trong các đô thị. Điều này nhanh chóng làm cho lưu lượng hàng hóa,
sự di chuyển và những nhu cầu thiết yếu của người dân ngày càng nhiều. Để
thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước thì phải đầu tư
nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển KT – XH.
Đô thị hóa làm thay đổi chất lượng cuộc sống và lối sống của người
dân. Quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi chất lượng sống của con người. Nếu
lập bảng so sánh có thể nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa quá trình đô thị
hóa thể hiện qua tỉ lệ dân số đô thị với các chỉ số phát triển con người (HDI)
và GDP/người. Ở những nước và khu vực phát triển có tỉ lệ dân thành thị cao
thường là những nước có chỉ số HDI và GDP bình quân đầu người cao.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến mức sống
dân cư ở một số nước trên thế giới
* Mỹ
Mỹ là một siêu cường quốc về kinh tế, có trình độ công nghiệp hóa cao,
tỉ lệ dân cư đô thị chiếm tới 795 dân số toàn quốc. các thành phố lớn tập trung
thành một dãi từ Boston đến Oasinton, dãi đô thị này tập trung đến 45 triệu
dân kéo dài trên 750 km, rộng từ 100 đến 200 km. Các thành phố lớn của Mỹ
chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Bắc và khu vực quanh ngủ hồ. Đó cũng là
những trung tâm công nghiệp nổi tiếng của Mỹ.
Sự tập trung của dân số và các hoạt động đô thị cũng đòi hỏi phải có
các chức năng bổ trợ. Được tổ chức và điều hành theo lối truyền thống thành
những ngành khác nhau của chính quyền thành phố, những chức năng dịch vụ
công cộng này theo một nghĩa kinh tế thì chỉ mang tính chất sản xuất gián

bằng 37%. Có những dự đoán cho rằng đến năm 2050 tỷ lệ ĐTH sẽ đạt 75%.
Tính trung bình mỗi năm có 12 triệu người ở nông thôn vào sinh sống ở đô thị.
Như vậy, một lượng lớn nhân công đã di chuyển khỏi vùng nông thôn
lạc hậu và kém hiệu quả sang các thành phố - nơi có trình độ tiên tiến hơn,
năng suất lao động cao và hiệu quả hơn. Không những bản chất người lao
động có mức sống khá hơn mà gia đình họ cũng đỡ gặp khó khăn trong sản
xuất nông ngiệp, có thể trang trải các khoản ăn mặc, học hành, thiết bị sản
xuất, tình trạng đói nghèo ở nông thôn được giảm bớt. Tuy nhiên, mặt trái của
vấn đề di chuyển nhân công từ nông thôn ra thành phố là rất rõ rệt, trở thành
mâu thuẫn chủ yếu của quá trình ĐTH ở Trung Quốc. Nhiều hậu quả kinh tế -
xã hội nghiêm trọng đang thách đố khả năng quản lý của nhà nước như thiếu
nhà ở cho người nghèo, sự phân hóa xã hội, việc sinh đẻ không thể kiểm soát,
trật tự trị an kém, môi trường ô nhiễm, kết cấu hạ tầng thiếu thốn
Mặt khác, trước đây ở Trung Quốc đã có một thời kỳ công nghiệp
hương trấn phấn bố quá phân tán, xây dựng các thành phố nhỏ và thị trấn một
cách bừa bãi, thiếu quy hoạch làm lãng phí nguồn lực của nông thôn, gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng và mất đi đặc điểm và ưu thế của nông thôn.
Để đối phó với tình hình trên, Nhà nước Trung Quốc đã coi trọng tiếp
tục giữ vững nguyên tắc phát triển hài hòa, tiên tiến, tránh tình trạng mở rộng ào
ạt các đô thị lớn, làn sóng nhân công lưu động tràn vào các thành phố quá lớn, làm
xáo trộn hoạt động kinh tế. Tư tưởng chiến lược ĐTH của Trung Quốc hiện nay
là: khai thác tiềm lực các thành phố lớn, mở rộng và xây dựng các thành phố loại
vừa, phát triển có lựa chọn và thích hợp các thành phố nhỏ và thị trấn.
Đối với quá trình ĐTH nông thôn, Trung Quốc chủ trương tiếp tục xây
dựng xí nghiệp hương trấn theo hướng khắc phục dần tình trạng thô sơ, phân
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status