Cảnh ngày xuân và Kiều ở lầu Ngưng Bích - Pdf 23

Cảnh ngày xuân
* Đề bài: Phân tích đoạn trích “ Cảnh ngày xuân”
Dàn ý
1. Mở bài:
Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi của nhà thơ
không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn vang xa trên thi đàn thế giới. Sở dĩ tác
giả đạt được niềm vinh quang đó là vì ông đã có một sự nghiệp sáng tác giá
trị, trong đó xuất sắc nhất là Truyện Kiều - tác phẩm lớn nhất của nền văn học
Việt Nam. Cảm hứng nhân đạo và vẻ đẹp ngôn từ của truyện thơ này đã chinh
phục trái tim bao thế hệ bạn đọc trong gần hai trăm năm qua. Đọc đoạn trích
"Cảnh ngày xuân", chúng ta càng cảm phục bút pháp miêu tả cảnh vật giàu
chất tạo hình và man mác xúc cảm của tác giả:
2. Thân bài:
a. Khái quát:
Bên cạnh nghệ thuật tả người, nghệ thật tả cảnh là một thành công đặc
biệt của "Truyện Kiều". Bút pháp ước lệ tuy nghiêng về sự gợi tả, kích thích
trí tưởng tượng của người đọc nhưng vẫn giú ta hình dung rất rõ về bức tranh
thiên nhiên mùa xuân tười đẹp và tâm trạng của người du xuân trong giây
phút trở về. Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian của một cuộc du xuân.
Bốn dòng thơ đầu là khung cảnh mùa xuân. Tám dòng thơ tiếp theo là cảnh lễ
hội trong tiết Thanh minh. Và sáu dòng thơ cuối là cảnh và nỗi lòng của chị
em Thúy Kiều lúc bóng chiều buông xuống.
b. Phân tích:
- Mở đầu đoạn thơ, tác giả đã phác họa được khung cảnh thiên nhiên ngày
xuân đẹp như một bức tranh :
“Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”
Nhà thơ đã lựa chọn những chi tiết tiêu biểu nhất mang nét đặc trưng
của mùa xuân để khắc họa bức tranh mùa xuân. Chim én vốn là loài chim
nhỏ bé gần gũi đến thân thương của đồng quê Việt Nam, là dấu hiệu đặc trưng
của mùa xuân đất Việt. Hình ảnh “con én đưa thoi” giàu chất tạo hình. Hai

thành bức họa với gam màu tươi tắn. Trên cái nền xanh bát ngát của cỏ non ấy
điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng như tuyết. Hai màu “xanh - trắng” tạo
cảm giác mênh mông mà không hề quạnh vắng, trong sáng mà trẻ trung, nhẹ
nhàng mà thanh khiết. Hai chữ “trắng điểm” đã trở thành nhãn tự của câu thơ,
làm cho bức tranh xuân trở nên sinh động
=> Bốn câu thơ ngắn gọn cùng với những nét chấm phá tài hoa, ND đã vẽ lên
một bức tranh xuân với không gian khoáng đạt, rộng mở, màu sắc tươi tắn,
hương vị ngọt ngào. Một bức tranh trong trẻo, mới mẻ, tinh không và ngập
tràn sức sống.
* Cảnh lễ hội :
Đoạn thơ có sự chuyển tiếp nhịp nhàng, tự nhiên. Từ khung cảnh mùa
xuân tươi mới, êm đềm ấy, nét bút của Nguyễn Du bắt đầu tập trung khắc họa
những hoạt động của con người. Họ là những người đi tảo mộ, đi chơi xuân ở
miền quê kiểng. Và trong lễ hội dập dìu đó chị em Thúy Kiều đang thong thả
chơi xuân:
Thanh minh trong tiết tráng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Tiết Thanh minh vào đầu tháng ba, khí trời mát mẻ, trong trẻo. Người người
đi viếng, quét dọn, sửa sang và lễ bái, khấn nguyện trước phần mộ tổ tiên. Sau
"lễ tảo mộ" là đến "hội đạp thanh", một hình ảnh quen thuộc trong các cuộc
chơi xuân đầy vui thú ở chốn làng quê. Cách sử dụng điệp từ "lễ là", "hội là"
gợi ấn tượng về sự diễn ra liên tiếp của các lễ hội dân gian, niềm vui tiếp nối
niềm vui.
Không khí lễ hội rộn ràng, huyên náo bỗng hiện ra thật sinh động trong từng
dòng thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu:
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tải tử giai nhân
Ngựa xư như nước áo quần như nêm
Tài năng của Nguyễn Du được thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ. Sự

hiện niềm tin thánh thiện của con người vào những hành động tốt đẹp trong
c/đ chứ không hoàn toàn là mê tín.
Cảnh ra về:
Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
- Lời thơ gợi ra khung cảnh hoàng hôn vào thời điểm chiều tà. Hai tiếng “tà
tà” như kéo dài ánh nắng chiều tạo ra một cảm giác se buồn. Nhịp câu thơ
chậm rãi diễn tả nhịp sống như ngừng trôi. Chị em Thúy Kiều bây giờ mới có
thể “lần xem phong cảnh”. Cảnh vật hiện lên thật cụ thể :
Nao nao dòng nước uống quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
- Khung cảnh mang nét thanh tú, êm đềm của chiều xuân : Nắng nhạt, khe
suối nước trong veo,một dịp cầu nho nhỏ bắc ngang cuối ghềnh. Mọi chuyển
động hết sức nhẹ nhàng : mặt trời từ từ ngả bóng, bước chân người chầm
chậm thơ thẩn, dòng nước róc rách uốn quanh không gian đang tĩnh lặng
dần. Sự nhộn nhịp của cảnh lễ hội không còn nữa .Những từ láy tà tà, thơ
thẩn, thanh thanh, nao nao không chỉ biểu đạt sắc thái của cảnh vật mà con
bộc lộ tâm trạng của con người. Hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng.
Đó là cảm xú bâng khuâng, lưu luyến, nuối tiếc về một ngày vui vừa tàn. Cảm
xúc tươi vui mà khung cảnh lễ hội mùa xuân để lại cho mỗi người vừa mới
đây thôi. vậy mà nó như chưa đựng một linh cảm về một điều gì đó đáng
buồn sắp xảy ra. Và dòng nước uốn quanh đã dẫn Thúy Kiều tới nấm mồ
hoang lạnh của Đạm Tiên và sau đó nàng sẽ gặp chàng Kim phong tư tài mạo
tót vời. Nguyễn Du đã từng viết: "Ngư ời buồn cảnh có vui đâu bao giờ?". Vì
vậy, khivào lễ hội, người vui thì cảnh sắc rộn ràng tươi mới. Lúc lễ hội tan
rồi, người về sao tránh khỏi sự xao xuyến, cảnh sắc sao tránh khỏi màu ảm
đạm! Dường như có một nỗi niềm man mác, bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa
trong tâm hồn vốn đa tình, đa cảm như Thúy Kiều. Và ở sáu dòng cuối này,
Nguyễn Du không chỉ nhằm nói tâm trạng buồn tiếc khi lễ hội vừa tàn, mà
hình như, ông chuẩn bị đưa nhân vật của mình vào một cuộc gặp gỡ khác, một

nói đến bức tranh là nói đến những hình ảnh cụ thể chân thực. Bởi vậy ta
hiểu ý nghĩa khái quát lời nhận định là: Đoạn thơ “ Kiều ở lầu Ngưng bích”
đã diễn tả hoàn toàn chân thực cụ thể diễn biến tâm trạng của nàng Kiều khi
phải sống ở lầu Ngưng Bích. Đó là tâm trạng buồn lo, sợ hãi vì Mã Giám Sinh
không phải mua nàng về làm vợ thiếp, mà làm gái lầu xanh cho cửa hàng
thanh lâu của Tú Bà. Vốn là con gái của một gia đình lương thiện, gia giáo,
Thúy Kiều đã phản ứng một cách quyết liệt bằng cách dùng dao tự vẫn nhưng
vẫn không thành. Sợ vốn liếng mình bị mất, Tú Bà đã đưa Thúy Kiều ra lầu
Ngưng Bích chăm sóc thuống thang dỗ dành nàng sau này bình phục sẽ gả
chồng cho nàng về nơi tử tế. Nhưng thực chất là giam lỏng nàng để chuẩn bị
một âm mưu mới. Bởi vậy, đây chỉ là những giờ phút, những thời khắc yên
thân tạm thời của Thúy Kiều. Trong hoàn cảnh một mình một bóng ấy, tâm
trạng của Thúy Kiều ngổn ngang trăm mối tơ vò. Nhà thơ Nguyễn Du đã theo
sát nhân vật thân yêu của mình để thấu hiểu và miêu tả những diến biến phức
tạp trong tâm trạng của Thúy Kiều.
b. Phân tích đoạn thơ để thấy rõ tâm trạng Kiều.
- Mở đầu đoạn thơ, ND đã giúp người đọc hiểu được hoàn cảnh của Kiều
“ Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”
“ Khóa xuân” mang nét nghĩa là khóa kín tuổi xuân, những cô gái “ xấp xỉ
cập kê” đang chờ ngày xuất giá. Nhưng ở câu thơ này, ND đã dùng hai chữ “
khóa xuân” để mỉa mai cảnh ngộ trớ trêu của Kiều. Bởi thực chất là nàng bị
giam lỏng, bị cách biệt với thế giới bên ngoài, bị dập tắt mọi ước mơ và khát
vọng.
- Thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích hiện lên trước mắt nàng:
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
- Trước mắt người đọc như hiện lên một khung cảnh thiên nhiên rộng lớn.
Phía xa kia là núi, trên đầu là vầng trăng lạnh lẽo, xung quanh là “ bốn bề bát
ngát”. Từ ghép “ Bốn bề” kết hợp với từ láy “ bát ngát” gợi cho ta hình dung

người yêu thương.
- Đó là nỗi nhớ chàng Kim:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
- Để diễn tả niềm thương nhớ người yêu của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã sử
dụng động từ “tưởng”, đứng ở vị trí đầu câu thơ. Chữ “tưởng” ở đây được
hiểu là hồi tưởng, là nhớ lại những gì tốt đẹp của quá khứ. Đó là những kỉ
niệm đẹp của mối tình đầu trong sáng giữa nàng và chàng Kim, lời hứa hẹn và
chén rượu thề nguyền dưới đêm trăng sáng vằng vặc:
“Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song”
- Nàng còn hình dung thấy ở nơi Liêu Dương cách trở, chàng Kim cũng đang
hướng về phía nàng, ngày đêm đau đáu mong tin.
“Tin sương luống cũng rày trông mai chờ”
- ND đã mượn điển tích “ tin sương” để diễn tả nối trong ngóng, đợi tin của
KT. Đây là tiếng nói trong sâu thẳm trái tim của nàng. Nhà thơ đã sử dụng
thành công ngôn ngữ độc thoại nội tâm. Bởi thế lời thơ ít, ý thơ nhiều. Trong
lời thơ như có nhịp thổn thức của một trái tim yêu thương đang nhỏ máu,
thương nhớ tha thiết người mình yêu dấu. Càng nghĩ về kỉ niệm nàng lại càng
đau đớn xót xa. Chén rượu thề còn đó mà nay mỗi người mỗi ngả. Bởi thế,
nàng càng thấm thía nỗi cô đơn của mình:
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
- Nàng nhủ thầm với lòng mình không bao giờ quên được hình bóng chàng
Kim. H/ả “ tấm son” là ẩn dụ sâu sắc cho sự thủy chung son sắt của Thúy
Kiều với mối tình đầu trong sáng. Và nàng lại càng đau đớn xót xa vì tấm
lòng son của mình đã bị mã Giám Sinh làm nhục. Do vậy, nỗi day dứt đau xót
của nàng lại tăng lên khi nhớ tới người yêu. Hơn thế nàng còn biết rằng, dù có
phải xa nơi chân trời góc bể thì t/c của nàng với chàng Kim sẽ không bao giờ
phai nhạt. Và như vậy thì nàng càng đau khổ. Trong nỗi nhớ chàng Kim có cả

Thúy Kiều lên trước nỗi nhớ cha mẹ tức là chữ “ tình” đặt trước chữ “hiếu”,
đảo ngược trật tự của lễ giáo phong kiến. Nhưng cách miêu tả này hoàn toàn
phù hợp với logic tâm trạng. Bởi lẽ chữ” hiếu” phần nào nàng đã đền đáp.
Nàng đã bán thân mình có tiền cứu cha và em, cảnh nhà đã tạm yên. Còn chữ
“tình” đối với Kim Trọng, nàng Kiều cứ day dứt, vì mình đã lỡ hẹn với chàng
kim, vì mình mà chàng Kim dang dở. Hơn nữa trước khi bước vào con đường
lưu lạc, thúy Kiều chưa từng nói lời từ biệt. Do vậy, trong hoàn cảnh ở lầu
Ngưng Bích cô đơn, nàng nghĩ tới người yêu trước khi nghĩ tới cha mẹ cũng
là hợp lẽ. Điều đó còn thể hiện Nguyễn Du rất hiểu tình cảm và rất thông cảm
với nỗi đau xót xa của Thúy Kiều, như chia sẻ cùng nàng mối tình đầu tan vỡ.
=> Nỗi nhớ thương của Kiều đã nói lên nhân cách đáng trân trọng của nàng.
Hoàn cảnh của nàng lúc này thật xót xa, đau đớn. Nhưng quên đi cảnh ngộ
bản thân, nàng đã hướng yêu thương vào những người thân yêu nhất. Trái
tim nàng thật giàu yêu thương giàu đức hi sinh. Nàng thật sự là một người
tình thuỷ chung, một người con hiếu thảo, một người có tấm lòng vị tha cao
cả đáng quý.
* Tám câu thơ cuối: - Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh.
Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng của người – mỗi
một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, với những lý do
buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng để rồi tình buồn lại
tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúc một
ghê gớm, mãnh liệt hơn.
* Bức tranh thứ nhất:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”
- Nguyễn Du đã rất tinh tế khi mượn tứ thơ dân gian. “Chiều hôm” là tứ thơ
xuất hiện nhiều trong ca dao xưa. nhiều bài ca dao đã bắt đầu bằng mô típ
này:
“Chiều chiều ra đứng bờ sông
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

kia. H/ả cánh hoa đã gợi trong lòng nàng nỗi buồn não nề đến vô vọng.
* Bức tranh thứ 3:
- Sau đó, ánh mắt của nàng hướng ra xung quanh lầu Ngưng Bích.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Lại một cảnh mênh mông hoang vắng… “nội cỏ rầu rầu” dàn trải típ tắp
tới tận chân trời xa. Vẫn không có một bóng cây, chẳng một bóng nhà để phá
bớt cái màu xanh đơn điệu ấy. Màu cỏ không phải là màu xanh tươi tốt mà
“rầu rầu” buồn bã, héo hắt không chút sức sống. Ấy thế mà màu xanh ấy cứ
trải rộng ra mãi, nối tiếp với vùng trời mênh mang mờ mịt. Màu xanh ấy nhợt
nhạt, xa xôi làm gợi lên một nỗi niềm ngao ngán tẻ nhạt vô cùng. Và có lẽ,
màu xanh ấy là màu của tâm trạng được nhìn từ đôi mắt đẫm ướt khổ đau của
Thúy Kiều. Màu xanh nhạt nhòa của chân mây, mặt đất hay là ẩn dụ cho
tương lai mịt mờ vô vọng của nàng. Bởi thế nàng cảm thấy như không cósức
sống, không niềm tin, vô vọng và đầy ngao ngán
* Bức tranh thứ tư: Trước mắt nàng là biển trời bão tố:
Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh
Ầm ầm sóng vỗ kêu quanh ghế ngồi
Dường như đến đây, nỗi buồn đã dâng cao đến đỉnh điểm, đang trào dâng
mạnh mẽ như vỡ ra trong lòng Kiều. Gió cuốn ào ào khiến mặt biển nổi đầy
sóng lớn, trắng xóa một màu. Sóng gào thét “ầm ầm” như chực cuốn phăng đi
tất cả mọi thứ hiện hữu, kể cả Kiều. Từ láy “ầm ầm” được đảo lên câu thơ để
nhấn mạnh sự gầm gào hãi hùng của biển cả. Kiều cảm nhận thấy tiếng sóng
đang bủa vây xung quanh, như bao bọc lấy nàng, xiết chặt, gào thét trong tâm
hồn nàng. Thúy Kiều dường như không còn lối thoát. Từng lớp sóng như
muốn nhấn chìm nàng xuống vực thẳm đáng sợ! Tiếng sóng kêu ấy hay là
tiếng kêu sợ hãi của thúy Kiều khi nghĩ đến chặng đường sắp tới của mình.
Cái “gió cuốn mặt dềnh” kia là hình ảnh ước lệ chỉ những tai họa cuộc đời
sắp đổ xuống đầu nàng. Câu thơ dự báo về cuộc đời của mình sẽ gặp nhiều
sóng gió, trắc trở.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status