ĐỀ TÀI: THẨM ĐỊNH NĂNG LỰC PHÁP LÍ CỦA KHÁCH HÀNG NHÓM 5 - Pdf 23

1  ĐỀ TÀI: THẨM ĐỊNH NĂNG LỰC PHÁP LÍ
CỦA KHÁCH HÀNG
GVHD: BÙI THÀNH QUÍ


THỰC HIỆN: NHÓM 01
3

DANH SÁCH NHÓM

MSSV

HỌ VÀ TÊN

NHIỆM VỤ
CÔNG VIỆC
HOÀN
THÀNH
CÔNG
VIỆC Tìm tài liệu chương
II,hoàn tất,
95% Tìm tài liệu chương II.
95% Tìm tài liệu chương II,
hoàn tất
95%



4
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU. 5
NỘI DUNG. 6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÍN DỤNG. 6
1.Cơ sở pháp lý. 6
2. Các khái niệm chung về tín dụng: 6
3. Vấn đề đặt ra đối với công tác thẩm định. 6
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG THẨM ĐỊNH NĂNG LỰC
PHÁP LÝ CỦA KHÁCH HÀNG 7
I. NỘI DUNG THẨM ĐỊNH NĂNG LỰC PHÁP LÝ. 7
1. Khái niệm. 7
2. Mục đích thẩm định khách hàng. 8
3. Phương pháp thẩm định. 8
4. Phân loại tư cách pháp lý. 8
5. Điều kiện được vay vốn. 10
6. Một số điểm cần lưu ý khi xem xét, đánh giá năng
lực pháp lý của khách hàng doanh nghiệp. 11
7. Nội dung bộ hồ sơ pháp lý. 13
II.GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG. 14
1. Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng. 14
2. Giải pháp hỗ trợ đẩy mạnh chất lượng tín dụng. 17
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN. 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 21

là: Thẩm định năng lực pháp lý của khách hàng để làm rõ thêm nội dung này.

6
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH
TÍN DỤNG:
1.Cơ sở pháp lý:
Theo QUY CHẾ CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG
(Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ -NHNN ngày
31/12/2001 của thống đốc ngân hàng Nhà nước)(đã được sửa đổi bổ
sung bởi Quyết định số 783/2005/QĐ -NHNN và Quyết định số
127/2005/QĐ-NHNN)
2. Các khái niệm chung về tín dụng:
“Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang
người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay trở lại người sở hữu một
lượng giá trị lớn hơn ban đầu”.Gồm các loại:
-Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh
được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu các khoản vật liệu hay nguyên vật liệu
hàng hóa, công cụ lưu thông của tín dụng thương mại thường là các thương phiếu.
-Tín dụng nhà nước:
+ Là mối quan hệ tín dụng giữa nhà nước và các tầng lớp dân cư hoặc với các
tổ chức được thực hiện dưới hình thức chính phủ phát hành các công trái để huy động
vốn của nhân dân và tổ chức trong xã hội.
+ Loại hình tín dụng này giúp ngân sách nhà nước kích thích kinh tế phát triển

lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh
vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội[2]”. Muốn vậy các phương án đầu tư cần phải
đồng bộ, phải được triển khai nhanh chóng và mang lại hiệu quả về mặt
kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, những thay đổi trong quá trình hội nhập và do
ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Thị trường tài chính Việt Nam đang
biến động mạnh mẽ, việc cho vay và cung ứng vốn nhằm triển khai các
phương án đầu tư gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và trở ngại.
Do vậy, tín dụng ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọng cho nền
kinh tế. Nghiệp vụ này không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn là
nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và
phát triển của từng ngân hàng. Đi liền với nó, chất lượng tín dụng làm sao
có thể hỗ trợ tốt nhất, là cơ sở để phán quyết tín dụng đúng đắn, tăng tính
bền vững và độ an toàn cao của các phương án được tài trợ. 8
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG THẨM ĐỊNH NĂNG LỰC
PHÁP LÝ CỦA KHÁCH HÀNG:
I. NỘI DUNG THẨM ĐỊNH NĂNG LỰC PHÁP LÝ :
1. Khái niệm:
Thẩm định tín dụng là việc sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích nhằm kiểm
tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một dự án khách hàng đã xuất trình nhằm
phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng.
Thẩm định tín dụng là một rong những khâu rất quan trọng trong toàn bộ qui
trình tín dụng. Do đó, để đảm bảo được mục tiêu thu hồi nợ, thẩm định tín dụng cần
tập trung vào các nội dung chính sau đây:
+ Thẩm định về tư cách của khách hàng.
+ Thẩm định về tình hình sản xuất kinh doanh.
+ Phân tích tình hình tài chính.

tắc, mọi cá nhân đều có tư cách pháp lý, nhưng với tổ chức thì không phải. Để được
Nhà nước công nhận có tư cách pháp lý, chủ thể cần phải đáp ứng ít nhất một hoặc cả
hai điều kiện sau:
- Có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (năng
lực pháp luật)
- Có khả năng thực tế (được pháp luật thừa nhận) để thực hiện các quyền và nghĩa vụ
pháp lý (năng lực hành vi)
* Tư cách thể nhân là tư cách pháp lý được Nhà nước công nhận cho một cá
nhân (con người bằng xương, bằng thịt). Người này được gọi là thể nhân. Mỗi cá nhân
đang hiện hữu trong xã hội đều được Nhà nước công nhận tư cách thể nhân, bất kể họ
đã trưởng thành hay chưa, có nhận thức được hoặc phát triển có bình thường hay
không: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Năng lực pháp luật
dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” (Điều 16
Bộ luật dân sự năm 1995).
* Tư cách pháp nhân là tư cách pháp lý được Nhà nước công nhận cho một
tổ chức (nhóm người) có khả tồn tại và hoạt động độc lập trước pháp luật. Tổ chức này
được gọi là pháp nhân (là con người trên phương diện pháp lý chứ không phải con
người thực thể). Khác với thể nhân, không phải tổ chức nào, tập thể nào cũng đều
được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân. Theo điều 94 BLDS (bộ luật dân sự)
năm 1995, một tổ chức muốn được công nhận tư cách pháp nhân phải hội dủ các điều
kiện cơ bản sau:
- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc
công nhận;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ xã hội một cách độc lập.

10
Một pháp nhân luôn luôn đảm bảo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Theo điều 110 BLDS (bộ luật dân sự) năm 1995, ở nước ta có các loại pháp nhân sau:

GVHD: BÙI THÀNH QUÍ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
THỰC HIỆN: NHÓM 01 11
- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự;
- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự;
* Khách hàng vay là tổ chức và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp
luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân
đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ
Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật
khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định
+ Đánh giá quan hệ của khách hàng với các Tổ chức tín dụng.
+ Đánh giá chung về khách hàng xin cấp tín dụng.
* Thông tin (cá nhân, tổ chức): cần kiểm tra một số nội dung chính về cá nhân
như năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ Luật dân sự, hộ khẩu thường trú,
chứng minh thư, tuổi, địa chỉ cư trú, xác nhận của tổ chức quản lý lao động hoặc tổ
chức quản lý và chi trả thu nhập, xác nhận của chính quyền địa phương, văn bằng,
chứng chỉ, …
Cán bộ tín dụng tiến hành điều tra, thu thập và tổng hợp thông tin về khách hàng
và phương án sản xuất kinh doanh/ dự án đầu tư từ các nguồn:
- Hồ sơ do khách hàng cung cấp: giấy tờ pháp lý và các báo cáo tài chính
- Phỏng vấn trực tiếp khách hàng
- Đi thăm thực địa khách hàng
- Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác

GVHD: BÙI THÀNH QUÍ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
THỰC HIỆN: NHÓM 01 13

Bảng 2: Chấm điểm các thông tin cá nhân cơ bản.

1
Tuổi
36-55
tuổi
36-35
tuổi
56-60 tuổi
20-25 tuổi
>60 tuổi
hoặc
18-20
tuổi
10%
2
Tnh độ học
vấn
Trên đại
học
Đại học

Khác
10%
5
Số người ăn
theo
<3 người
3 người
4 người
5 người
Trên 5
người
10%
6
Cơ cấu gia
đ
́
nh
Hạt nhân
Sống
cùng
cha mẹ
Sống cùng
gia đ
́
nh
khác
Khác

10%
7

việc hiện tại
>7 năm
5-7
năm
3-5 năm
1-3 năm
<1 năm
10%
10
Rủi ro nghề
nghiệp
Thấp

Trung b
́
nh

Cao
10% 14
Bảng 3: Chấm điểm tiêu chí quan hệ với ngân hàng. Bảng 4: Bảng tổng hợp điềm và xếp hạng khách hàng.


những luật nào sẽ điều chỉnh việc thành lập cũng như hoạt động của khách hàng. Do
đó, cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối chiếu với những văn bản pháp qui (luật,
nghị định, thông tư, quyết định, và các văn bản dưới luật khác) điều chỉnh từng loại

16
hình doanh nghiệp, để từ đó đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn. Đến
thời điểm hiện nay, phạm vi điều chỉnh của một số bộ luật liên quan tới hoạt động của
các loại hình doanh nghiệp được tóm tắt như sau:
+ Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân; doanh nghiệp 100%
vốn nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội khi được
chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên hoặc
công ty cổ phần;
+ Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp nhà nước: Công ty nhà nước;
đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần
nhà nước, công ty TNHH nhà nước một hoặc hai thành viên trở lên, Luật DNNN chỉ
quy định về thẩm quyền của chủ sở hữu nhà nước trong việc quyết định thành lập mới,
tổ chức lại, giải thể và chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp này với tư cách là chủ sở
hữu và quy định về quan hệ giữa chủ sở hữu nhà nước với người được uỷ quyền đại
diện phần vốn góp của nhà nước và công ty nhà nước. Việc tổ chức quản lý hoạt động
và thực hiện các thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể, chuyển
đổi sở hữu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp;
+ Phạm vi điều chỉnh Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài, và hợp đồng hợp tác kinh doanh có bên nước ngoài tham
gia;
Sự mở rộng của khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước: Nhằm tạo tiền đề và tiến tới
hình thành một khung pháp lý thống nhất, bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 đã mở rộng
khái niệm doanh nghiệp nhà nước hơn so với Bộ luật DNNN ban hành năm 1995, theo

của đơn vị hạch toán phụ thuộc đó có ý kiến chính thức bằng văn bản.
Đối với công ty TNHH: Điều 42 Luật doanh nghiệp - Các hợp đồng phải được
hội đồng thành viên chấp thuận qui định rõ: Nếu hợp đồng được ký mà chưa được Hội
đồng thành viên chấp thuận trước (chậm nhất là 15 ngày trước khi ký), thì hợp đồng
đó vô hiệu và được xử lý theo qui định của luật pháp. Do đó, để tránh rơi vào trường
hợp hợp đồng vô hiệu, các hợp đồng kinh tế, dân sự, trong đó có quan hệ với ngân
hàng như nội dung trong giấy đề nghị vay vốn do Giám đốc công ty ký (mức vốn đề
nghị vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn vay trả, các hình thức bảo đảm tiền vay,
) đều phải được Hội đồng thành viên chấp thuận trước bằng văn bản.
Khách hàng là công ty cổ phần: Hội đồng quản trị là cấp quyết định các nội dung
như: Chiến lược phát triển của công ty, phương án đầu tư, bổ nhiệm và miễn nhiệm
các chức danh giám đốc (tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác của công
ty.

18
Tất cả những lưu ý nêu trên để giúp cán bộ ngân hàng trong quá trình đánh giá
năng lực pháp lý khách hàng.
Về yêu cầu đánh giá, kết thúc nội dung này, cán bộ ngân hàng phải nêu rõ và
đánh giá được:
+ Tên khách hàng vay vốn;
+ Quyết định thành lập, cấp ra quyết định thành lập, ngành nghề lĩnh vực hoạt
động. Ngành nghề lĩnh vực hoạt động hiện tại có phù hợp với lĩnh vực của dự án đầu
tư mà khách hàng đặt vấn đề vay vốn tại ngân hàng hay không?;
+Người đại diện theo pháp luật của công ty;
+Chế độ hạch toán: Độc lập hay phụ thuộc.
Tuy nhiên việc tìm hiểu cần tiến hành khéo léo và tế nhị.
7. Nội dung bộ hồ sơ pháp lý:
+Đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác:
-Đăng ký kinh doanh (đối với những trường hợp pháp luật có quy định phải đăng ký
kinh doanh);

công tác này. Phân công cán bộ thẩm định cũng phải căn cứ vào trình độ,
kinh nghiệm, thế mạnh của từng người.
- Không nên phân cán bộ thẩm định phụ trách khối doanh nghiệp trong và
ngoài quốc doanh như hiện nay mà nên phân theo ngành nghề, mỗi bộ phận
cán bộ thẩm định phụ trách những ngành nghề khác nhau và cho cán bộ đi
tìm hiểu về loại ngành nghề đó.
+Bồi dưỡng, nâng cao trình độ kiến thức của đội ngũ cán bộ thẩm định.
Trình độ, năng lực, kinh nghiệm cũng như đạo đức nghề nghiệp là nhân tố
rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác thẩm định. Do
đó cán bộ thẩm định cần:
- Nắm vững mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như
của Ngân hàng nhà nước. Thành thạo chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng nhất
là nghiệp vụ tín dụng.
- Có kiến thức tổng thể về kinh tế thị trường, nhanh nhạy nắm bắt thông
tin, am hiểu về pháp luật. Hiểu biết nhất định trên một số lĩnh vực có liên
quan đến nghiệp vụ tín dụng.
- Hàng năm ngân hàng cần tổ chức các đợt thi nghiệp vụ nhằm khuyến
khích cán bộ tín dụng trau dồi nghiệp vụ, không ngừng học hỏi để nâng cao
trình độ chuyên môn.
- Ngân hàng cần chú trọng tới công tác bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nêu
cao tinh thần trách nhiệm và thường xuyên bám sát cơ sở, tiếp cận khách

20
hàng để nắm kịp thời những biến động của khách hàng, từ đó có những cách
thức đối phó cho phù hợp.
+Không ngừng đổi mới công nghệ ngân hàng.
Hoạt động ngân hàng đang phát triển theo hướng “ngân hàng điện tử”.
Chính vì vậy, việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng như: homebanking,
internetbanking là điều tất yếu sẽ xảy ra. Đó là những đòi hỏi, thách thức
đối với các ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập hiện nay.

an toàn cho nguồn vốn của ngân hàng trong trường hợp tài sản thế chấp bị
giảm giá trị, trong trường hợp này nếu cần thiết ngân hàng có thể tiến hành
gia hạn nợ cho khách hàng.
- Đối với các khoản nợ quá hạn thì ngân hàng cần xem xét lại các vấn đề
trong quá trình thẩm định xem ngân hàng mắc những sai sót gì, trong khâu
nào, vấn đề nào…xem xét lại khả năng tài chính của khách hàng và quá
trình khách hàng sử dụng vốn vay có đúng mục đích không. Từ đó đưa ra
những giải pháp xử lý mang lại hiệu quả cao trong thời gian ngắn.
- Khi tiến hành thu hồi nợ quá hạn, ngân hàng nên sử dụng biện pháp khai
thác khi khách hàng vay vốn có thiện chí trả nợ, ngân hàng có thể gia hạn
nợ hoặc điều chỉnh hợp đồng tín dụng tương ứng với một chu kỳ sản xuất
của khách hàng, cho phép khách hàng tự khắc phục khó khăn về tài chính để
hoàn trả nợ ngân hàng càng sớm càng tốt. Khi khách hàng không có thiện
chí trả nợ như đã cam kết trong hợp dồng tín dụng thì ngân hàng mới tiến
hành thanh lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
+Nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra, kiểm soát.
Kiểm tra, kiểm soát là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng, đề
phòng, ngăn ngừa và xử lý kịp thời, chính xác những hiện tượng có thể dẫn
đến rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Do đó:
- Cán bộ tín dụng phải phát huy tối đa tính khách quan, nhìn nhận vấn đề
theo tình hình thực tế, theo số liệu cụ thể của công tác kiểm tra.
- Kiểm tra, kiểm soát phải đảm kịp thời, thường xuyên, đánh giá sự việc
một cách mau lẹ và đưa ra kết luận chính xác.
2. Giải pháp hỗ trợ đẩy mạnh chất lượng tín dụng.
+Đẩy mạnh công tác huy động vốn.
- Ngân hàng phải nghiên cứu và đưa ra một mức lãi suất huy động hợp lý,
vừa có tính cạnh tranh nhưng đồng thời cũng hấp dẫn khách hàng. Cần đẩy
mạnh huy động vốn và tăng trưởng nguồn vốn trên địa bàn, đặc biệt là
nguồn vốn trung – dài hạn là điều kiện hàng đầu để mở rộng tín dụng phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.

những thông tin có liên quan đến công tác tín dụng.
- Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong cập nhật thông tin từ nhiều ấn phẩm
báo chí trong nước và báo chí nước ngoài.
Ngoài ra hệ thống thông tin quan trọng gồm các văn bản quy phạm pháp luật
mới nhưng Ngành chưa có hướng dẫn trong khi các phương tiện thông tin đại chúng
và báo chí đã đăng tải, hay có những ý kiến xoay quanh nó, cán bộ tín dụng cần quan
GVHD: BÙI THÀNH QUÍ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
THỰC HIỆN: NHÓM 01 23
tâm, nghiên cứu trước. Đây là những cơ sở pháp lý để những người làm công tác tín
dụng sử dụng phục vụ cho việc thẩm định khách hàng vay vốn.
Trong xã hội hiện đại, có tới 70-80% thông tin là do các phương tiện truyền
thông nói chung và báo chí nói riêng mang lại. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta
đang trong quá trình đổi mới, các chính sách điều hành, quản lý nền kinh tế chưa hoàn
thiện, hệ thống thông tin tín dụng chưa đáp ứng kịp thời cho hoạt động tín dụng và
công tác thẩm định khách hàng vay vón. Do đó, rủi ro thiếu thông tin về khách hàng và
môi trường cho vay rất dễ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế này, đòi hỏi những người làm công tác tín
dụng cần xây dựng hệ thống thông tin chuyên môn phục vụ cho công tác tín dụng.
Trong hệ thống thông tin trên, nguồn thông tin trên báo chí là không thể thiếu. Việc
xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng có quan hệ với ngân hàng và sử
dụng hiệu quả những thông tin trên trong thẩm định sẽ giảm bớt được yếu tố chủ quan
trong việc thẩm định khách hàng, góp phần nâng cao chất lượng công tác tín dụng.
+Mở rộng địa bàn đầu tư.
- Xây dựng kế hoạch mở rộng mạng lưới kinh doanh, tích cực mở rộng
huy động vốn trong các doanh nghiệp, cơ quan…để thu hút các khoản tiền
nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi.
- Khu công nghiệp tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động, ngành nghề


GVHD: BÙI THÀNH QUÍ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
THỰC HIỆN: NHÓM 01 25
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN:
Mục đích của việc thẩm định khách hàng và phương án vay vốn là đánh giá khả
năng hoàn vốn vay cho Ngân hàng trên cơ sở tìm hiểu và đánh giá một cách toàn diện
chính xác về khách hàng. Việc quyết định cho vay sẽ dẫn đến rủi ro, nếu nội dung
thẩm định không chi tiết, đầy đủ, việc đánh giá phân tích khách hàng không khách
quan và chính xác, từ đó dẫn đến các quyết định sai lệch của cấp Lãnh đạo phê duyệt
đối với khách hàng và gây ra rủi ro cho Ngân hàng. Tuỳ theo khách hàng và phương
án vay vốn, khi thẩm định, Chuyên viên phân tích tín dụng có thể sử dụng kết hợp
nhiều nguồn thông tin khác nhau: xem xét trên hồ sơ, gặp gỡ trao đổi trực tiếp với
khách hàng, xuống kiểm tra thực tế tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
kết hợp với các nguồn thông tin khác như: từ bạn hàng; đối thủ cạnh tranh; các cơ
quan quản lý; các ngân hàng thông qua mối quan hệ và qua CIC; khách hàng tiêu thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status