Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ LÊ VÂN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG CÂU ĐỐ
DÂN GIAN CỦA NGƢỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thi Nguyên, 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu khảo sát, điều tra, kết
luận trong đề tài là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào khá c.
Tác giả
Nguyễn Thị Lê Vân
1.4.1. Quan điểm về mối quan hệ giữa câu đố và các biện pháp tu từ của các
nhà nghiên cứu 24
1.4.2. Quan điểm của tác giả luận văn 27
1.5. Tiểu kết 28
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ DÙNG ĐỂ CHUYỂN TRƢỜNG
TRONG CÂU ĐỐ 29
2.1. Kết quả thống kê 29
2.2. Miêu tả các cách chuyển trường trong câu đố 29
2.3. Vai trò của các cách chuyển trƣờng trong câu đố 63
2.4. Tiểu kết chƣơng 2 64
CHƢƠNG 3: CHƠI CHỮ TRONG CÂU ĐỐ 68
3.1. Kết quả thống kê 68
3.2. Miêu tả các thủ php chơi chữ trong câu đố 68
3.2.1. Chơi chữ bằng các phương tiện ngữ âm và chữ viết 68
3.2.2. Chơi chữ bằng phương tiện ngữ nghĩa 92
3.2.3. Câu đố dùng cách tá ý 106
3.3. Tiểu kết chƣơng 3 120
KẾT LUẬN 121 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
A/ MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Một trong những thể loại của văn học dân gian rất gần gũi với đời sống tinh
thần của nhân dân lao động là câu đố. Câu đố cung cấp thêm những góc nhìn
mới mẻ, bất ngờ về những sự vật, hiện tượng đã trở nên quen thuộc với mỗi
1.5. Nghiên cứu đề tài này, người viết hi vọng sẽ góp thêm một phần vào việc
tìm hiểu loại hình văn học này từ phương diện ngôn ngữ học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Theo điều tra bước đầu của chúng tôi, đến nay đã có khoảng trên 40 công
trình nghiên cứu câu đố, song các công trình này chỉ nặng về sưu tầm hoặc là
những bài nghiên cứu về một góc độ nào của câu đố, ví dụ:
- Ninh Viết Giao, Câu đố Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H, 1996.
- Hoài Quỳnh (sưu tầm), Câu đố dân gian Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2004.
- Hồ Anh Thái (sưu tầm), Câu đố Việt Nam, Nxb Hải Phòng, 2004
- Nguyễn Đình Thông (sưu tầm), Câu đố dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2000.
- Nguyễn Văn Trung, Câu đố Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2005
- Lâm Hồng Anh (tuyển chọn), Câu đố Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, H,
2005.
- Nguyễn Xuân Kính, Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 3, câu đố, Nxb
Khoa học Xã hội, H, 2005
- Mã Giang Lân, Lê Chí Quế, Tục ngữ, câu đố, ca dao, dân ca Việt Nam,
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1997. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
Trong các công trình nêu trên, có ba công trình được chú ý nhiều hơn cả là
công trình của tác gia Triều Nguyên, Nguyễn Văn Trung và Ninh Viết Giao .
Bên cạnh việc tập hợp được một số lượng khá lớn câu đố, tác giả Nguyễn Văn
Trung còn giới thiệu xuất xứ, nguồn gốc; hoàn cảnh sử dụng, mục đích, chức
năng câu đố; cách cấu tạo câu đố về mặt ngữ pháp, ngữ điệu, ngữ nghĩa Tác
giả Triều Nguyên, phần khái luận về câu đố người Việt đã có cách tiếp cận câu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về câu đố thường nặng về sưu tầm, tuy
đưa ra nhận xét nhưng chỉ là những gợi ý đối với người đọc. Có những công
trình nghiên cứu chỉ chọn một số câu đố tiêu biểu để tìm hiểu, phân tích về một
phương diện nào đó.
2.2. Đề tài của chúng tôi sẽ tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các nhà
nghiên cứu đi trước, đồng thời đề tài sẽ cố gắng vận dụng những lí luận của Ngữ
dụng học để tìm hiểu loại hình văn học dân gian này. Hi vọng đề tài sẽ sẽ đạt
được kết quả như mục đích người viết đặt ra nói ở mục 4 dưới đây.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là câu đố dân gian của người Việt.
- Ngữ liệu khảo sát là cuốn Tổng tập văn học dân gian của người Việt ( Tập
3), phần nói về câu đố và cuốn Câu đố Việt Nam của Nguyễn văn Trung, Nhà
xuất bản TP HCM.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Có thể tìm hiểu câu đố từ nhiều phương diện nhưng đề tài này chỉ tập trung
tìm hiểu một số biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đố.
4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số biện pháp tu từ được sử dụng trong việc xây dựng câu đố
dân gian của người Việt nhằm mục đích làm rõ tần số, cách sử dụng, từ đó thấy
được vai trò của các biện pháp tu từ trong câu đố, trong việc xây dựng và giải
đáp câu đố.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung
chính của luận văn chia làm 3 chương:
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái quát về các biện pháp tu từ
1.2. Chiếu vật và cc phƣơng thức chiếu vật
1.3. Khái quát về câu đố dân gian
1.4. Câu đố và các biện pháp tu từ
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ DÙNG ĐỂ
CHUYỂN TRƢỜNG TRONG CÂU ĐỐ
(Nhân ho, động vật hoá, thực vật hoá, tự nhiên hoá, so sánh)
2.1. Kết quả thống kê
2.2. Miêu tả một số biện pháp tu từ dùng để chuyển trƣờng trong câu đố
2.3. Vai trò của một số biện pháp tu từ dùng để chuyển trƣờng trong câu đố
CHƢƠNG 3: CHƠI CHỮ TRONG CÂU ĐỐ
3.1. Kết quả thống kê
3.2. Miêu tả một số thủ php chơi chữ trong câu đố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
3.2.1. Chơi chữ bằng cc phƣơng tiện ngữ âm và chữ viết
3.2.2. Chơi chữ bằng phƣơng tiện ngữ nghĩa
3.2.3. Câu đố dùng cách tá ý
3.3. Vai trò của thủ php chơi chữ trong câu đố
Kết luận
Tài liệu tham khảo
học quan niệm: “Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý
nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có
màu sắc tu từ và được hình thành từ bốn yếu tố: biểu cảm (chứa đựng yếu tố
hình tượng), cảm xúc (chứa đựng những yếu tố diễn đạt tình cảm, cảm xúc), bình
giá (chứa đựng những yếu tố khen chê) và phong cách chức năng (chỉ rõ phạm
vi sử dụng thường xuyên, cố định)” [31; 45]. Hiểu như vậy có nghĩa là cho rằng
phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học tiềm tàng (trong ý
thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của
hệ thống ngôn ngữ. Ví dụ: Từ “hi sinh” ngoài nét nghĩa cơ bản là chết còn mang
nét nghĩa bổ sung: thể hiện sự trân trọng, tôn kính của người nói. Vì thế “hi sinh”
còn được gọi là phương tiện tu từ.
Biện pháp tu từ còn được gọi là phương thức tu từ, được các nhà phong cách
học hiểu như sau: “Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt
động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không
có màu sắc tu từ, trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng
gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh)” [31; 47]. Hiểu như vậy
có nghĩa là cho rằng biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm một mục đích tu từ nhất định. Nó đối lập với
biện pháp sử dụng thông thường trong mọi hoàn cảnh, chỉ nhằm mục đích diễn
đạt lí trí.
Để có thể nhận biết dễ dàng và sử dụng hiệu quả phương tiện tu từ, biện pháp
tu từ cần phải xác định một cách rõ ràng, chính xác, đồng thời cần phân loại chặt
chẽ và miêu tả đầy đủ chúng. Ta có thể phân biệt biện pháp tu từ và phương tiện
tu từ dựa trên một số yếu tố cơ bản sau:
tiện tu từ khác nhau có thể cùng tham gia vào việc xây dựng cùng một biện pháp
tu từ duy nhất.
Tóm lại, biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một
hoàn cảnh cụ thể nhằm mục đích tu từ nhất định, đó là cách diễn đạt ngôn ngữ
mới mẻ, thể hiện tài năng sáng tạo độc đáo của người sử dụng ngôn ngữ. Do vậy,
việc phân loại và miêu tả các biện pháp tu từ đạt được tính hệ thống, tính nhất
quán trong tất cả các cấp độ ngôn ngữ sẽ giúp cho người học luôn có ý thức nhận
thức được tầm quan trọng nổi bật của sự đối lập quen thuộc, mới mẻ giữa các
biện pháp thông thường và biện pháp tu từ (biện pháp đặc biệt). Sự lựa chọn, sử
dụng các biện pháp tu từ ở người sử dụng ngôn ngữ luôn là sự sáng tạo không
ngừng, nhưng không nên nghĩ rằng phải luôn dùng hình thức diễn đạt mới mẻ,
bóng bẩy mới hay, bởi trình độ cao trong việc sử dụng ngôn ngữ không phải ở
chỗ biết nhiều, dùng nhiều biện pháp tu từ mà thể hiện ở khả năng lựa chọn sử
dụng các yếu tố ngôn ngữ nói chung phù hợp với đặc trưng của từng phong cách
chức năng của hoạt động lời nói. Vì thế, có khám phá, phát hiện và khai thác giá
trị sử dụng của các biện pháp tu từ, người đọc mới có thể phát hiện và nhận thức
sâu sắc về giá trị thẩm mĩ của ngôn từ.
Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phối hợp sử
dụng, các biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp tu từ
ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từ ngữ
âm – văn tự.
1.1.2. Sơ lƣợc về một số biện pháp tu từ
1.1.2.1. Biện pháp tu từ ẩn dụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
“Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương
quàng cổ hay trải bàn mà nó đã được nhân hóa, đã có hồn, có tâm thức, biết
“thương nhớ”.
b) Hình thức cấu tạo:
Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách:
+ Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính chất,
hoạt động của đối tượng không phải con người.
Ví dụ 3
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
(Nguyễn Du)
“Ghen”, “hờn” là hai trạng thái cảm xúc của con người được chuyển sang
miêu tả thái độ, cảm xúc của hoa, liễu. Hoa, liễu được nhân cách hóa trở thành
con người đang ganh tị với sắc đẹp của nàng Kiều.
+ Coi đối tượng không phải con người như con người và tâm tình trò chuyện với
nhau:
Ví dụ 4
Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương.
(Ca dao)
1.1.2.3. Biện pháp tu từ so sánh
a) Khái niệm: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
“So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ
ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách
quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó,
Con hơn cha là nhà có phúc.
(Thành ngữ)
- So sánh kém
Ví dụ 8
Phép vua thua lệ làng
(Thành ngữ)
1.1.2.4. Chơi chữ
a) Khái niệm:
“Chơi chữ là một biện pháp tu từ tập trung khai thác những tương đồng về ngữ
âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh nhằm tạo ra những liên tưởng bất ngờ, thú vị.”
[2; 193].
b, Một số hình thức chơi chữ:
- Chơi chữ theo cách cùng âm (đồng âm)
“Những đơn vị đồng âm là những đơn vị giống nhau về hình thức ngữ âm
nhưng khác nhau về ý nghĩa. Nói rõ hơn, các đơn vị âm là những đơn vị không
có quan hệ đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với nhau. Chúng chỉ là những đơn
vị khác biệt về ngữ nghĩa.” [57; 94]
Ví dụ 9
Ca (1) đựng nước.
Ca (2) trực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
Ca (1) và ca (2) là những đơn vị đồng âm. Ca (1) là đồ dùng để đựng nước, ca
(2) là phiên làm việc.
- Chơi chữ theo cách lái âm (nói lái).
“Nói lái là một biện pháp tu từ trong đó người ta tráo đổi phụ âm đầu và phần
hai sở chỉ. Cơ chế của chúng được biểu thị như sau:
{a
1
, b
1
, c
1
} CĐBĐ
1
CBĐ 2 sở chỉ
{a
2
, b
2
, c
2
} CĐBĐ
2
(liên tưởng)
=> Như vậy, với cách tạo hình ảnh nước đôi thì bản thân mỗi hình ảnh qua liên
tưởng mà được tách chẻ ra, mỗi CĐBĐ là một sự vật, hiện tượng riêng rẽ, có khi
khác biệt hẳn. Quá trình này diễn ra một cách đều đặn, liên tục cho đến khi đạt
được một lượng nhất định, đủ để hình thành nên diện mạo CĐBĐ. Và hai cái
được biểu đạt không phải bao giờ cũng có sự cân xứng, sự tương ứng nhau, mà
có thể so le.
- Cách tách nhập trường nghĩa.
“Tách nhập trường nghĩa là đưa ra một trường nghĩa, rồi khẳng định một vài
yếu tố, những yếu tố còn lại bị phủ định để người giải đố dựa vào đó mà tìm lời
phải có sự suy luận bởi lẽ không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa các thực thể
với các từ. Mặt khác, phải xác định rõ diễn ngôn đang nói về thế giới thực hay
ảo, thế giới tự nhiên hay nhân tạo để hiểu nghĩa của diễn ngôn. Ví dụ, A nói với
B: Mẹ mua cho tớ một con mèo màu xanh. Biểu thức con mèo màu xanh là tín
hiệu ngôn ngữ để chiếu vật. Tuy nhiên, B chỉ có thể xác định nghĩa chiếu vật của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
cụm từ con mèo màu xanh khi xuất phát từ thế giới đồ vật nhân tạo mà không
phải từ thế giới tự nhiên.
1.2.2. Phƣơng thức chiếu vật
Phương thức chiếu vật là cách thức mà con người sử dụng để thực hiện hành
vi chiếu vật. Có ba phương thức chiếu vật lớn: dùng tên riêng, dùng miêu tả xác
định và dùng chỉ xuất.
a) Chiếu vật bằng tên riêng
Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật. Ví dụ như: Hoa, Hùng, Huệ là tên
đặt cho cá thể mỗi người. Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật
đúng với phạm trù của cá thể được gọi tên bằng tên riêng đó. Thí dụ, tên riêng
chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trù người, tên
riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ cá thể núi, sông trong phạm trù
vật thể tự nhiên. Do tên riêng là tên của cá thể sự vật nên sử dụng biểu thức
chiếu vật tên riêng ít phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng cuộc giao tiếp.
Trường hợp các sự vật trùng tên riêng cùng phạm trù, người ta thường dùng
thêm các định ngữ hoặc các “tiểu danh” tên riêng. Ví dụ, ta nói Lan béo để phân
biệt với Lan cận, ta nói Đồng Văn Hà Giang để phân biệt với Đồng Văn Hà
Nam.
Trường hợp các sự vật trùng tên khác phạm trù, ta thêm danh từ chung đặt
1.3.1. Khái niệm câu đố
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, câu đố có vai trò và vị trí riêng,
đáp ứng nhu cầu nhận thức và giải trí của nhân dân. Thuật ngữ câu đố được dùng
từ lâu và phổ biến trong dân gian với hàm nghĩa chỉ một loại hình sáng tác của
folklore. Câu đố không đơn thuần là một hiện tượng ngôn ngữ, nó cũng không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
phải là một tác phẩm (tác phẩm hiểu theo nghĩa là một cấu trúc nghệ thuật) có
các yếu tố được sắp xếp theo bố cục, diễn biến nhất định nhằm thể hiện một tư
tưởng chủ đề nào đó, nhưng mỗi câu đố đều có một nội dung hoàn chỉnh, được
thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng. Từ xưa, Aristôt đã xếp câu đố
vào lĩnh vực “sự bắt trước có tính nghệ thuật” (dẫn theo [39; 244]). Do vậy,
Aristôt đã định nghĩa : “Câu đố là một kiểu ẩn dụ hay” và coi cái hay đặc biệt
của câu đố ở chỗ “trong khi nói về cái tồn tại thực tế, câu đố đồng thời kết hợp
với cả cái hoàn toàn không thể có được” (dẫn theo [39; 244]).
Với các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, quan niệm về câu đố của
họ chính là sự kế thừa thành tựu nghiên cứu của các bậc tiền bối:
Theo tác giả Vũ Ngọc Phan: “Câu đố là một loại hình sáng tác phản ánh các
sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch (nói một đằng hiểu
một nẻo)” [39; 257]. Quan niệm này nhấn mạnh cách nói chệch – một lối chuyển
hoá đặc biệt trong câu đố.
Trong công trình nghiên cứu Câu đố người Việt, tác giả Triều Nguyên lại chú
ý đến mặt cấu tạo của câu đố. Ông đã đưa ra cách nhìn về câu đố: “Câu đố là
một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ phận lời đố và bộ phận lời
giải (vật đố); lời đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp
lẽ nhưng làm cho lạ hoá để khó đoán nhận; lời giải nêu tên vật đố, đó là những