phương ngữ bắc là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học và cũng được lựa chọn làm ngôn ngữ toàn dân - Pdf 23

A. MỞ ĐẦU
Lịch sử dân tộc Việt Nam ta, kể từ thời dựng nước trải qua hàng năm cho đến
ngày nay, nếu xét riêng về mặt ngôi ngữ thì có thể nói rằng đó là lịch sử người Việt
Nam, cùng nhau xây dựng, thống nhất và phổ biến tiếng Việt trong cương vị ngôn
ngữ dùng chung trên lãnh thổ nước ta.Khi nhận diện một dân tộc, ngôn ngữ thường
được coi là một trong những tiêu chuẩn chính (bên cạnh các tiêu chuẩn khác như
tính cộng đồng lãnh thổ, ý thức tự giác dân tộc, các đặc điểm chung về tâm lý, văn
hóa, kinh tế ).Ngôn ngữ góp phần làm nên bản sắc của một dân tộc, phân biệt dân
tộc này với dân tộc khác. Trong suốt lịch sử lâu dài đấu tranh vì chủ quyền dân tộc,
vì độc lập tự do của đất nước, chúng ta có thể hình dung dân tộc Việt Nam ta đã
phấn đấu gian khổ như thế nào để thoát được hiểm họa diệt chủng về ngôn ngữ và
văn hóa, để bảo vệ và phát triển được tiếng Việt.
Phương ngữ vùng nào tất nhiên được người dân vùng đó dùng để giao
tiếp.Tuy nhiên ngoài ra còn có một số đặc điểm sau.
Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia – phương tiện giao tiếp chung được sử dụng
rộng rãi trên khắp đất nước. Song, ở mỗi địa phương khác nhau, nó lại mang những
nét riêng vô cùng phong phú, đa dạng.Bởi vì ngôn ngữ hình thành từ cuộc sống và
phản ánh cuộc sống của từng địa phương khác nhau về kinh tế, văn hóa nên sẽ khác
nhau.Mỗi một phương ngữ là một biến thể ngôn ngữ nhất định, vừa khác biệt với
tiếng toàn dân, vừa mang nét chung cho toàn vùng phương ngữ.Ở Việt Nam chủ
yếu có ba vùng phương ngữ chính: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương
ngữ Nam. Trông đó phương ngữ Bắc là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ văn học và
cũng được lựa chọn làm ngôn ngữ toàn dân.
Các phương ngữ khác nhau về việc phân vùng phương ngữ, về ngữ âm, rồi
đến từ vựng- ngữ nghĩa, cuối cùng là khác biệt ngữ pháp.
1
B. NỘI DUNG
I. Phương ngữ Bắc có vùng phân bố tương đối rộng lớn và tương đối
thuần nhất
I.1. Phương ngữ Bắc có vùng phân bố tương đối rộng lớn
Phương ngữ Bắc là phương ngữ vùng quê Bắc Bộ (tính từ Ninh Bình trở ra),

lâu đời. Vì ngay từ khi ra đời phương ngữ Bắc là phương ngữ được chọn làm ngôn
ngữ toàn dân, đây là ngôn ngữ của một vùng có nền kinh tế, chính trị, văn hóa phát
triển nhất và là ngôn ngữ của bộ lạc chiến thắng. Thời xa xưa, tổ chức xã hội của
nước ta khi mới xuất hiện thì tồn tại dưới hình thức thị tộc, bộ lạc và khi thị tộc, bộ
lạc phát triển đến mức độ nhất định thì hình thành nhà nước, và nhà nước phát triển
mạnh nhất lúc bấy giờ là nhà nước Văn Lang Âu Lạc sống bên lưu vực sông Hồng,
nên ngôn ngữ của nhà nước này được chọn làm ngôn ngữ toàn dân. Đây cũng chính
là phương ngữ Bắc ngày nay.Chính vì có lịch sử phát triển lâu đời nên phương ngữ
Bắc có điều kiện giao lưu phát triển tập trung thống nhất với nhau chứ không phân
tán như ở phương ngữ Trung. Bởi vì phương ngữ Trung và phương ngữ Nam có sự
di dân từ phương ngữ vào khu vực Bình-Trị-Thiên muộn hơn, không có lịch sử lâu
đời như ở phương ngữ Bắc nên khi di cư vào miền Trung thì người dân không sống
tập trung mà sống phân tán, họ sống theo từng cụm đặc biệt theo từng dòng họ nên
ngôn ngữ ở đây vẫn nhỏ lẻ. Cũng do lịch sử hình thành nên phương ngã Nam lại có
đặc điểm khoanh vùng rộng lớn và thuần nhất bởi vì lịch sử hình thành của phương
ngữ chỉ mới diễn ra vào thời gian gần đây (trong khi đất nước kỉ niệm 1000 năm
Thăng Long- Hà Nội thì thành phổ Hồ Chí Minh mới được 300 năm). Cụ thể vào
thế kỉ XVIII, nông nghiệp đã phát triển hình thành những trang trại rộng lớn sớm
mang tính chất hàng hóa nên phạm vi giao lưu rộng khắp cả vùng không bó hẹp
từng làng nhỏ như thời di cư vào miền Trung .
- Hai là yếu tố địa lý: yếu tố nàycũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phân vùng
của phương ngữ Bắc. Phương ngữ Bắc là vùng có đặc điểm địa lý tương đối rộng
lớn, có đồng bằng châu thổ sông Hồng diện tích xếp thứ 2 trong cả nước, bên cạnh
đó, vùng này còn có khu vực trung du và miền núi khá rộng. So với miền Trung thì
địa hình Bắc Bộ không quá chia cách, manh mún.Chính điều kiện này đã tạo cơ sở
cho việc định cư tập trung và tạo điều kiện giao lưu giữa các vùng thuận lợi chứ
không như địa hình phân cách nhỏ hẹp như ở miền Trung.Tuy nhiên, nếu so với địa
3
hình của miền Nam thì địa hình miền Bắc có phần phức tạp hơn và việc giao lưu
giữa các vùng không thuận lợi bằng vùng Nam Bộ.

4
Nếu so sánh tiếng Việt của Hà Nội với tiếng Việt từ Nghệ Tĩnh trở vào thì
người ta thấy ngay hai thanh( ?) và( ~) ở Bắc lại có sự chuyển mã, khi đối chiếu với
tiếng Nghệ Tĩnh, hay tiếng Bình Trị Thiên.
Một người Huế nghe người Bắc nói thì chỉ cần chuyển mã thanh( ~) của Bắc
thành thanh( ?) của Huế, ngược lại người Bắc nghe( ?) của Huế thì phải thích thanh
này có thể vừa là( ~) vừa là( ?) và căn cứ vào đó mà xét nội
dung của câu nói.
Dĩ nhiên khi một người miền Trung nghe một người Hà Nội nói thì về mặt
thanh điệu sự chuyển mã khá dễ dàng: anh ta chỉ cần gộp lại làm một hai
thanh khu biệt ở Hà Nội là( ?) và( ~) hay gộp( ~) và( .) làm một.
Trường hợp người Hà Nội giao tiếp với người Huế hay người Nghệ Tĩnh cũng
thế. Trong hệ thống thanh điệu truyền thống, thanh( ?) ở âm vực cao, thanh( ~) ở
âm vực thấp, nhưng trong phương ngữ Hà Nội hiện nay thì ngược lại, thanh( ?) cao
và thanh( ~) thấp.
Hệ thống thanh điệu ở Bắc Bộ :
Thanh không có âm điệu bằng phẳng, cường độ không thay đổi, ở âm vực
trung bình của lời nói, không có hiện tượng thanh quản hoá hay tắc thanh hầu,
tương đối thống nhất trong tất cả các phương ngữ.
Thanh huyền có âm điệu hơi đi xuống, có âm vực thấp, cường độ không đổi,
không có hiện tượng thanh quản hoá hay tắc thanh hầu. Chỉ khu biệt với thanh
không về âm vực: thấp hơn thanh không từ quãng ba đến quãng năm.
Thanh ngã có âm điệu biến thiên theo hai chiều: đi xuống với đi lên như
hình chữ V với nhánh đi lên cao gấp đôi. Cường độ thay đổi: thanh yếu đi ở
khoảng giữa âm tiết và có khi tắt hẳn rồi lại xuất hiện.
Chính ở điểm này có hiện tượng tắc thanh hầu. Về âm vực, thanh ngã bắt đầu
ở mức thanh huyền. Khoảng cách về âm vực giữa mức bắt đầu và mức kết thúc
trung bình bằng một quãng sáu, giữa hai mức thấp nhất và cao nhất có thể đến hai
quãng tám.
Thanh hỏi có âm điệu biến thiên hai chiều xuống- lên, nhưng không chia hai

của đồng bằng Bắc Bộ, tập trung ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình mà
không tiêu biểu cho toàn thể phương ngữ Bắc. Nhưng cách đây chưa đầy một thế kỉ
nó đã được sử dụng khắp miền Bắc nước ta. Chữ quốc ngữ được đặt ra, qua nhiều
6
bước cải tiến cho đến khi ổn định với dáng vẻ như ngày nay là dựa vào cách phát
âm này. Những phụ âm tiền ngạc C, Z, S ở đây đã được chữ quốc ngữ ghi lại bằng
tr, gi và s là những phụ âm đầu lưỡi, chứ không phải âm quặt lưỡi như phương ngữ
Trung. Khi phát âm C (tr) đầu lưỡi được nâng lên áp vào phía trước ngạc, rồi sau đó
bật ra để luồng hơi thoát ra ngoài, đôi khi chỉ nghe như một âm tắc xát, gần với âm
C trong từ Cas “giờ” của tiếng Nga. Vị trí cấu âm của S và Z cũng như thế, nhưng
đầu lưỡi không áp sát ngạc, mà tạo thành một khe hở ở giữa để cho luồng hơi thoát
ra, và gây nên tiếng cọ xát. Những phụ âm này có thể so sánh với phụ âm trong các
từ chien “chó”, jeu “trò chơi” của tiếng Pháp. Ví dụ: trong trắng[Cong
m
Cắng], gia
giáo [Za Záw], sao ta [Saw Sa]. Phụ âm vùng Thái Bình, Nam Định có cấu âm rung
lưỡi rất rõ.
Mặc dù thiếu các phụ âm đầu ghi trong chính tả nêu trên nhưng phương ngữ
Bắc lại có đầy đủ các âm cuối ghi trong chính tả. Đó là:
Nh-ch đứng sau nguyên âm dòng trước [i, ê, e]: chân chính, mít tinh, chim
chích, tênh tếch, yêu thích,…
Ng- k đứng sau nguyên âm dòng giữa [ư, ơ, a, ă, â]: ngưng, tưng tức, tầng, tang …
Ng
m
- kp đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi [u, ô, o]: long lóc, mốc, khóc, …
II.2.2. Phương ngữ Bắc mất đi dãy phụ âm tiền ngạc C, Z, S, phụ âm R,
phụ âm ngạc, nổ, vô thanh, hữu thanh Ch
Ở đa số phương ngữ Bắc hiện nay, mà tiêu biểu là phương ngữ Hà Nội đã
mất đi dãy phụ âm tiền ngạc C, Z, S và phụ âm rung r. Ngoài ra phụ âm ngạc, nổ, vô
thanh, hữu thanh Ch được phát âm như một phụ âm tắc- xát đầu lưỡi- răng ts ở thế

Chính tả đã ghi nhận những kết quả biến đổi này, mà không còn ghi là bl, tl,
ml nữa.
Sự biến động ngữ âm trên có thể là kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ mới
nhất (thế kỉ XVIII) giữa tiếng ta và tiếng Hán vùng Hoa Nam, do những đợt sóng di
cư ồ ạt của người Hoa sang Việt Nam dưới triều Mãn Thanh bằng cả đường thủy và
8
đường bộ. Phần lớn những người này quê ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phú
Kiến, Vân Nam. Phương ngữ Hán miền này không có các phụ âm ngạc và tiền
ngạc,và cũng không có phụ âm rung r.Hàng loạt những thổ ngữ tiếng Tày- Thái
phía Bắc nước ta, có lẽ do ảnh hưởng đó cũng đang mất đi những phụ âm trên (ch
thành ts, s;j thành z; r thành h, l…). Trái lại trong những ngôn ngữ các dân tộc ít
người ở phía nam Trường Sơn và Tây Nguyên, trong tiếng Chăm và tiếng Khơme
đều có các âm ngạc ch, j và nhất là phụ âm r xuất hiện với tầng số cao.
II.2.3. Hiện tượng lẫn lộn: l/n
Hiện tượng lẫn lộn l/n là một nét mới của phương ngữ Hà Nội và xung quanh.
Ví dụ:
Lẫn lộn = nẫn nộn
Lòng lợn = nòng nợn
Nôn nóng = lôn lóng
Làm ăn = nàm ăn
Cơm nếp = cơm lếp…
Có người không biết ngôn ngữ học, cho đó là nói nghịu, nhưng đích thực là
hiện tượng phương ngữ. Trong tiếng Tày- Nùng cũng có sự lẫn lộn l/n ở một số thổ
ngữvùng đông- bắc nước ta, còn trong tiếng Thái vùng tây- bắc thì lộn l/đ. Ở nhiều
phương ngữ Hán miền tây- nam Trung Quốc cũng có hiện tượng lẫn lộn l/n và l/đ.
Hiện tượng này lan ra như một làn song ngữ âm theo hướng tây bắc- đông nam.
Riêng phụ âm cuối –n biến thành –j, trở thành âm tiết mở hoặc mất –n.
Ví dụ:
Cay cấn/ cày cấy, cái vắn/ cái váy, cái chủn/ cái chủi.
Chỉn/ chỉ, kẻn/ ghẻ, nhén/ nhẹ, bín/ bí, rui mèn/ rui mè.

Âm đệm [-w] trong âm tiết vắng phụ âm đầu:
Ta còn bắt gặp -w- trong âm tiết vắng phụ âm đầu, ví dụ: oan, uyên, uỳnh
uỵch. Những từ này thường được bắt đầu với âm tắc họng: [qwan, qwiên], [qwình
qwịch].Trong trường hợp này càng nêu bật tính chất độc lập của âm đệm [-w-]. Nó
không đóng vai một phụ âm đầu, bởi vì người ta có thể them trước nó một phụ âm.
Nó cũng không đóng vai nguyên âm, bởi vì sau nó phải có nguyên âm.
II.3.2.Âm đệm trong kết hợp với nguyên âm sau nó
Âm đệm [-w] không kết hợp với mọi phụ âm đầu. Cũng vậy, nó không kết
hợp tự do với mọi nguyên âm. Do xu hướng dị hóa, tức là do yêu cầu đối lập nên
các âm đồng tính không kết hợp được với nhau, vì là âm môi nên âm đệm [-w-]
10
không đứng trước những nguyên âm tròn môi. Nó không kết hợp với các nguyên
âm đơn [u, ô, o] và [uô] trong các phương ngữ đều không kết hợp với bán
nguyênâm cuối [-w]. Ta không thể có những vần uw, ôw, ow, uôw như ở các ngôn
ngữ khác.
Trong phương ngữ Bắc có lẽ xu hướng dị hóa mạnh, nên âm đệm [-w-] cũng
không kết hợp với nguyên âm [ư] và [ươ], cũng như [ư] và [ươ] không kết hợp với
âm cuối [-w-]. Vần ưu phát âm thành [iw] và ươu phát âm thành [iêw].
Ngoài những nguyên âm kể trên, âm đệm [-w-] kết hợp được với tất cả các
nguyên âm khác.
Ví dụ:
uy quyền [qwi kwiền]
hoa hòe [hwa hwè]
thuở xuân xanh [thwở swân senh]
Ta có sơ đồ kết hợp âm đệm w với nguyên âm ở phương ngữ Bắc
-i ư u
iê- ươ uô
ê - ơ â ô
e - a ă o
W+

nguyên âm dòng sau tròn môi thì chúng thành những phụ âm môi mạc [-ng
m
, -k
m
].
Chúng chỉ giữ được diện mạo chân thực của mình khi kết hợp với những nguyên
âm dòng giữa: [-ng, -k].
Chính vì vậy, nếu như ở trên ta có thể khảo sát tách riêng từng phần làm âm
đệm và phụ âm đầu, thì ta không thể làm thế ở phần vần; trái lại, ta phải xét các vần
như một tổng thể để rồi tách ra nguyên âm và âm cuối trong từng trường hợp một.
II.4.1. Chỉ phương ngữ Bắc mới có đầy đủ các vần với các phụ âm cuối.
Hầu hết các nguyên âm đều kết hợp được với 2 cặp phụ âm [-m, -p], [-n, -t]
và vần giữ gần như nguyên vẹn các tính chất ngữ âm.
12
Ví dụ:
um tùm [u:m tù:m]
cơm nếp [kơm nế:p]
ton hót [to:n hó:t]
ăn tết [ăn tế:t]
Phương ngữ Bắc không có các vần [-ưw] và [-ươw] như các phương ngữ
khác.
Ví dụ:
cứu giúp = kíu giúp
âm mưu = âm miu
về hưu = về hiu
con hươu = con hiu
uống rượu = uống riệu
II.4.2.Phương ngữ Bắc có đặc điểm về hai bán nguyên âm [-j -w]
Hai bán nguyên âm này kết hợp với nguyên âm theo một khuynh hướng nhất
quán trong tiếng Việt là những âm vị có cấu âm tương tự không kết hợp được với

], [-ong
m
–ok
p
].
Ba cặp phụ âm trên không kết hợp được với tất cả nguyên âm, mà đắp đổi, bổ
sung cho nhau mới làm được việc này, cho nên gọi là phân bố bổ túc.
II.4.4.Cả 3 nguyên âm đôi iê, ươ, uô đều kết hợp với [-ng –k] vì yếu tố thứ
hai là âm trung hòa gắn với nguyên âm dòng giữa. Ngoài ra trong một số từ tượng
thanh (như kêu eng éc, long coong, leng keng, boong boong,…) và những từ vay
mượn (như rơ –móoc, quần soóc, nồi soong, bù long, xe goòng, boong tàu,…) có
kết hợp nguyên âm [e] (dòng trước, mở) và nguyên âm [o] (dòng sau, mở) với [-ng
–k]. Nếu xem trường hợp này như một ngoại lệ (dư của cách phát âm cổ để đọc
những từ ngoại lai) thì ta có bảng vần của phương ngữ Bắc như sau:
Âm cuối
Nguyên âm
1
-m
2
-n
3
-
nh
4
-
ng
5
-ng
m
6

iêw
-
i:w
-
ê:w
-
e:w
ư
ơ
-
ươu
-ươn
-ưn
-
ương
-
ươj
14
Giữa
ư
ơ
â
a
ă
-
ơm
-
âm
-
am

Sau
u
ô
u
ô
o
-
uôm
-
u:m
-
ô:m
-
o:m
-uôn
-u:n
-ô:n
-on
-
uông
-
ung
m
-
ông
m
-
ong
m
-

tiếng nói của những người nơi đây, họ thích mềm mỏng nhẹ nhàng và thanh lịch.
Do đó phương ngữ Bắc, cụ thể là về mặt ngữ âm đã có nhiều sự biến đổi để phù hợp
với tính cách, thói quen biểu đạt biểu thị tình cảm của chính mình.
III. TỪ VỰNG- NGỮ NGHĨA
Sự khác nhau về từ vựng- ngữ nghĩa giữa các phương ngữ xuất phát từ hai
lĩnh vực:
Thứ nhất là do bản thân sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng Việt mà có.
Vì đây là sự phát triển nội bộ của tiếng Việt, của những quy luật ngữ âm lịch sử có
tính chất đều đặn và nhất loạt, cho nên những từ khác nhau chẳng qua là do biểu
hiện của bản chất: những quy luật ngữ âm lịch sử. Những từ này bao gồm tất cả mọi
lĩnh vực, không trừ một lĩnh vực nào: gia đình, xã hội, thiên nhiên, văn hóa,…Sự
khác nhau này biểu hiện ở mọi từ loại, bao gồm cả danh từ, động từ, tính từ, hư từ.
Từ đây dẫn đến sự khác nhau về phụ âm đầu, nguyên âm hoặc âm cuối.
Thứ hai, do những từ khác nhau xuất phát từ những nguồn gốc khác nhau. Do
sự tiếp xúc ngôn ngữ từng nơi, từng lúc khác nhau mà mỗi miền có một từ khác
nhau. Điều này dẫn đến hiện tượng từ đồng nghĩa: bông – hoa, thuyền- nốôc, quả-
trái,…
III.1.Lớp từ đặc phương ngữ ít
Từ đặc phương ngữ là một nét biểu hiện khá cụ thể, riêng biệt và sinh động
của mổi vùng phương ngữ. Đó là những từ chỉ có ở một phương ngữ, nó không
mang tính phổ biến nên không có từ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân.
Trong phương ngữ Bắc thì lớp từ này rất ít, việc tìm ra chúng không hề đơn
16
giản, số lượng của chúng vô cùng khiêm tốn. Ta có thể thấy một số từ như: sấu,
quan họ, áo tứ thân,…trong khi đó lớp từ đặc phương ngữ ở phương ngữ Nam lại
vô cùng phong phú: chôm chôm, điêng điểng, lục bình, …
Sở dĩ như vậy là do các nguyên nhân sau:
- Lịch sử hình thành: phương ngữ Bắc hình thành sớm nhất và có mối quan hệ
mật thiết với ngôn ngữ toàn dân. Đây là phương ngữ được lựa chọn xây dựng ngôn
ngữ toàn dân. Vì vậy vốn từ của nó gần như thống nhất với ngôn ngữ toàn dân, trừ

khác nhau. Từ “bông” vốn là từ thuần Việt, còn từ “hoa” lại là từ Hán Việt. Sự xâm
nhập của từ “hoa” khiến cho từ “bông” bị nhược hóa về nghĩa. Nhưng từ “bông”
vẫn không mất đi, nó vẫn được sử dụng, có lúc nó bị đẩy sang vị trí phụ trở thành
lọại từ “bông hoa”. Điều này cho thấy sự cạnh tranh giữa vốn từ ngoại lai và từ bản
địa rất mạnh mẽ. Ngoài ra, ta có thể xét các ví dụ khác như sau:thuyền/ nôốc; cổ
/xưa; bản/ gốc; vô/ không; ái/ yêu;…
Những yếu tố gốc Hán còn tạo nên sự xê dịch về nghĩa, có thể đi xa đến nỗi ta
có những đồng âm khác nghĩa ở trong hai phương ngữ Bắc và Trung, Nam.
Ví dụ 1:
rèm (Hán Việt): Phương ngữ Bắc tương ứng với màn ở phương ngữ Trung và
phương ngữ Nam (gốc Thái)
Màn ở phương ngữ Bắc tương ứng với mùng ở phương ngữ Trung và
phương ngữ Nam(gốc Khmer).
Có nghĩa từ rèm xuất hiện làm thay dổi nghĩa của từ màn và mùng, kết quả
màn ở phương ngữ Bắc đồng nghĩa với mùng ở phương ngữ Nam, mùng bị đẩy ra
khỏi cách nói năng của người miền Bắc, trong khi màn ở phương ngữ Bắc chỉ vật
bằng vải thưa để tránh muỗi,đồng âm với màn ở phương ngữ Nam, phương ngữ
Trung chỉ tấm vải che cửa
Ví dụ 2:
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Trung, phương ngữ Nam
Thạch sùng = thằn lằn: loài bò sát có chân sống trên trần nhà
Thằn lằn = rắn mối: loài bò sát có chân sống trong bụi bờ
Rèm = màn: tấm vải che gió
Màn = mùng: tấm vải thưa vây quanh giường che
muỗi…
Việc tiếp thu các yếu tố gốc Hán làm cho vốn từ vựng phương ngữ Bắc thêm
18
phong phú.
Từ đồng âm, đồng nghĩa còn xảy ra do quá trình biến đổi phụ âm và ngữ
điệu. Trong quá trình phát triển thì bản thân sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng

• hỏi/ngã: bở/ vỡ, phổ/ vỗ, khở/gỡ, khải/gãi,…
Các tổ hợp phụ âm đầu bl, tl, ml được ghi trong từ điển Việt- Bồ- La (1651)
của A.de Rhodes đã biến mất và cũng để dấu vết lại ở những từ cặn trong phương
ngữ Trung:
Lôông cơn/ trồng cây, lúa lổ/ lúa trổ,…
Ruồi lằng/ nhặng, quả lót/ quả nhót, nói lịu/ nói nhịu, hoa lài/ hoa nhài,…
Những từ có phụ âm đầu khác với ngôn ngữ văn học có thể tìm thấy trong
phương ngữ Bắc nhưng không nhiều hiện tượng như ở phương ngữ Trung.
Dăn leo/ nhăn nheo, duộm/ nhuộm, dức đầu/ nhức đầu, con dộng/ con nhộng,

- Những từ khác nguyên âm được thể hiện trong quá trình biến đổi từ nguyên
âm đơn sang nguyên âm đôi theo hai khuynh hướng: nguyên âm đôi mở dần và
nguyên âm đôi khép dần.
+ Nguyên âm đôi mở dần trong phương ngữ Bắc và phương ngữ
Nam:e/iê, a/ươ, o/uo:
méng/miếng, mẹng/miệng
lả/ lửa, nác/ nước, mạn/mượn, lái/lưới, náng/nướng,…
ló/lúa, nót/nuốt, lòn/luồn, mói/muối,
roọng/ruộng,…
+ Nguyên âm đôi khép dần trong các phương ngữ khác:i/iê, u/ôu
con chí/con chấy, ni/nầy, mi/mày, vi cá/ vây cá,…
nu/nâu, bu/bâu, tru/trâu, cụ/cậu, su/sâu,…
+ Ngoài ra còn có sự đối ứng giữa nguyên âm khép hơn ở phương ngữ
Trung, phương ngữ Nam với nguyên âm mở hơn ở phương ngữ Bắc: u/ô, ư/â.
20
Phương ngữ Bắc nguyên âm mở hơn
Phương ngữ Trung-Nam
nguyên âm khép hơn
chổi
tối

bổ
đùi
chò hõ
ăn phúng
nốôc
đèn sáp
trấy ban
cá tràu
trái gai
trái mận
chén

lục
chồm hỗm
ăn chùng
ghe
bạch lạp
trái banh
cá lóc
III.3.Vốn từ vựng phong phú, biểu thị các nét nghĩa chính xác, tinh tế
Nếu từ vựng càng phong phú hay từ vựng thay đổi sẽ dẫn đến sự phân bố lại
nghĩa thì nghĩa của từ càng tinh vi, chính xác. Phương ngữ Bắc có một vốn từ
phong phú không chỉ về số lượng mà cả chất lượng, có khả năng biểu thị các nét
nghĩa một cách chính xác, phù hợp với hoàn cảnh hơn hai vùng phương ngữ còn lại.
Là vùng phương ngữ hình thành và phát triển sớm nên vốn từ vựng của phương ngữ
Bắc phong phú hơn các phương ngữ khác, không chỉ về số lượng mà cả chất lượng.
21
Đối với phương ngữ Trung và phương ngữ Nam một từ chỉ biểu thị một nét nghĩa,
một tính chất, một trạng thái cảm xúc thì phương ngữ Bắc lại có một loạt từ với các
sắc thái biểu cảm, tùy trường hợp mà người sử dụng lựa chọn. Do đó mức độ thể

Nguyên nhân của hiện tượng trên có thể được giải thích như sau:
- Được thừa hưởng truyền thống văn học viết,ít nhất từ thế kỉ XIII bằng chữ
Nôm. Nói cách khác ngôn ngữ văn học Việt Nam được xây dựng trên nền tảng
phương ngữ Bắc.
- Phương ngữ bắc được hình thành sớm.
22
- Do đặc trưng văn hóa, tính cách con người của vùng miền.
- Điều kiện tự nhiên: Miền Bắc không mang đặc thù sông nước như miền Nam
nhưng ngược lại điều kiện tự nhiên lại đầy đủ các dạng địa hình, đủ 4 mùa xuân,
hạ ,thu, đông. Dẫn đến vốn từ vựng cần phải phong phú để diễn đạt hết những gì
con người muốn nói.
IV. ĐẶC TRƯNG VỀ NGỮ PHÁP
Bên cạnh những nét khác biệt về ngữ âm và từ vựng thì còn một đặc trưng nữa
đó là ngữ pháp. Cấu trúc ngữ pháp hầu như thống nhất giữa ngôn ngữ toàn dân và
các phương ngữ. Sự khác biệt giữa các phương ngữ cũng như nét đặc trưng riêng
biệt của mỗi phương ngữ trên phương diện ngữ pháp chủ yếu được thể hiện ở hệ
thống đại từ, hiện tượng đại từ hóa danh từ, những từ phái sinh hay ngữ khí. Xét
trên những yếu tố đó, có thể nhận thấy một số đặc trưng của phương ngữ Bắc về
ngữ pháp.
IV.1. Tính chuẩn mực cao, trang trọng, lịch sự
Tính chuẩn mực trang trọng và lịch sự thể hiện rõ trong hệ thống đại từ, thống
nhất với ngôn ngữ toàn dân. Hệ thống đại từ mang sắc thái trung hòa, không quá
thân thiện cũng không quá suồng sã, giữ được một phép lịch sự tối thiểu khi dùng,
phù hợp với tính cách con người miền Bắc.
- Hệ thống đại từ chỉ định và nghi vấn: Này, thế này, ấy, thế (ấy), kia, kìa,
đâu, nào, sao, thế nào, gì
- Hệ thống đại từ xưng hô:Tôi, tao, chúng ta, chúng tôi, mày, chúng mày, nó
chúng nó, ông ấy, bà ấy, cô ấy, anh ấy, chị ấy.
Nếu so sánh hệ thống đại từ này với hai phương ngữ còn lại ta sẽ thấy hai
phương ngữ còn lại cũng có hệ thống từ này nhưng nó mang một sắc thái nghĩa

+ Phương ngữ Bắc chỉ có từ “nhiều” là có từ phái sinh: bao nhiêu,
bấy nhiêu.
+ Từ “ từ rày” ở phương ngữ Bắc có nghĩa là “ từ nay trở đi” thì ở
phương ngữ Nam nói “hổm rày” có nghĩa “từ hôm ấy đến nay”
+ Bên cạnh từ “không”, từ “chẳng” thì ở phương ngữ Bắc còn có từ
“chả có” để nhấn mạnh ý phủ định.
24
• Về ngữ khí:
Ngữ khí từ phụ họa với ngữ điệu tạo ra sắc thái từ địa phương rõ nét. Cũng nói
với cấu trúc ngữ pháp và từ vựng, chỉ cần thay đổi ngữ khí và giọng điệu là có thể
nhận ra vùng phương ngữ. Ngữ khí từ của phương ngữ Bắc nhẹ nhàng, lịch sư
̣,mang màu sắc trung hòa, không quá mạnh cũng không quá nhẹ, tạo nên ngữ điệu
thanh thoát, nhẹ nhàng.
Ví dụ: So sánh cách nói ngữ khí của phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam sẽ
dễ nhận ra cách dùng ngữ khí trong phương ngữ Bắc.
Phương ngữ Bắc Phương ngữ Nam
Ở đây vui quá nhỉ!
Cho cháu ông nhé!
Thôi, tôi về nhé!
Thế, anh tưởng tôi không biết sao?
Người ta cũng làm được chứ lị.
Nó đi từ sáng sớm kia đấy.
Cả ngày nó chỉ đi chơi thôi.
Anh không biết à?
Chuyện gì đây nào?
Cho cháu ông nhé!
Thôi, tôi về nhé!
Nó đi từ sáng sớm kia đấy.
Em không muốn ăn.
Ở đây vui quá hén!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status