SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN VĂN
Đề tài:
TÌNH HUỐNG TRUYỆN TRONG TÁC PHẨM
" CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA"
Người thực hiện : Nguyễn Thị Bích Dậu
Trường : THPT Chuyên Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2012
2
MỤC LỤC
3
A. MỞ ĐẦU
I.Tính cấp thiết của đề tài
Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu
mới được đưa vào giảng dạy ở chương trình ngữ văn lớp 12. Đây là một trong
những tác phẩm mới tiêu biểu cho các sáng tác văn học sau 1975. Đồng thời,
nó cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương của Nguyễn Minh
Châu sau thời kì kháng chiến chống Mĩ. Vì vậy, việc dạy học tác phẩm này
trong nhà trường như thế nào còn gặp rất nhiều khó khăn. Bởi lẽ, đây là một
tác phẩm rất hay và khó tiếp cận đối với cả người dạy và người học. Nó hay
vì nó chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa sâu xa, gợi ra nhiều cách hiểu cho người
đọc. Nó khó bởi đòi hỏi học sinh khi tiếp cận phải có một vốn sống, vốn kinh
nghiệm dày dạn và sự từng trải trong cuộc đời mới có thể hiểu hết ý nghĩa của
tác phẩm. Mà ngày nay, số học sinh yêu thích môn văn không còn nhiều mà
những tâm hồn say mê văn chương thì lại càng ít. Vì vậy, việc giảng dạy một
tác phẩm văn học hay và mới như “ Chiếc thuyền ngoài xa” trong trường phổ
thông không phải là dễ. Nhất là lứa tuổi học trò còn nhiều mơ mộng mà kimh
nghiệm sống còn ít. Do vậy, tôi tiến hành đề tài này để khai thác tình huống
truyện để cùng trao đổi với đồnh nghiệp về cách tiếp cận tác phẩm sao cho
thức hàn lâm mà ngược lại, đó là sự nhận thức chân thật, hồn nhiên của học
sinh về giá trị của tác phẩm. Mặt khác, nó giúp cho mỗi giáo viên giảng dạy
sẽ thấy được ý nghĩa quan trọng của vấn đề khai thác tình huống truyện đối
với các tác phẩm tự sự. Thực hiện đề tài này, tôi mong muốn được bồi dưỡng
cho những tâm hồn yêu văn chương luôn có một quan niệm đúng đắn về sự
sáng tạo trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học.
V. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
thông thường như phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại.
2
VI. Nội dung, quy mô của đề tài
Đề tài nghiên cứu về một phương diện nghệ thuật của tác phẩm đó là
tình huống truyện mà không phải là khai thác tất cả những nét đặc sắc nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm. Vì vậy, tôi chủ yếu khai thác ý nghĩa của
tình huống truyện để thấy được giá trị nội dung, tư tưởng của văn bản nhằm
mục đích phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy. Nếu có điều kiện tìm hiểu
sâu hơn nữa thì đề tài này tiếp tục được khai thác trong mối liên hệ với nhiều
tác phẩm khác của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
VII. Bố cục của đề tài
Đề tài gồm ba phần:
A. Mở đầu
B. Nội dung
C. Kết luận3
B. NỘI DUNG
I. Cách xác định tình huống truyện
1. Khái niệm tình huống truyện
Nếu như ở tác phẩm trữ tình, cảm xúc của nhân vật trữ tình là sự thăng
và che lấp nhưng không bao giờ tiêu tan. Sự chuyển hóa ấy làm nên sự hoàn
thiện nhân cách cho con người. Chỉ cần có một chiếc đũa thần nhiệm màu
đánh thức thì cái thiện sẽ hiện nguyên hình của nó. Khi đặt nhân vật vào tình
huống trớ trêu, ta thấy nhân vật của Nam Cao thường phải vật lộn, giãy giụa,
quằn quại lựa chọn giữa một bên là sự sinh tồn và một bên là sự sống đích
thực có ý nghĩa. Và Chí Phèo đã rơi vào một tình huống đầy bi kịch: hắn bị cự
tuyệt quyền làm người khi Thị Nở từ chối tình yêu. Điều đó nghĩa là hy vọng
vừa cháy lên trong Chí Phèo đã bị dập tắt. Chí Phèo rơi vào bế tắc, Thị Nở từ
chối đưa hắn trở về với xã hội bằng phẳng của những người lương thiện, đồng
nghĩa với việc hắn rơi vào cùng đường tuyệt lộ. Hắn xách dao đến nhà Bá
Kiến để đòi quyền sống: “Ai cho tao lương thiện? ”. Trước đây, để tồn tại,
Chí đã phải bán linh hồn cho quỷ, nay linh hồn trở về, hắn buộc phải tự kết
liễu đời mình để không phải sống cuộc đời tha hóa vô nghĩa. Bi kịch bị cự
tuyệt quyền làm người của Chí Phèo khiến chúng ta nhức nhối tâm can, khiến
ta phải suy nghĩ về nhân tình thế thái trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
Không chỉ riêng Nam Cao mới có biệt tài xây dựng tình huống truyện
mà Kim Lân cũng là nhà văn luôn có ý thức sáng tạo những tình huống truyện
độc đáo, mới lạ và hấp dẫn. Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt”, người đọc ấn tượng
ngay với tình huống Tràng nhặt được vợ giữa những ngày đói khát đang đe
dọa, bủa vây, bám riết lấy con người, khi mà sự sống và cái chết chỉ mong
manh như sợi tóc. Sự kiện Tràng lấy vợ không chỉ gây tò mò cho người dân
xóm ngụ cư, cho mẹ Tràng - bà cụ Tứ mà còn gây ngạc nhiên cho chính bản
5
thân Tràng. Từ khi có vợ, Tràng có những thay đổi về mặt tâm lí, nhận thức.
Mặt hắn có vẻ gì phởn phơ khác thường “một nguồn vui sướng phấn chấn đột
ngột tràn ngập trong lòng”. Trước đây, Tràng chỉ sống tạm bợ cho qua ngày,
giờ hắn thấy hắn có trách nhiệm với gia đình “bỗng nhiên hắn thấy hắn
thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Bây giờ hắn mới thấy hắn
nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.
Như vậy, qua tình huống truyện độc đáo, Kim Lân muốn gửi gắm tới
tinh tế, là trạng thái cảm xúc mơ hồ của nhân vật trước cuộc sống. Tình huống
này ta có thể hiểu rõ hơn trong các tác phẩm “Hai đứa trẻ”, “Dưới bóng hoàng
lan”, “Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam, “Tỏa nhị Kiều” của Xuân Diệu, “
Tôi đi học” của Thanh Tịnh
Không giống với hai kiểu tình huống truyện trên, tình huống nhận thức
chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Nhà văn đặt nhân
vật vào một tình huống đầy bất ngờ, nghịch lí để từ đó hiểu ra, vỡ lẽ ra và
nhận thức được những vấn đề mà trước đó họ chưa hiểu, chưa biết hoặc hiểu
sai, hiểu chưa đầy đủ về con người, cuộc sống. Kiểu tình huống này ta rất hay
gặp trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh Châu, điển hình là các
truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Bến quê”, và “Bức tranh”.
II. Tình huống tự nhận thức trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
1.Xác định tình huống truyện
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” xoay quanh tình huống về nhân
vật Phùng - một nghệ sĩ nhiếp ảnh – người đang đi săn tìm cái đẹp của cuộc
sống để đem lại những bức ảnh đẹp cho vào bộ lịch nghệ thuật về thuyền và
biển. Nhân chuyến thăm người bạn chiến đấu năm xưa tên Đẩu - giờ là chánh
án tòa án huyện, Phùng sau bao đắn đo đã quyết định chụp cảnh đoàn thuyền
đánh cá vào lúc bình minh. Cảnh ấy thật lung linh, huyền ảo, thơ mộng với
“một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một vẻ đẹp của “đạo đức, chân lí của
7
sự toàn thiện”. Phùng cảm thấy sung sướng vô cùng khi anh “khám phá thấy
cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nhưng chính lúc anh đang tràn
ngập niềm vui, hạnh phúc do “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang
lại” thì anh bất giác nhìn thấy chiếc thuyền của người đàn bà hàng chài ngay
trước mặt. Tệ hại hơn, anh còn được chứng kiến cảnh lão đàn ông dùng chiếc
thắt lưng quật tới tấp vào lưng vợ. Và rồi anh cùng với người bạn của mình
tìm hiểu về cuộc sống của gia đình người đàn bà hàng chài. Cuối cùng anh
cũng ngộ ra mối quan hệ giữa cuộc đời thật và nghệ thuật thật không đơn
giản. Đằng sau bức ảnh con thuyền chìm trong bầu sương mù trắng như sữa
Châu đã từng quan niệm: “Người viết văn là một người rất nặng nợ với đời”
( Trang giấy trước đèn ). Bởi trong thâm tâm, ông luôn quan niệm tình yêu ở
người nghệ sĩ “vừa là một niềm hân hoan, say mê, vừa là một nỗi đau đớn,
khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những
người xung quanh mình” ( Ngày xuân phỏng vấn các nhà văn, Báo văn
nghệ ). Ông luôn có ý thức rõ về vai trò của mình khi cho rằng cuộc đời nhà
văn “là một cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống
thực tế, không bao giờ ngừng nghiên cứu và quan sát xã hội, và trong khi
chăm chú đọc cái cuốn sách khổng lồ đó, anh ta phải đặt hết tâm hồn và trí tuệ
của mình vào, phải tỏ rõ chính kiến và lập trường của mình trước mỗi sự việc,
mỗi hoàn cảnh, mỗi một con người” ( Trang giấy trước đèn ).
Tình huống tự nhận thức cũng phản ánh rõ nét đặc điểm phong cách
nghệ thuật Nguyễn Minh Châu. Đó là một lối văn thâm trầm, giản dị, đôn hậu
mà sâu sắc, thấm thía, nhiều dư vị, lắng đọng chiêm nghiệm sâu xa về lẽ đời
để kết tụ thành những triết lí nhân sinh sâu sắc.
Vậy từ những tình huống tự nhận thức ấy, người nghệ sĩ văn chương và
độc giả rút ra những bài học nhận thức gì cho mình ?.
9
2. Ý nghĩa của tình huống tự nhận thức trong “Chiếc thuyền ngoài xa”
2.1. Nhận thức về con người và cuộc sống
Có lẽ, những người nghiên cứu văn học muôn đời luôn thấm thía một
câu nói của đại văn hào Nga, Mácxim Gorki “Văn học là nhân học”. Quả
thực, con người là chủ thể của vũ trụ và là tổng hòa các mối quan hệ xã hội.
Chỉ nhắc đến hai tiếng Con Người, lòng ta đã tràn đầy niềm tự hào, hứng
khởi, hạnh phúc: “Con Người, hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh và hùng tráng
xiết bao”. Bởi vậy, bất kì tác phẩm văn học chân chính nào cũng có những
nhận thức, khám phá mới mẻ về cuộc sống của con người. Cao quý hơn, nó
còn là tiếng nói tôn vinh những giá trị tốt đẹp của con người. Hơn ai hết,
Nguyễn Minh Châu ý thức rất rõ về thiên chức của người nghệ sĩ trong việc
phát hiện ra những bí mật ẩn chứa trong tâm hồn con người, đó là những “hạt
trải với đời, Nguyễn Minh Châu giống như con tằm bấy lâu nay chắt chiu, cần
mẫn để nhả cho đời những sợi tơ văn chương óng vàng. Với cái nhìn tin
tưởng và hy vọng vào con người: “Mỗi con người đều chứa đựng trong lòng
những nét đẹp đẽ, kỳ diệu đến nỗi cả một đời cũng chưa đủ để nhận thức,
khám phá tất cả những cái đó” nên sáng tác của ông thường đi vào việc phân
tích bề sâu tâm hồn con người để phát hiện nhiều vẻ đẹp bị khuất lấp. Phải
chăng, vì thế mỗi sáng tác của ông đều làm gợn lên những gợn sóng lăn tăn
băn khoăn, suy tư trên mặt nước tâm hồn người đọc ? Đọc “Chiếc thuyền
ngoài xa” có biết bao suy nghĩ đang ngủ quên trong khối óc bình yên của con
người được đánh thức. Đó là suy nghĩ về cuộc sống của những kiếp người lao
động nghèo khổ ở miền biển sống bằng nghề chài lưới lênh đênh trên mặt
nước, về số phận của người phụ nữ trước cái đói nghèo, là tình trạng bạo lực
vũ phu, về sự tha hóa của nhân tính, về tương lai của những đứa trẻ thơ, về
chuyện cơm áo để tồn tại mưu sinh, về những hạnh phúc và niềm ao ước giản
đơn của con người mà cũng không có được
11
Trước hết, nhà văn đã tái hiện bức tranh sinh động về cuộc sống của
người đàn bà hàng chài qua lời tâm sự của mụ khi đối thoại với Đẩu. Đó là
cuộc sống vô cùng “lam lũ và khó nhọc”. Nỗi nhọc nhằn vì cuộc sống mưu
sinh ấy hằn in trên dáng vẻ thô kệch và khuôn mặt của người đàn bà miền
biển: “Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái
ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Chua xót thay, từng lời tâm sự của chị
như đang trút ra những gánh nặng của cuộc sống đang hàng ngày đè nặng trên
đôi vai gầy guộc. “Cái nhìn suốt cả đời mình” khi nói chuyện với Đẩu dường
như là một nỗi lo âu cứ đeo bám, xuyên thấu cả một quãng đời nghèo khổ của
chị. Chị nói ra những điều tưởng như rất đơn giản nhưng chẳng biết bao giờ
chị mới có được nó: “Giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một chiếc
thuyền rộng hơn”. Với người dân hàng chài thì cái chuyện sinh sống, ăn ở của
họ đều được phó thác cho biển cả. Đẩu hỏi người đàn bà sao không lên bờ mà
ở thì chị trả lời rất có lí: “Làm nhà trên đất ở một chỗ thì đâu có thể làm được
cam chịu như Từ ( Đời thừa), Nhu ( Ở hiền ) , là mẹ Lê tuy nghèo khổ
nhưng yêu thương con hết mực trong “Nhà mẹ Lê” ( Thạch Lam ) hay đó là
cô Đào vừa bất hạnh nhưng rất giàu nghị lực và sắc sảo trong “ Mùa lạc”, một
cô Mị vừa hiền lành, cam chịu nhưng cũng táo bạo, dũng cảm khi dám đấu
tranh để tự giải phóng cho mình trong “Vợ chồng A Phủ” ( Tô Hoài ) Rồi
sau này, khi đất nước có giặc ngoại xâm, biết bao người phụ nữ đã trở thành
những người anh hùng mà vẫn “trung hậu, đảm đang” như chị Út Tịch
( Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi ), là Mai, Dít - những cô gái của núi rừng
Tây Nguyên quả cảm trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, là Chiến
- người con gái Nam Bộ vừa nữ tính vừa mạnh mẽ, quyết đoán, tháo vát, đảm
đang trong “ Những đứa con trong gia đình” - Nguyễn Thi ) Và người phụ
nữ bước vào trang văn của Nguyễn Minh Châu cũng không phải là ít như Quỳ
trong “ Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, người vợ đảm đang của nhân
vật Nhĩ trong “Bến quê”, là Nguyệt trong “Mảnh trăng cuối rừng” Làm một
13
phép quy nạp, ta thấy hầu hết người phụ nữ trong văn thơ đều đẹp từ hình
thức đến phẩm chất, tâm hồn. Bởi họ chính là những loài hoa tinh túy của trời
đất, tạo hóa ban cho họ vẻ đẹp tự nhiên, dịu dàng cũng như thiên chức của họ
là những người mẹ hiền từ, người chị đảm đang, người đàn bà đôn hậu, giàu
yêu thương. Vì vậy, người phụ nữ xứng đáng được tôn vinh, ngợi ca, trân
trọng hơn bao giờ hết. Còn người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài
xa” của Nguyễn Minh Châu thì sao ? Nếu như những người phụ nữ khác
thường chỉ lướt qua trong lòng người đọc thì người đàn bà hàng chài lại là
một bí ẩn mà càng khám phá, ta càng thấy toát lên vẻ đẹp kì diệu. Người phụ
nữ ấy không đến với người đọc một cách hời hợt, nông cạn bởi vẻ đẹp hình
thức mà đẹp ở bề sâu tâm hồn khiến ta phải vấn vương, suy nghĩ. Với tôi, sức
hấp dẫn của người đàn bà ấy không phải là ở sắc đẹp. Nếu như chúng ta cho
rằng tất cả phụ nữ đều xinh đẹp thì người đàn bà hàng chài là một ngoại lệ.
Về hình thức, mụ rất xấu và thô kệch, lại “rỗ mặt”, khi còn trẻ cũng vì xấu
quá trong phố không ai lấy nên cuối cùng trót mang với anh con trai nhà hàng
kém may mắn và chịu nhiều bất hạnh, khổ nhục. Cuộc sống vốn lam lũ lại
thêm lão chồng vũ phu luôn dùng thắt lưng quật tới tấp vào lưng vợ “ba ngày
một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Nỗi nhọc nhằn hiện hình ngay trong
đôi mắt và trên khuôn mặt của chị “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức
trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Vậy mà, khi Đẩu gọi
đến hỏi chuyện thì mụ đã van xin khẩn thiết “Con lạy quý tòa. Quý tòa bắt tội
con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Lạ lùng thay, bị
đánh đập và hành hạ dã man như vậy mà người đàn bà không muốn bỏ người
chồng vũ phu ấy. Hay ở lâu trong cái khổ, chịu những trận đòn chồng nhiều
nên mụ quen rồi ? Hay đó là mụ bất cần đời, không thiết gì đến sự sống của
mình nữa ? Cũng có thể đó là sự lựa chọn bất đắc dĩ nhưng đã được suy nghĩ
sáng suốt ? Tiếp tục lắng nghe lời tâm sự của mụ, ta sẽ vỡ lẽ ra nhiều điều.
15
Mụ đã nói với Phùng và Đẩu “là bởi vì các chú không phải là người đàn bà,
chưa bao giờ các chú biết thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một
chiếc thuyền không có người đàn ông”. Đến đây, ta còn thấm thía thêm một
nỗi khổ khác của người phụ nữ. Họ là phái yếu, họ cần lắm những bờ vai chở
che, những chỗ dựa tinh thần trong cuộc đời. Họ không thể tự quyết định số
phận hay tương lai của mình. Đâu đó trong ta những câu hát dân gian thưở
xưa vọng về “Thân em như hạt mưa xa. Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”,
“Thân em như tấm lụa đào. Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. Quả thực,
người phụ nữ phận mỏng cánh chuồn sướng hay khổ, hạnh phúc hay bất hạnh
đều do người khác quyết định. Đối với người đàn bà hàng chài, mụ dù khổ
nhưng không thể bỏ chồng dù người chồng ấy có man rợ, tàn bạo. Bởi họ
không thể một mình giữ mái chèo của con thuyền mưu sinh , con thuyền hạnh
phúc giữa mênh mông sóng nước đầy phong ba bão táp. Chị nói với Đẩu
“mong các chú thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần
phải có một người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi
đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người
đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái
ngọn lửa sưởi ấm cho các con.
Đối xử với con thì yêu thương, hy sinh; còn với chồng là lòng vị tha,
bao dung vô bờ bến. Dù bị chồng đánh đập tàn bạo nhưng mụ vẫn nói về
chồng với thái độ bênh vực, bảo vệ. Mụ cho rằng bản chất của chồng mình
không phải là sự cục cằn, thô bạo mà đó là do hoàn cảnh đã làm thay đổi tính
nết. Nguyên nhân chủ yếu là gia đình đông con mà cuộc sống lại nghèo khổ,
chỗ ở chật chội. Mụ nói với Đẩu: “chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục
tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Không những vậy, chị
còn nhận hết lỗi về mình: “cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá,
mà thuyền lại chật” nên mới sinh ra tính vũ phu, tàn bạo của chồng. Rõ ràng,
17
Nguyễn Minh Châu đã phát hiện ra hạt ngọc tâm hồn ẩn giấu sau vẻ bề ngoài
thô kệch, xấu xí của người đàn bà hàng chài. Đó là lòng vị tha, đức hy sinh,
tình mẫu tử ngọt ngào, sâu sắc. Vẻ đẹp khuất lấp ẩn kín trong tâm hồn con
người đâu dễ nhận ra nếu không được tìm hiểu kĩ, như nhà văn Nam Cao đã
từng viết: “Chao ôi ! đối với những người ở chung quanh ta, nếu ta không cố
mà tìm hiểu họ thì ta chỉ thấy họ là những người bần tiện, xấu xa, bỉ ổi. Toàn
những cái cớ để cho ta ghét họ, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng
thương và không bao giờ ta thương”.
Bên cạnh những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam,
người đàn bà hàng chài còn là người phụ nữ sắc sảo, từng trải, hiểu sâu sắc lẽ
đời. Ngay từ đôi mắt đã cho thấy sự từng trải, sắc sảo, một ánh mắt “như đang
nhìn thấu suốt cuộc đời mình”. Trong cách cư xử với Phùng và Đẩu ở tòa án,
chị nói năng bộc lộ sự hiểu biết về cuộc sống. Lí lẽ của người phụ nữ ấy là sự
đúc kết của con người từng trải lẽ đời. Lúc đầu mới đến tòa án, mụ còn có vẻ
sợ sệt, rón rén, ngồi vào mép ghế và cố thu người lại, rồi chắp tay vái lia lịa.
Mụ nhấp nhổm xoay mình trên chiếc ghế như bị kiến đốt. Nhưng sau khi nghe
Đẩu khuyên giải về việc mụ nên bỏ chồng thì người đàn bà mất hết vẻ sợ sệt,
khúm núm thay vào đó là những hành động và ngôn ngữ khác, bất ngờ. Đang
gục xuống, người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào Đẩu và Phùng, từng
điều. Anh là người hiểu rõ luật pháp và thực thi pháp luật nhưng anh lại ít
kiến thức thực tế. Chưa hiểu hết hoàn cảnh của người đàn bà hàng chài, khi
biết mụ bị chồng đánh nên anh nghĩ rằng giải pháp tốt nhất là mụ không nên
tiếp tục chung sống với lão. Nhưng khi nghe lời bộc bạch từ phía người đàn
bà hàng chài thì anh đã hiểu ra nhiều điều “Một cái gì vừa mới vỡ ra trong
đầu vị Bao công của cái phố huyện vùng biển”. Chính anh đã thú nhận với
người đàn bà trong sự đau đớn, chua xót khi phát hiện ra những nghịch lí trớ
trêu của cuộc sống “Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một
19
tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải có một người đàn ông dù hắn
man rợ, tàn bạo ?”. Như vậy, đâu phải lúc nào người ta cũng có thể vận dụng
luật pháp hay những thiết chế cứng nhắc để điều khiển cuộc sống của con
người. Và không phải bất cứ lúc nào ta cũng vận dụng một cách máy móc luật
pháp để giải quyết mọi tình huống trong thực tế cuộc sống. Quan trọng hơn cả
là sự linh hoạt của con người trong cách ứng xử, vận dụng nguyên tắc cứng
nhắc để bảo vệ quyền sống cho con người. Mặt khác, mọi lí thuyết sách vở
nếu không xuất phát từ thực tế thì chỉ trở thành lí thuyết suông, giáo điều và
có thể trở nên tai hại với cuộc sống của con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta dù
là ai trong cuộc đời này, đã sống thì phải có trải nghiệm thực tế để hiểu sâu
sắc hơn mọi lẽ đời.
Bên cạnh đó, xây dựng nhân vật thằng Phác, nhà văn Nguyễn Minh
Châu còn đặt ra những vấn đề lớn lao, có tính thời sự đối với xã hội. Đó là
vấn đề bạo lực gia đình và quyền sống của trẻ thơ. Thằng Phác cũng như bao
trẻ thơ khác, lẽ ra phải được sống trong một gia đình yên ấm, hạnh phúc
nhưng em lại không được hưởng sự may mắn đó. Phác đã từng chứng kiến
cảnh cha đánh mẹ và bản thân nó cũng phải hứng chịu trận đòn từ người cha
chỉ vì thương mẹ, bênh vực cho mẹ mà vô lễ với cha. Theo lời kể của Phùng:
“Bóng một đứa con nít lao qua trước mặt tôi. Tôi vừa kịp nhận ra thằng Phác -
thằng bé trên rừng xuống vừa nằm ngủ với tôi từ lúc nửa đêm. Thằng bé cứ
chạy một mạch, sự giận dữ căng thẳng làm nó lúc chạy qua không nhìn thấy
dành cho mẹ cũng thật xúc động biết bao “Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn
chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang
xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt và cái
thằng nhỏ lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt mẹ, như muốn lau
đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt”. Để giúp tâm
hồn Phác không bị tổn thương và tránh làm những điều dại dột với người cha
21
nên người đàn bà hàng chài đã gửi nó lên ở với ông ngoại. Ở với ông, thằng
bé sướng hơn ở trên thuyền với bố mẹ nhưng cứ rời ra là nó lại trốn về. Và
trong lòng cậu bé vẫn nung nấu một quyết tâm bảo vệ và che chở cho người
mẹ đau khổ của mình “Thằng bé tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền
rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Như vậy, ngay
cả những chuẩn mực đánh giá về đạo đức con người cũng trở nên phức tạp và
không hề đơn giản một chiều. Và hoàn cảnh sống chi phối rất nhiều đến
những cách đánh giá về con người. Ở những lúc tưởng như con người không
đạt đến chuẩn mực nhân cách của phạm trù đạo đức thì lại có tình mẫu tử tỏa
sáng, là cứu cánh cho niềm hy vọng của con người. Tác giả đã có cái nhìn
toàn diện về cuộc sống, cuộc đời thì đa đoan, con người thì đa sự. Ngay trong
gia đình người dân hàng chài cũng tiềm ẩn nhiều nghịch lí: người đàn bà xấu
xí, bất hạnh nhưng lại có một đứa con biết thương mẹ, vì yêu mẹ mà sẵn sàng
và lúc nào cũng sẵn sàng đánh nhau với bố, thủ dao găm để tìm dịp trả thù.
Qua nhân vật thằng Phác, tác giả không chỉ lên án và báo động về tình trạng
bạo lực gia đình mà còn ca ngợi vẻ đẹp của tình mẫu tử thiêng liêng, thấu
hiểu khát vọng được sống trong tình yêu thương và thế giới yên bình của
những mái nhà hạnh phúc mà biết bao em thơ đang chờ đợi. Cuộc sống của
những đứa trẻ bất hạnh như Phác sẽ thế nào nếu hoàn cảnh sống không thay
đổi ? “Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”, “Trẻ
em hôm nay, thế giói ngày mai”, vậy mà hiện nay có biết bao tâm hồn trẻ em
bị tổn thương vì những lỗi lầm của người lớn gây ra ?
Tóm lại, từ cái nhìn nhân đạo, Nguyễn Minh Châu phát hiện ra đằng