tiểu luận Đánh giá nguồn thu ngân sách nhà nước từ các khoản viện trợ trong thời gian qua - Pdf 23


Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất
nước. Đặc biệt, sự phồn thịnh của đất nước là một quá trình xây dựng và phát triển lâu dài của
nền kinh tế - xã hội.Để có những bước phát triển đó, chúng ta cần rất nhiều nguồn lực, đặc biệt
sự huy động nguồn vốn là một yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu trong nền kinh tế . Mặc
dù đã trải qua hơn một thập kỷ đổi mới và đang tiến đến nền kinh tế thị trường nhưng Việt Nam
vẫn được coi là mới bắt đầu bước vào giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá. Bên cạnh việc khơi dậy và phát huy nguồn vốn nội lực, chúng ta cần tranh thủ mọi nguồn
vốn bên ngoài đặc biệt là nguồn viện trợ phát triển chính thức.Nguồn vốn này ngày càng có vai
trò to lớn, quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta hiện nay vì đây không chỉ là nguồn
vốn có nhiều điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn, khối lượng, phương thức thanh toán
thời gian cho vay mà nó còn có ý nghĩa trong việc chuyển giao tri thức, công nghệ thích hợp,
đào tạo nguồn nhân lực, giúp xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống ở các vùng
nông thôn, miền núi, cải thiện môi trường, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Do đó huy động
nguồn thu NSNN từ các khoản viện trợ được xem là một chiến lược đặc biệt quan trọng cho việc
tạo đà phát triển cho nền kinh tế Việt Nam.
Việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn viện trợ phát triển chính thức còn có một ý nghĩa
quan trọng trong điều kiện nguồn viện trợ này có xu hướng ngày một khan hiếm. Do vậy, làm
thế nào để tạo nguồn thu và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn viện trợ trở nên bức thiết
hơn bao giờ hết nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.
Thông qua việc nghiên cứu và đánh giá nguồn thu NSNN từ các khoản viện trợ, đặc biệt là
ODA ở Việt Nam hiện nay để thấy được những bất cập trong quá trình quản lý nguồn vốn này.
Đó là lý do mà nhóm chúng em chọn đề tài : “Đánh giá nguồn thu ngân sách nhà nước từ các
khoản viện trợ trong khoản thời gian qua” để nghiên cứu và báo cáo.

 !"#$%&'(
)*!$$%+
Viện trợ nước ngoài là một luồng vốn đổ vào hoặc một sự trợ giúp nào đó từ những
nước phát triển cho các nước kém và đang phát triển để tạo ra hoặc làm biến đổi một cách
sâu sắc nền kinh tế của nước đó nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
, $%&'(

khiến người ta quan tâm theo dõi, nghiên cứu về vấn đề này. Thứ nhất, những thay đổi sâu sắc
trong môi trường kinh tế và chính trị toàn cầu trong thời gian vừa qua - nhất là việc kết thúc
chiến tranh lạnh và dòng vốn tư nhân ồ ạt đổ vào các nước đang phát triển. Thứ hai, ngày nay
chiến lược phát triển kinh tế của những nước cung cấp viện trợ cũng như tiếp nhận viện trợ đã
được điều chỉnh, thay đổi và do đó đã đòi hỏi phải có một phương thức viện trợ mới.
Tóm lại, không thể phủ nhận tác dụng to lớn của viện trợ quốc tế trong quá trình phát triển
kinh tế của một quốc gia, chúng ta tin tuởng rằng, cùng với việc thực hiện đường lối Đổi mới về
kinh tế, Việt nam đã và sẽ tiếp tục nhận được sự tài trợ mạnh mẽ của các nhà tài trợ quốc tế,
thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Trong đó, vốn ODA là một phần chủ yếu của nguồn tài chính mà chính phủ các nước phát triển
và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và
phúc lợi xã hội cho các quốc gia này. Hơn 15 năm qua Việt Nam đã có được những thành công
đáng kể trong lĩnh vực này, nhưng đồng thời cũng nổi lên nhiều bất cập đòi hỏi Chính Phủ và
Quốc Hội phải quan tâm đúng mức.
3$%&'(456
)*!$$%+456( Official Development Assistance):
Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là viện trợ phát triển chính thức (ODA - Official
Development Assistance) là các khoản viện trợ không hoàn lại, khoản vay với những điều kiện
ưu đãi hoặc hỗn hợp các khoản trên được cung cấp bởi các nhà nước, tổ chức kinh tế, tài chính
quốc tế và các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho phát triển kinh tế - xã hội ở những nước
đang và chậm phát triển được tiếp nhận nguồn vốn này.
,. 78$9+23:456
- Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế đối
với các nước đang và chậm phát triển.
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn
bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Thể hiện:
+ Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD.
+ Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả lãi,
chưa trả nợ gốc). Vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (Japanese
Bank for International Cooperation - JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn

/;!<=".$3:456
/)!>"&?!!@&
- ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước tiếp nhận không phải hoàn trả
lại cho các Nhà tài trợ.
- ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi
suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố
hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay
không ràng buộc;
- ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung
cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn
lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không
ràng buộc.
/,!>"3:@A
BODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung cấp cho Chính phủ
nước tiếp nhận. Thông thường vốn ODA song phương được tiến hành khi một số điều kiện ràng
buộc của nước cung cấp vốn ODA được thoả mãn.
- ODA đa phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho Chính phủ nước
tiếp nhận. So với vốn ODA song phương thì vốn ODA đa phương ít chịu ảnh hưởng bởi các áp
lực thương mại, nhưng đôi khi lại chịu những áp lực mạnh hơn về chính trị.
//!>"8:$&C(DE-F
- ODA hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là
hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi.
- ODA phi dự án: Bao gồm các loại hình sau:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ
hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hóa được chuyển qua hình thức này có thể được
sử dụng để hỗ trợ ngân sách.
+ Hỗ trợ trả nợ (hỗ trợ ngân sách).
- ODA hỗ trợ chương trình: là khoản vốn ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian
nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.
/GHI&!>"+F8?!

tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh
mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực
tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời
cao
- Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với
việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không
cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án
và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên
nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá
cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới).
- Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu
tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp
nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất.
- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các
danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực
tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ
chuyên gia.
- Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên.
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng
vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá
trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các
công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình
trạng nợ nần.
  L  MN O    P  *4Q  0R MS  456
M464NP)TT/B,U),
 3456!2VW
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều, số
lượng nhà tài trợ ODA cho Việt Nam ngày càng tăng. Hiện nay có 51 nhà tài trợ ODA cho
Việt Nam bao gồm 28 nhà tài trợ song phương, 23 nhà tài trợ đa phương và khoảng 600 tổ
chức phi chính phủ đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Ngoài các nước là thành

Pháp
Phát triển đô thị, GTVT, giáo dục,
khai thác mỏ
Phát triển nhân lực, GTVT, thông tin
liên lạc
Canada
Cơ sở hạ tầng, phát triển khu vực tư
nhân môi trường
Hỗ trợ kinh tế và tài chính, hỗ trợ thiết
chế và quản lý
Thụy Điển
Môi trường và biến đổi khí hậu; Dân
chủ và quyền con người.
Môi trường và biến đổi khí hậu; Dân
chủ và quyền con người; Chống tham
nhũng.
Thụy Sĩ
Hạ tầng kinh tế; môi trường; đào tạo
nguồn nhân lực;
Đào tạo nhân lực; phát triển đô thị; môi
trường; xóa đói, giảm nghèo; cải cách
hành chính công
Anh Nhiều lĩnh vực Xóa đói giảm nghèo, GTVT
WB
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng
phúc lợi
Xóa đói giảm nghèo, GTVT
ADB
Tạo việc làm, thêm cơ hội cho người
nghèo, người yếu thế

đạt đỉnh điểm vào năm 2009 là 8 tỷ USD gấp khoảng 4,4 lần so với năm 1993. Vì đây là
thời kì khủng hoảng kinh tế. Từ năm 2009 tới nay, tuy nguồn vốn ODA cam kết có giảm
nhưng vẫn ở mức cao.Có thể thấy mức giải ngân vốn ODA đã có tiến bộ qua các năm song
chưa tương xứng với mức cam kết.
Riêng 2 năm trở lại đây, nhờ quyết tâm cao của Chính phủ, nỗ lực của các ngành, các cấp
và nhà tài trợ, giải ngân của một số nhà tài trợ quy mô lớn (Nhật Bản, Ngân hàng Thế
giới - WB) đã có tiến bộ vượt bậc. Tỷ lệ giải ngân vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam
năm 2011 đứng thứ nhì và năm 2012 đứng thứ nhất thế giới, tỷ lệ giải ngân của WB tại
Việt Nam tăng từ 13% năm 2011 lên 19% năm 2012.
, ^!!^!!V8X:456&a!K&K$&'(
Việc thu hút vốn ODA từ các nhà tài trợ cho Việt Nam trong những năm qua đã có những
bước khởi sắc, việc này được thể hiện qua bảng vốn ODA cam kết của một số nhà tài trợ lớn:
Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012 với
khoảng 19,81 tỷ USD. Pháp đứng thứ hai với 3,91 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ ba với 2,33
tỷ USD.
WB đứng đầu trong nhóm 6 ngân hàng phát triển với khoảng 20,1 tỷ USD. Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB) đứng thứ hai với 14,23 tỷ USD vốn ODA cam kết.
Từ biểu đồ cam kết vốn ODA cam kết của một số nhà tài trợ thời kỳ 1993 - 2012 cũng
cho thấy lượng vốn ODA cam kết cho Việt Nam tập trung vào một số nhà tài trợ chủ yếu.
Ta có thể thấy điều này rõ hơn qua biểu đồ tỉ trọng vốn ODA huy động từ các nhà tài trợ:
Mặc dù VN có quan hệ với hơn 50 nhà tài trợ song phương và đa phương nhưng 3 nhà
tài trợ lớn là Nhật, WB, ADBđã chiếm tới hơn 70% nguồn vốn tài trợ, chỉ có 23% lượng
vốn cam kết là của các quốc gia và tổ chức tài trợ khác.
Cuối năm 2009, nền kinh tế thế giới đã có những tín hiệu tích cực sau khủng hoảng,
đặc biệt các nền kinh tế trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Singapore, đang phục hồi
mạnh mẽ, các nhà tài trợ như ADB, Nhật Bản đã có các chính sách mới và phù hợp giúp
Việt Nam phục hồi kinh tế và lấy lại đà tăng trưởng như việc ADB cho Việt Nam vay 500
triệu USD nhằm khắc phục các tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và hỗ
trợ các cải cách chính sách hướng đến thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo; Nhật
Bản cung cấp khoản vay trị giá 54,9 tỷ Yên (tương đương 568 triệu USD) giúp Việt Nam

lý được cải thiện và tiệm cận với thông lệ quốc tế; quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam với
cộng đồng tài trợ quốc tế không ngừng được củng cố và phát triển, là những thuận lợi cơ bản
của Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn ODA.ODA là nguồn tài chính công của chính
phủ,với các khoản vay ưu đãi bình quân chiếm khoảng 80% cơ cấu vốn ODA dành cho Việt
Nam, do vậy cần thiết phải tăng cường kiểm tra giám sát và đánh giá.
f($&!W
- Thông qua công tác vận động và thu hút ODA, ta đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của
bạn bè quốc tế đối với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà
nước ta, góp phần củng cố và nâng vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
- Tranh thủ được nguồn vốn vay ODA có ý nghĩa, song khả năng trả nợ nước ngoài của ta ước
tính sẽ bền vững trong trung và dài hạn.
- Cải cách chính sách kinh tế được triển khai theo lịch trình phù hợp với chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, ngân sách Nhà nước được hỗ trợ, hiệu quả và uy tín của các định
chế tài chính trong nước được cải thiện… Đó là một mặt được hơn nữa của ODA thông
qua các khoản vay chương trình của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), WB, ADB. Trong 10 năm qua,
ta vay các khoản vay chương trình với các điều kiện ưu đãi như: khoản vay tín dụng dự phòng
(SBA), thể thức chuyển đổi cơ cấu (STF), thể thức điều chỉnh cơ cấu mở rộng (ESAF), thể
chế tăng cường và xóa đói giảm nghèo (PRGF); của WB như: tín dụng điều chỉnh cơ cấu
(SAC-a), chương trình tín dụng Hỗ trợ giảm nghèo (PRSC), Dự án tài chính nông thôn 1, Dự
án tài chính nông thôn 2; của ADB như : Khoản vay chương trình cải cách Doanh nghiệp Nhà
nước và Quản trị công ty (SCPL), Khoản vay chương trình Tài chính 2 (FSPL-2), Dự án tài
chính nông thôn, Dự án tín dụng nông thôn. Tổng giá trị các khoản vay chương trình này đạt
hơn 1,6 tỷ USD. Nhiều nhà tài trợ song phương cũng cung cấp ODA không hoàn lại cho các
chương trình này.
f.!WKVW g+
Qua 20 năm tiếp nhận ODA, thực tế cũng đã chỉ ra còn nhiều hạn chế trong việc tiếp
nhận, sử dụng hiệu quả nguồn lực này, thể hiện ở những điểm sau:
Một là, năng lực hấp thụ nguồn vốn ODA còn kém, chưa đáp ứng được yêu cầu. Có thể
nhìn nhận thực trạng này thông qua tỷ lệ giải ngân so với nguồn vốn ODA đã ký kết
trong 20 năm qua chỉ đạt khoảng 67%. Riêng thời kỳ 2006-2010, khoảng 7 tỷ USD vốn

cảnh Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, cần phải thực hiện
tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn đối ứng cho các chương trình và dự án
ODA để đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất và nhanh nhất, đây là điều rất cấp thiết với Việt
Nam. Thiếu nguồn lực đối ứng, gồm tài chính và nguồn vốn con người có năng lực, thì
khó mà thành công trong sử dụng ODA có hiệu quả cao để phục vụ các mục tiêu phát
triển. Dù là ODA vốn vay hay viện trợ không hoàn lại đều đòi hỏi những chi phí trong
nước mới có thể hiện thực hóa được vốn ODA trở thành những kết quả phát triển cụ thể.
Thứ hai, xu thế nguồn vốn ODA không hoàn lại và có lãi suất ưu đãi giảm đi khi Việt
Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp, thay vào đó phải sử dụng vốn vay kém ưu
đãi. Vì thế, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay này đòi hỏi Việt Nam phải tăng cường
năng lực và cải tiến mạnh mẽ tình hình thực hiện dự án, sử dụng tập trung hơn để đầu tư
xây dựng hạ tầng kinh tế và xã hội quy mô lớn, có giá trị và tạo ra tác động lan tỏa đối
với sự phát triển chung của cả nước.
Thứ ba, hoàn thiện các văn bản pháp lý, đổi mới trong quy trình và thủ tục quản lý dự án
ODA trên cơ sở kết hợp tham khảo những quy chuẩn của các nhà tài trợ, nhất là trong ba
khâu công việc quan trọng: đấu thầu mua sắm; đền bù, di dân và tái định cư; quản lý tài
chính của các chương trình, dự án dẫn đến tình trạng trình duyệt “kép”.
Thứ tư, trong quan hệ hợp tác phát triển mới, các mô hình viện trợ mới sẽ được áp dụng
nhiều hơn, sự tham gia của khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ được khuyến
khích. Do vậy, Chính phủ cần có những chính sách và thể chế thích hợp để tạo môi
trường cho các mô hình, phương pháp tiếp cận mới. Bên cạnh đó, cần hợp tác chặt chẽ
với các nhà tài trợ để sử dụng một cách hợp lý các cách tiếp cận và mô hình viện trợ mới,
nhất là hỗ trợ ngân sách trong tiếp nhận tài trợ để nâng cao hiệu quả sử dụng, giảm bớt
các thủ tục và góp phần cải thiện các hệ thống quản lý công của Việt Nam theo chuẩn
mực và tập quán quốc tế.
Thứ năm, cần xác định các ưu tiên đầu tư khi sử dụng ODA và nâng cao công tác giám
sát, theo dõi và đánh giá dự án. Bởi, bản chất ODA vẫn là khoản vay và có nghĩa vụ phải
trả nợ, nên cần loại bỏ tư tưởng “xin” ODA trong một bộ phận cán bộ ở các cấp, kể cả
cán bộ lãnh đạo chưa hiểu rõ vai trò và bản chất của ODA, dẫn đến chưa quan tâm đầy đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status