Các khía cạnh liên quan tới thương mại trong chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường - Pdf 23

Chuyên đề: Các khía cạnh liên quan tới thương mại trong
chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
GIỚI THIỆU 3
1. MỘT SỐ KHÍA CẠNH MẤU CHỐT TRONG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG 5
1.1. Công nghệ thân thiện môi trường là gì? 5
1.2. Chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường có khác gì chuyển giao các công
nghệ khác? 6
2. NHỮNG KÊNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CHÍNH 8
2.1. Chuyển giao công nghệ thông qua thương mại hàng hóa và dịch vụ 9
2.2. Chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và li-xăng 12
3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN
MÔI TRƯỜNG: CÁC ĐỘNG LỰC VÀ TRỞ NGẠI 15
3.1 Tiếp cận thông tin 15
3.2. Quy định và chính sách 16
3.3. Các chính sách và hoạt động liên quan đến thương mại 23
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 36
1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thế giới hiện nay, để phát triển kinh tế, các nước đang phát triển đều phải
nhập công nghệ từ các nước tiên tiến hơn. Để đảm bảo sự phát triển bền vững, thế giới
đang hướng tới sử dụng những công nghệ thân thiện môi trường (Environmental Sound
Technology-EST), do vậy vấn đề chuyển giao các công nghệ thân thiện môi trường đã
được nhiều nước quan tâm.
Để đảm bảo cho chuyển giao thành công các công nghệ thân thiện môi trường cho
các nước đang phát triển, kinh nghiệm thế giới đã đưa ra nhiều yếu tố tỏ ra hữu ích.
Trong tổng luận này, chúng tôi đề cập đến các vấn đề chính liên quan dến các khía cạnh
thương mại của các chuyển giao công nghệ sạch: các kênh chuyển giao các công nghệ đó

cho thập niên đầu thế kỷ 21, được nhất trí bởi các Bộ trưởng Môi trường từ năm 2001,
các quốc gia OECD cần phải “tiếp tục và nâng cao sự hợp tác song phương và đa
phương với các quốc gia không phải là thành viên trong nhiều lĩnh vực, bao gồm chuyển
giao công nghệ thân thiện môi trường và xây dựng năng lực quản lý môi trường.” Tại
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới năm 2002 về Phát triển Bền vững, các quốc gia tiếp tục
cam kết sẽ huy động các nguồn lực và đóng góp vào việc chuyển giao và phổ biến các
công nghệ thân thiện môi trường.
Trong cuộc gặp vào tháng 6 năm 2003, Nhóm công tác hỗn hợp về Thương mại và
Môi trường (JWPTE) đã thống nhất sẽ thực hiện một nghiên cứu để khảo sát các nhân tố
đã chứng tỏ là có ích cho việc chuyển giao thành công công nghệ thân thiện môi trường
tới các quốc gia đang phát triển.
Chuyên đề này cung cấp một cái nhìn tổng quát về những vấn đề chính nằm sau các
khía cạnh liên quan tới thương mại trong chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường,
xem xét những kênh chính để chuyển giao những công nghệ loại này và những nhân tố
liên quan đến chuyển giao công nghệ nói chung và công nghệ thân thiện môi trường nói
riêng. Cuối cùng là tóm tắt về các điều kiền cần cho việc chuyển giao thành công công
nghệ thân thiện môi trường, có liên quan đặt biệt tới thương mại.
1
Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) là một chương trình của Liên Hợp Quốc liên quan đến phát triển bền vững.
Chương trình này là một kế hoạch tổng hợp chi tiết được các tổ chức của Liên Hợp Quốc, các chính phủ và các nhóm
hoạt động chính trong mọi lĩnh vực mà con người tác động đến môi trường triển khai trên tất cả các phạm vi: toàn
cầu, quốc gia và địa phương. Con số 21 ám chỉ Thế kỷ 21. Toàn bộ nội dung của Chương trình nghị sự 21 được công
bố tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đất do Liên Hợp Quốc tổ chức năm 1992 tại Rio de Janero (Braxin) với sự thông qua
của 179 quốc gia.
3
Chuyên đề này dựa trên nguồn tài liệu rất phong phú và chuyên sâu về chuyển giao
công nghệ nói chung và công nghệ thân thiện môi trường nói riêng, đồng thời dựa trên
những trường hợp thực tế đã được tóm tắt lại trong nhiều báo cáo. Những báo cáo này
chủ yếu được lấy từ các nguồn: Nghiên cứu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế và Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) “Công nghệ không biên giới: Nghiên cứu thực tiễn

21 như sau
4
:
“Công nghệ thân thiện môi trường là những công nghệ bảo vệ môi trường, ít gây ô
nhiễm hơn, sử dụng mọi nguồn tài nguyên theo hướng bền vững hơn, tái chế được nhiều
sản phẩm và phế thải và xử lý rác thải dư thừa một cách hợp lý hơn so với những công
nghệ mà nó thay thế”.
Công nghệ thân thiện môi trường trong bối cảnh ô nhiễm là “công nghệ quy trình
và sản phẩm, tạo ra ít hoặc thậm chí không tạo ra chất thải để ngăn ngừa ô nhiễm. Nó
cũng bao gồm cả các công nghệ “đầu cuối” để xử lý các vấn đề ô nhiễm mà nó làm phát
sinh ra.
Các công nghệ thân thiện môi trường không phải là công nghệ đơn lẻ mà là toàn bộ
hệ thống bao gồm các bí quyết, hàng hóa và dịch vụ, thiết bị và các quy trình tổ chức và
quản lý. Điều này có nghĩa là khi đàm phán về chuyển giao công nghệ, thì cũng cần phải
đề cập đến nguồn nhân lực và xây dựng năng lực tại chỗ trong lựa chọn công nghệ, bao
gồm cả các vấn đề thuộc về giới. Công nghệ thân thiện môi trường phải phù hợp với
những ưu tiên về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường của một quốc gia.
Khái niệm về công nghệ thân thiện môi trường mang tính tương đối và quy chuẩn.
Thuật ngữ này hàm ý rằng những công nghệ đã được chọn sẽ hoàn thành các mục tiêu
chứ không chỉ là tạo điều kiện cho một quá trình công nghiệp, giám sát, thương mại hay
nội địa, đồng thời sẽ mang lại những lợi ích và giá trị sử dụng rộng lớn hơn chứ không
chỉ là về năng suất (UNCTAD, 1997a). Đây là một khái niệm luôn tiến hóa: một công
nghệ ngày hôm nay có thể làm giảm ô nhiễm và giảm mức sử dụng tài nguyên, vẫn có thể
trở thành một công nghệ “bẩn” chỉ sau vài năm, khi có nhiều công nghệ tiên tiến hơn ra
đời. Vì vậy, duy trì quá lâu những công nghệ được coi là “sạch” của ngày hôm nay (ví dụ
như giảm hoặc áp dụng thuế ưu đãi) có thể sẽ trì hoãn những phát minh mới hoặc làm
lệch hướng các quyết định đầu tư và thương mại hướng tới những công nghệ ít sạch hơn
mà không phải là các loại công nghệ có thể có được nhờ đổi mới và tiến bộ công nghệ
(OECD, 2001b).
4

thiện môi trường phụ thuộc vào quỹ công cộng nhiều hơn là đầu tư tư nhân. Vì vậy mà xu
hướng chung chuyển giao công nghệ dựa vào nguồn tài chính từ khu vực nhà nước sang
khu vực tư nhân sẽ có ảnh hưởng không cân xứng với công nghệ hợp lý đối với môi
trường. Các nước chậm phát triển so với các nước khác vẫn còn phải phụ thuộc rất nhiều
vào nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) để thực hiện tất cả các loại chuyển giao
công nghệ, và điều này càng đúng hơn trong trường hợp công nghệ thân thiện môi trường
(IEA/OECD, 2001).
Không như những loại công nghệ khác, công nghệ thân thiện môi trường thường
phải có quỹ “gieo giống” công cộng làm đòn bẩy để các công ty bắt đầu nghiên cứu và
phát triển công nghệ thân thiện môi trường. Hơn nữa, nhiều loại công nghệ thân thiện môi
trường được phát triển và thương nghiệp hóa bởi các công ty vừa và nhỏ mà các công ty
này lại thường phải dựa vào sự hỗ trợ được kết cấu để phát triển thị trường cả trong và
ngoài nước (UNCTAD, 2000).
6
Thêm nữa, công nghệ thân thiện môi trường thường có địa chỉ ứng dụng rất chính
xác. Điều này là do môi trường vật lý cũng như phương thức mà con người tác động đến
môi trường này ở các nước là khác nhau. Về phần mình, những phương thức này đã ăn
sâu vào phong tục và văn hóa xã hội nơi đó. Điều đặc biệt này cho ta thấy để có thể thành
công thì công nghệ thân thiện môi trường phải được thích ứng với môi trường cũng như
văn hóa của từng địa phương.
Bảng 1. Những điểm giống và khác nhau giữa công nghệ thân thiện môi trường và
các loại công nghệ khác
Công nghệ thân thiện môi trường Công nghệ khác
Động lực
chính
Luật pháp, chính sách công, các thỏa
thuận môi trường đa phương
Các lực lượng thị trường: nhu cầu,
cạnh tranh, sản xuất đình trệ, v.v…
Tài chính Quỹ công là rất quan trọng Phần lớn là quỹ tư nhân, bao gồm

thế giới (ví dụ như chất thay thế cho
CFC)
Ngày càng rộng rãi trên toàn cầu
Chuyển giao
đến các nước
đang phát
triển và nền
kinh tế
chuyển đổi
Thương mại hóa tư nhân; viện trợ phát
triển chính thức; đôi khi do quỹ từ
những nguồn đa phương (ví dụ như Quỹ
Đa phương theo Nghị định thư
Montreal, quỹ GEF)
Gần như hoàn toàn thông qua
thương mại hóa tư nhân
Nguồn: UNCTAD (2003)
7
2. NHỮNG KÊNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CHÍNH
Có ba cách cơ bản để một công ty khai thác công nghệ của mình ở nước ngoài và,
vì vậy, cũng có ba cách khác nhau để một nước tiếp nhận công nghệ. Những kênh này có
quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau. Đó là:
• Thông qua thương mại: chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua thương mại là
khi một nước nhập khẩu hàng hóa trung gian chất lượng cao hơn (cao hơn so với
hàng hóa sản xuất trong nước) để sử dụng trong quá trình sản xuất của họ. Công
trình nghiên cứu thực hiện bởi Hakura và Jaumotte (1999) và sau đó là OECD
(2000), sử dụng số liệu của 87 quốc gia, đã kết luận rằng thương mại thực sự là
một kênh chuyển giao công nghệ quốc tế cho những nước đang phát triển. Tuy
nhiên, có vẻ như thương mại trong nội bộ một ngành công nghiệp đóng vai trò
quan trọng hơn thương mại giữa các ngành công nghiệp trong việc chuyển giao

Khung 1. Những kênh chính cho việc chuyển giao công nghệ thông qua FDI
Những kênh chính để chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài
thường trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hiện tượng lan tỏa, bao gồm:
Liên kết theo chiều dọc: Các doanh nghiệp đa quốc gia có thể chuyển giao công nghệ
cho các công ty cung ứng cho họ hàng hóa trung gian, hoặc cho những khách hàng
mua sản phẩm của họ.
Liên kết theo chiều ngang: Các công ty bản địa trong cùng một ngành công nghiệp
hoặc cùng một giai đoạn sản xuất có thể áp dụng công nghệ thông qua mô phỏng, hoặc
buộc phải cải tiến công nghệ của họ vì sự cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp đa quốc
gia ngày càng tăng.
Di trú lao động: Công nhân được đào tạo hoặc đã từng làm việc cho chi nhánh của
doanh nghiệp đa quốc gia có thể chuyển giao kiến thức của mình cho các công ty bản
địa khác khi chuyển sang công ty khác hoặc tự thành lập cơ sở kinh doanh.
Quốc tế hóa nghiên cứu và phát triển: Khi được đặt ở nước ngoài, hoạt động nghiên
cứu và phát triển của các công ty đa quốc gia có thể đóng góp cho việc tạo ra khả năng
sản sinh kiến thức bản địa xuất phát từ thuộc tính hàng hóa phần nào có tính chất
chung có liên quan tới các hoạt động của họ.
Nguồn: OECD (2002)
2.1. Chuyển giao công nghệ thông qua thương mại hàng hóa và dịch vụ
Công nghệ không chỉ bao gồm những yếu tố “phần cứng” như máy móc và thiết bị
trong khâu sản xuất, mà còn cả những yếu tố “phần mềm”, bao gồm kiến thức khoa học
và công nghệ, kỹ năng, bí quyết và các cách bố trí về mặt tổ chức và thể chế tạo thành có
liên quan, cũng như hàng hóa và dịch vụ được tạo ra từ quá trình sản xuất. Khi những yếu
tố này được mua và bán ra ngoài ranh giới công ty, thì chúng tượng trưng cho dòng công
nghệ thông qua hàng hóa và dịch vụ.
9
Chuyển giao công nghệ thông qua hàng hóa và dịch vụ thường liên kết với nhau
theo nhiều cách. Ở một mức độ đơn giản, một bộ phận của phần cứng thường không dễ
thích ứng nếu không có sách hướng dẫn kèm theo hoặc đào tạo nhân sự, và tương tự, việc
đào tạo trong các quy trình công nghiệp thường kèm theo một số phương thức tiếp cận

nhờ việc tập huấn đầy đủ và tiếp
cận tới thiết bị cơ bản (IPCC,
2000).
Chương trình GEF đã cấp kinh phí
cho các quốc gia đang phát triển để
đầu tư cho các buổi tập huấn kỹ
thuật được tổ chức bởi công ty tư
vấn năng lượng Hà Lan và công ty
này cũng đã tổ chức các cuộc hội
thảo về việc sử dụng chiếu sáng có
hiệu quả (IPCC, 2000).
Chuyển giao
thiết kế và
mô hình
Bộ Lâm nghiệp và Môi trường Ấn
Độ, với kinh phí một phần từ viện
trợ của Đức và Thụy Sỹ, đã mua
trang thiết bị cơ bản nhằm chế tạo
tủ lạnh không gây hại cho tầng
ôzôn trong dự án “Ecofrid”. Các
Dưới những chính sách tài chính ưu
đãi, Công ty Totalgaz đã xuất khẩu
6kg chai làm bằng butan và lò hơi
cho Sê-nê-gan và nước này nhờ đó
đã giảm bớt việc phá rừng cũng như
sử dụng than củi. Lò hơi ở đây được
10
trang thiết bị này được miễn các
loại thuế và hải quan (IPCC,
2000).

định giá thầu, thương lượng các hợp
đồng cung cấp nhiên liệu sinh học
và vận hành nồi hơi đã sửa đổi
(IPCC, 2000).
Chia sẻ các
kết quả
nghiên cứu
Ủy ban châu Âu cùng chương
trình ASEAN COGEN đã liên kết
những ngành công nghiệp của các
nước Đông Nam Á với những nhà
cung cấp thiết bị đồng sản xuất
của châu Âu lại với nhau nhằm
quảng bá cho lợi ích của việc
đồng sản xuất. COGEN đã giúp
đẩy mạnh dự án hợp tác sản xuất
Nhà máy gạo Chia Meng tại Thái
Lan. COGEN đã liên kết người
mua và người bán công nghệ
đồng sản xuất với nhau thông qua
một mạng lưới các nhóm đa quốc
gia. Trong trường hợp nhà máy tại
Thái Lan, họ đã trình diễn sự đáng
tin cậy về mặt kỹ thuật của phần
cứng được nhập khẩu
(IEA/OECD, 2001).
Công ty xi-măng Taiheyo của Nhật
Bản đã thực hiện nghiên cứu về sợi
tre nhằm gia cố cho xi-măng để
thay thế khoáng chất và sợi tổng

thức số 4 của GATS (sự di chuyển thể nhân). Sự di chuyển của các cá thể hỗ trợ cho
ngành dịch vụ dưới phương thức GATS đã vượt trên những lợi ích thống kê thuần túy về
kinh tế, thương mại và tính cạnh tranh cho những nền kinh tế đang phát triển. Những lợi
ích năng động đối với nước chủ nhà là rất có ý nghĩa, bởi chúng làm tăng các khoản đầu
tư và tiết kiệm trong nước, tăng cường phát triển các ngành khác trong nền kinh tế và
thương mại, đảm bảo chuyển giao công nghệ, kinh doanh và tri thức, đồng thời tạo dựng
khả năng nhân lực. Với những điều kiện đó, các rào cản với thương mại dịch vụ trong tất
cả các phương thức có thể tạo ra những trở ngại cho việc chuyển giao công nghệ thân
thiện môi trường.
Thường thì ngành dịch vụ môi trường không được định hướng mạnh để xuất khẩu,
bởi các nhà cung cấp dịch vụ thường phải có kiến thức đặc trưng về điều kiện môi trường
bản địa. Tuy nhiên, vì tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với chuyển giao
công nghệ và những mối liên kết giữa đầu tư và nhập khẩu dịch vụ, nên việc cải cách và
tự do hóa chế độ dịch vụ có thể được coi là một trong những công cụ chính sách thương
mại quan trọng nhất cho việc đẩy mạnh chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường.
Những lợi ích tiềm tàng của việc tự do hóa hàng hóa và dịch vụ môi trường đối với
các nước đang phát triển là việc tạo ra những cơ hội xuất khẩu mới và đẩy mạnh nhập
khẩu dịch vụ môi trường chất lượng cao. Vì việc cung cấp dịch vụ môi trường cơ bản đòi
hỏi mức đầu tư cao và tri thức chuyên gia, nên sự hiện diện thương mại của các doanh
nghiệp nước ngoài có thể đóng góp cho việc tăng mức đầu tư và tạo vốn cũng như cải
thiện mức độ bao phủ và chất lượng của các dịch vụ môi trường (UNCTAD, 2003a).
2.2. Chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và li-xăng
Như đã đề cập, những phương tiện chuyển giao công nghệ quan trọng nhất cho các
nước đang phát triển vẫn là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tương tự với FDI, nhưng
12
không có mức kiểm soát tương tự đối với các công ty đầu tư mẹ, là một loạt các thỏa
thuận hợp tác, bao gồm liên doanh, chuyển giao li-xăng giữa các hãng, thầu phụ và
chuyển nhượng thương hiệu.
FDI tìm kiến thị trường
FDI thúc đẩy chuyển giao các công nghệ sạch bằng cách tìm kiếm các thị trường

các chai nhựa PET thải ở Trung Quốc, dùng công nghệ tiến tiến nhất của Nhật Bản. Bằng
cách đưa công nghệ tới Trung Quốc, công ty này đã có thể sản xuất các tấm thảm chất
lượng cao từ các nguyên liệu tái chế Trung Quốc.
FDI tìm kiếm tài nguyên
13
Hủy hoại môi trường nặng nề nhất thường là các hoạt động sản xuất có năng suất
thấp với công nghệ lạc hậu, các phương pháp làm việc lỗi thời, phát triển nguồn nhân lực
kém và sử dụng năng lượng và nguồn vốn không hiệu quả. Các MNE có thể xem là các
nguồn cung cấp các công nghệ sạch, có thể chuyển giao được cho các nền kinh tế đang
phát triển. Do vậy, MNE với sự tiếp cận công nghệ tiên tiến có thể là động lực thúc đẩy
chuyển giao công nghệ.
Một thí dụ về lĩnh vực này là việc phát hiện ra khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) ở Mỏ
Khí tự nhiên Arun ở nông thôn Inđônêxia năm 1971. Hãng Mobil đã phát triển Mỏ Arun
để chế biến LNG để xuất khẩu cho Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như sử dụng ở
Inđônêxia. Trung quá trình chế biến, nó đã tạo ra ở đó một hạ tầng công nghiệp chưa từng
tồn tại trước đó. Trong trường hợp này, đầu tư nước ngoài đã tìm kiếm nguồn tài nguyên
để bán tại nội đia và xuất khẩu. Để khai thác nguồn tài nguyên này, công ty đã phát triển
hợp tác để nuôi dưỡng cho chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường.
Một thí dụ khác về đầu tư tim kiếm tài nguyên và qua đó đã tạo ra một luồng
chuyển giao các công nghệ sạch và các hàng hóa và dịch vụ môi trường là của Taiheyo,
một công ty xi măng của Nhật Bản. Taiheyo đã đầu tư vào nghiên cứu khoáng chất thay
thế và sợi tổng hợp trong xi măng bằng các nguồn tự nhiên. Việc nghiên cứu được tiến
hành ở Java, Inđônêxia, do ở đây có nguồn cung cấp tre dồi dào và rẻ. Các đối tác
Inđônêxia tiếp tục cải tiến công nghệ đó hướng vào xuất khẩu. Đầu tư nước ngoài ban
đầu là tìm kiếm nguồn tài nguyên Inđônêxia, việc này đã dẫn tới chuyển giao công nghệ
thân thiện môi trường. Nỗ lực nghiên cứu đã tạo ra các luồng dịch chuyển hàng hóa và
dịch vụ (các chuyên gia Nhật Bản hoạt động cùng với các đối tác Inđônêxia ở Java), dưới
dạng xuất khẩu xi măng sợi tự nhiên sang Colombia từ các nhà sản xuất Inđônêxia trong
nước. Đặc điểm của các điều kiện môi trường địa phương cũng đã thúc đẩy chuyển giao
công nghệ thân thiện môi trường.

Việc tiếp cận thông tin ở các nước đang phát triển thường nghèo nàn. Việc không
có đầy đủ thông tin ở các nước đang phát triển đã khiến cho các chính phủ và người sử
dụng lệch lạc trong lựa chọn các công nghệ thân thiện môi trường, đã hạn chế đào tạo
trong sử dụng và tiếp thị các công nghệ thân thiện môi trường, và cản trở sự phát triển
hợp tác công-tư hỗ trợ chuyển giao công nghệ sạch. Việc không có thông tin giữa các cơ
quan đa biên và các bên tài trợ về các nhu cầu công nghệ hay các bên nhận viện trợ cũng
tạo ra những rào cản cho chuyển giao công nghệ. Việc đánh giá không đầy đủ các nhu
cầu của những người tiêu dùng công nghệ có thể dẫn đến các rào cản cho chuyển giao
công nghệ mà có thể tránh được nếu việc đánh giá nắm bắt được đầy đủ tác động xã hội
và các khía cạnh khác của công nghệ.
Nhiều nghiên cứu đã đánh giá cao tầm quan trọng những trao đổi thông tin liên tục,
thông qua quá trình chuyển giao toàn bộ. Một thí dụ về tầm quan trọng của dòng thông
tin 2 chiều là việc kiển tra và tiếp nhận bếp đun dùng năng lượng mặt trời ở Nam Phi.
Được CHLB Đức tài trợ, các nhóm dự án đã thẩm định một loạt mô hình, cân nhắc các
phản ứng của địa phương để truyền đạt cho sản xuất địa phương. Sau đó họ hỗ trợ phổ
biến các thông tin xung quanh các lợi ích của hệ thống cho những người tiêu dùng.
Không có thông tin hay phổ biến thông tin không đầy đủ về các nhu cầu địa phương và
các đặc tính kỹ thuật và những lợi ích của các bếp đun này, thì dự án sẽ dậm chân tại chỗ
và ngăn cản chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường.
15
Những nghiên cứu thị trường môi trường Trung Quốc cho thấy rõ những khó khăn
trong việc sao chép những kinh nghiệm và yêu cầu thực tế ở nước nhập khẩu hay nước
chủ nhà, và nhấn mạnh nhu cầu hợp tác với các đối tác địa phương, hay thuê những người
am hiểu thị trường địa phương. Một vấn đề hay gặp phải nữa là những khó khăn đối với
những người nước ngoài hiểu được và điều chỉnh những thực tế kinh doanh ở địa
phương, thí dụ trong vấn đề đấu thầu. Những nghiên cứu cũng đánh giá cao tầm quan
trọng của việc giao tiếp một cách hiệu quả với những đối tác địa phương, ngay từ giai
đoạn đầu và trong suốt quá trình chuyển giao công nghệ.
3.2. Quy định và chính sách
Các chính sách và quy định môi trường

vào các công nghệ mới.
Các sáng kiến của chính phủ
Vai trò của chính phủ đã thay đổi trong việc tạo ra các kênh cho chuyển giao công
nghệ, và hiện nhiều chính phủ chủ yếu giúp đưa ra các chính sách và biện pháp nhằm đẩy
nhanh việc chuyển giao các công nghệ cho khu vực tư nhân. Theo IPCC, những thay đổi
rộng rãi trong các kênh chuyển giao công nghệ đã giảm bớt vai trò của các chính phủ ở
các nước phát triển trong hợp tác và chuyển giao công nghệ. Trong một số lĩnh vực, ví dụ
như quản lý chất thải rắn và xử lý nước thải ở các nước đang phát triển, công nghệ vẫn
chủ yếu chuyển dịch theo các kênh được chính phủ chỉ đạo. Trong lĩnh vực nhiên liệu
hóa thạch, công nghệ nâng cao hiệu suất đã đạt mức hoàn thiện, và chúng dịch chuyển
chủ yếu thường thông qua kênh doanh nghiệp.
Rất nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của lãnh đạo của chính phủ trong
việc khuyến khích những thay đổi đối với các hoạt động không bền vững và giới thiệu
các công nghệ mới có tính bền vững môi trường hơn. Một ví dụ trong khía cạnh này là
chương trình của Khu tự trị Nội Mông của Trung Quốc thúc đẩy sản xuất và phổ biến ở
địa phương các hệ thống phong điện đơn lẻ tại các bộ lạc dân cư ở đây. Chính quyền khu
vực này đã kết hợp các cơ chế thị trường và kế hoạch hóa của chính quyền để tạo ra các
thị trường, thích nghi các công nghệ nước ngoài và phát triển một hệ thống thiết kế, sản
xuất và dịch vụ thống nhất. Vào cuối thập kỷ 1990, một phần ba số dân cư mục tiêu đã sử
dụng công nghệ này, và đã tránh được đáng kể lượng khí nhà kính thải ra, so với phải sử
dụng than đã hay diesel để phát điện.
Một ví dụ khác là các nỗ lực của Trung Quốc để cập nhật các hệ thống quản lý chất
thải rắn, bằng cách thúc đẩy các hoạt động quản lý chất thải rắn bền vững và thân thiện
môi trường. Dự án này dự kiến đưa ra các sáng kiến để loại bỏ các phát thải khí nhà kính
của methan ở những bãi chôn rác khi Trung Quốc phát triển các phương pháp phân hủy
chất thải rắn, và tập trung vào thiết kế và triển khai 3 dự án thử nghiệm để thu hồi và sử
dụng khí từ các bãi chôn rác đo thị.
Các chính sách mua sắm của chính phủ cũng có tác dụng tăng cường, hay ngược
lại, tạo rào cản cho, chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường. Các chính phủ là
những khách mua hàng quan trọng đối với các hàng hóa và dịch vụ thường có sự lựa

thạch, đã mở rộng phạm vi của các công nghệ thay thế.
Các nghiên cứu của cả IEA/OECD và IPCC đều đưa ra nhiều ví dụ về chuyển giao
công nghệ trong lĩnh vực năng lượng, nhằm mục tiêu tham gia ngăn chặn sự thay đổi khí
hậu. Một trong số đó là dự án khai thác gỗ giảm tác động môi trường nhằm hạ thấp
những phát thải khí nhà kính trong các khu rừng ở Malaysia, với hỗ trợ tài chính từ một
tổ chức của Mỹ. Dự án này tập trung vào việc làm giảm những phát thải các-bon từ các
họat động khai thác gỗ. Dự án gồm nhiều loại hình hoạt động như đào tạo về các kỹ thuật
khai thác gỗ giảm tác động môi trường; nghiên cứu hiện trường để lượng hóa dự trữ và
những biến đổi các-bon; phát triển mô hình mô phỏng sự kích thích những thay đổi trong
các khu chứa sinh khối và các-bon sau khi khai thác gỗ và một mô hình đơn giản đưa ra
ước tính lợi ích của các-bon.
Bổ sung cho các khuyến khích trong các Hiệp định môi trường đa phương, các sáng
kiến liên quan xuất hiện đã đóng góp cho chuyển giao các công nghệ thân thiện môi
trường. Ví dụ như Sáng kiến Công nghệ khí hậu, được phát triển tthông qua Cơ quan
Năng lượng Quốc tế bao hàm nhiều hành động góp phần thúc đẩy chuyển giao công
nghệ, như thành lập các kế họach phát triển công nghệ và tư vấn quốc gia, tăng cường các
thị trường cho các công nghệ mới xuất hiện cad thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia và
nghiên cứu và triển khai công nghệ.
18
Hộp 2. Chuyển giao công nghệ trong một số thỏa thuận môi trường đa phương
Hiệp định Khung về thay đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh chuyển giao
công nghệ là một thành tố quan trọng trong quá trình giảm nhẹ thay đổi khí hậu. Hiệp
định này có các điều khoản liên quan đến phát triển, ứng dụng, phổ biến và chuyển
giao công nghệ, cùng với việc cung cấp tài chính, nhận được sự ủng hộ và thúc đẩy
của các bên tham gia Hiệp định. Cam kết này cũng được phản ánh trong những điều
khoản tượng tự trong Nghị định thư Kyoto.
Tiếp cận và chuyên giao các công nghệ để bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh
học (hay công nghệ sử dụng các nguồn gen) được xem là các thành phần căn bản để
đạt được tất cả 3 mục tiêu của Hiệp định về đa dạng sinh học.
Một số điều khoản của Hiệp định của LHQ về chống sa mạc hóa đề cập đến việc

Thụy Sĩ đã đệ trình một báo cáo lên Nhóm công tác về Thương mại và chuyển giao
công nghệ của Tổ chức Thương mại thế giới trình bày kinh nghiệm của Thụy Sĩ về
chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua các trung tâm đặc biệt
làm việc trong lĩnh vực chuyển giao các công nghệ sạch. Theo báo cáo này, các công
nghệ sạch làm giảm sử dụng các nguồn lực như năng lượng, nước, nguyên liệu thô v.v
và giảm phát thải ác chất có tiềm tàng nguy cơ hủy hoại môi trường. ở các nước mà các
chi phí môi trường được gộp vào chi phí (tối thiểu là một phần), các công nghệ thân thiện
môi trường đều có tỷ lệ giá thành-lợi ích tích cực và do vậy chúng được áp dụng rộng rãi.
Các công nghệ cũ và “quá đát” ở đó nhanh chóng được thay thế hơn so với các nước mà
chi phí môi tường không được tính đến, hoặc quan tâm không đúng mức. Kinh nghiệm
của các trung tâm tài chính công nghệ của Thụy Sĩ cho thấy rõ ràng sự tăng dần các biện
pháp nhằm vào việc tính các chi phí môi trường có thể có tác động tích cực 2 lần: môi
trường và sức khỏe người dân được cải thiện và chuyển giao công nghệ sạch tăng lên, và
do vậy cũng mang lại lợi ích từ tác động lan tỏa sang các doanh nghiệp khác.
Việc định giá tài nguyên đầy đủ cũng có thể góp phần cho yêu cầu tiếp thu công
nghệ thân thiện môi trường tốt hơn. Các nghiên cứu về thị trường môi trường ở Trung
Quốc cho thấy các mức phí cấp nước và nước thải là quá thấp, thậm chí không đủ cho chi
phí vận hành, đã không khuyến khích việc giới thiệu các công nghệ mới, thường là đắt
tiền hơn.
Vì những lý do xã hội, đôi khi có thể gặp khó khăn khi tăng giá các nguồn lực một
cách nhanh chóng. Ở Kiev (Ucraina), các cơ chế chuyển giao đã dẫn tới những đầu tư
hiệu quả năng lượng sở hữu tập thể và chính quyền thành phố ở cấp người sử dụng cuối
cùng trong các tòa nhà công cộng và nhà ở. Chương trình này dựa vào khoản “tài chính
mềm”, hay khoản tài chính không trực tiếp cho các đầu tư vào hiệu quả, mà cho xây dựng
năng lực và hướng dẫn thể chế hỗ trợ. Việc tăng giá năng lượng để phản ánh giá trị thực
của chúng có thể làm tăng nhu cầu đối với công nghệ thân thiện môi trường. Tuy nhiên,
trong trường hợp này, cách tiếp cận chuyển giao công nghệ hoàn toàn dựa vào thị trường
đã không được chấp nhận về mặt xã hội hay chính trị, bởi nó yêu cầu tăng giá điện quá
nhanh. Thay vào đó, cần một quá trình cải cách thị trường để thực hiện một mực chi giá
mà có thể chấp nhận được về mặt xã hội và chính trị. Hơn nữa, theo IPCC, mặc dù đường

• Nỗ lực đảm bảo rằng các họat động của họ phù hợp với các chính sách và các kế
hoạch khoa học và công nghệ của các nước mà họ hoạt động, và đóng góp vào phát
triển năng lực sáng tạo địa phương và quốc gia một cách phù hợp;
• Tiếp thu, những nơi có thế áp dụng vào quá trình các họat động kinh doanh của
họ, các họat động cho phép chuyển giao và nhanh chóng phổ biến công nghệ và bí
quyết, trong khi tôn trọng bảo vệ sở hữu trí tuệ;
• Khi cấp li-xăng sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ hay khi chuyển giao công
nghệ,tiến hành theo những điều khoản và điều kiện hợp lý theo cách thức đóng góp
vào triển vọng phát triển lâu dài của nước sở tại.
21
Một ví dụ về nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tham gia vào chuyển
giao công nghệ sạch là xây dựng năng lực quản lý ngũ cốc tích hợp ở Braxin và
Guatemala. Một trong những động lực thúc đẩy chính đằng sau sự phát triển của dự án,
bao gồm cả đào tạo khuyến nông cho các nhân viên địa phương về các kỹ thuật mới, là
chiến lược doanh nghiệp của các nhà cung cấp và cam kết của họ về các nguyên tắc và
tiếp cận “Có trách nhiệm chăm sóc” (một hành vi tự nguyện do ngành công nghiệp hóa
chất đưa ra).
Các quan hệ đối tác giữa chính phủ và doanh nghiệp (đối tác công-tư) cũng mở ra
những hướng mới cho chuyển giao công nghệ. Thí dụ Dự án “Ánh sáng xanh” của Cục
Bảo vệ môi trường Mỹ triển khai ở Ba Lan dựa vào cách tiếp cận tình nguyện đẻ khuyến
khích các thể chế công và tư nhân tham gia vào các quan hệ đối tác. Các đối tác chính
phủ và doanh nghiệp đồng ý đầu tư 90% vào việc nâng cấp hiệu quả chiếu sáng trong 5
năm. Các đối tác chỉ định các giám đốc triển khai và hàng năm để trình các báo cáo về sự
tiến bộ. Dự án này cũng tuyển các công ty chiếu sáng và công ích làm các liên minh
chính thức. Dự án “Ánh sáng xanh” đã có trên 1.600 đối tác (trong đó, 85% là doanh
nghiệp và 15% thuộc chính phủ) và 594 liên minh (41% là các nhà sản xuất, 25% là các
nhà phân phối, 21% là các công ty quản lý chiếu sáng, và 14% là các công ty cung cấp
dịch vụ công ích). Những thỏa thuận này đã giúp kích thích nhu cầu chiếu sáng hiệu suất
cao và các sản phẩm hiệu suất năng lượng cao và các dịch vụ liên quan.
Nghiên cứu phát triển và các chính sách công nghiệp

thiện môi trường bởi nhiều công nghệ môi trường từ nghiên cứu công vẫn “nằm trong
ngăn tủ” và không được đưa ra thị trường sớm như mong đợi.
Tư nhân hóa và phi tập trung hóa
Tư nhân hóa có thể có hiệu quả trong thúc đẩy chuyển giao công nghệ thân thiện
môi trường theo kênh thị trường. Thí dụ, cải cách Luật điện lực của El Salvador năm
1996 dẫn đến làm tăng các cơ hội chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường do khu
vực tư nhân điều hành, mở cửa cho tư nhân sản xuất, truyền tải và phân phối điện. Ngòai
ra, cải cách này còn tạo ra các cơ hội mang lại lợi ích cho sản xuất điện từ sinh khối.
Những tiến triển từ tư nhân hóa đã được sử dụng để đưa ra những sáng kiến mới cho các
dự án năng lượng.
Một thí dụ khác về cải cách thị trường thúc đẩy chuyển giao công nghệ thân thiện
môi trường là trường hợp ở Braxin. Những nỗ lực của Chính phủ trung ương nhằm cung
cấp năng lượng miến phí hay giá rẻ cho các vùng nông thôn xa xôi đã thất bại do không
đủ nguồn lực. Sau đó, Chính phủ theo đuổi chiến lược phi tập trung hóa. Các quỹ được
chuyển cho các dự án ở những cộng đồng nghèo nhất để tăng cường năng lực thể chế.
Dước những điều kiện quy tắc này, các công ty tư nhân đã tìm thấy các cơ hội có lợi để
cung cấp năng lượng nhiên liệu phi hóa thạch và chuyển giao công nghệ sạch.
3.3. Các chính sách và hoạt động liên quan đến thương mại
Chính sách thương mại có thể ảnh hưởng đến chuyển giao công nghệ sạch một cách
trực tiếp trong các lĩnh vực khác nhau. Một lọat điều khoản trong các thỏa thuận WTO có
đề cập đến nhu cầu để chuyển giao công nghệ được diễn ra giữa các nước phát triển và
đang phát triển (ví dụ như Khoản 66 của Thỏa thuận TRIPS). Tuy nhiên vẫn chưa rõ việc
chuyển giao như vậy sẽ diễn ra như thế nào trong thực tế và nếu các biện pháp cụ thể
trong khuôn khổ WTO để khuyến khích các dòng công nghệ như vậy. Trong Tuyên bố
Doha, các bộ trưởng đã đồng ý xem xét mối quan hệ giữa thương mại và chuyển giao
công nghệ và mọi kiến nghị về các bước có thể được thực hiện trong phạm vi của WTO
để tăng các dòng công nghệ tới các nước đang phát triển. Những thảo luận này đang diễn
ra trong Nhóm công tác về Thương mại và Chuyển giao công nghệ. Dưới đây trình bày
23
về vai trò, trong chuyển giao công nghệ, của các biểu thuế xuất nhập khẩu, các biện pháp

được năng lực xuất khẩu đáng kể đối với nhiều bộ phận khác nhau cho các hệ thống năng
lượng mặt trời gia đình.
Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
Khu vực tư nhân dường như là động lực chính của đổi mới công nghệ trong một
nềnkinh tế và là đường dẫn chính cho luồng công nghệ được chuyển giao. Các chính sách
nuôi dưỡng cạnh tranh và giảm các hàng rào đối với tiếp cận thị trường sẽ tạo ra được các
điều kiện thuận lợi cho phát triển và chuyển giao các công nghệ thân thiện môi trường.
Thí dụ về những rào cản như vậy bao gồm nhiều loại thủ tục cho việc đăng ký của các
công ty nước ngoài, hay các yêu cầu nội dung quốc gia. Để đẩy mạnh đầu tư vào các
24
công nghệ sạch, các nướ đang phát triển cần phải thiết lập được một môi trường kinh
doanh thuận lợi. Thí dụ như hỗ trợ tạo điều kiện cho việc đăng ký của các công ty nước
ngoài ở các nước chủ nhà.
Tư do hóa đầu tư đã và vẫn là một động lực cho tăng trưởng kinh tế và đưa các nền
kinh tế đang phát triển hội nhập với kinh tế thế giới. Để những lợi ích này trở thành hiện
thực cần phải có các chính sách thương mại, kinh tế và xã hội phù hợp. trong khi chưa có
một thoả thuận đa phương về đầu tư nào, Thỏa thuận về các biện pháp đầu tư liên quan
đến thương mại (TRIMs) của WTO đề cập đến tác động của các yêu cầu quy tắc đối với
đầu tư và liên quan đến các dòng thương mại. Hành loạt thỏa thuận thương mại và các
thỏa thuận đầu tư khu vực và song phương bao trừm các biện pháp về phạm vi ảnh hưởng
đến các tác động của các quy tắc đầu tư.
Lợi ích then chốt của cải cách chính sách thương mại như kiểu được tạo ra bởi
TRIM và các chương đầu tư trong các thỏa thuận thương mại khu vực là chúng tìm kiếm
giảm bớt sự phân biệt đối xử đối với các hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài, nổi
bật là, các chính sách hạn chế buộc đầu tư nước ngoài phải sử dụng các đầu vào tại địa
phương hay áp đặt một mức độ xuất khẩu sản phẩm nhất định. Thỏa thuận TRIM công
nhận rằng một số biện pháp đầu tư nhất định có thể gây ra các tác động hạn chế và làm
méo mó hoạt động thương mại.
Nói chung, việc trung thành với các nguyên tắc của TRIM dường như làm tăng hoạt
động của các hãng khi chúng vận hành như các động lực thúc đẩy cạnh tranh toàn cầu các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status