Huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và vươn lên phát triển mạnh mẽ
trong những năm tiếp theo thì việc phát triển hệ thống các doanh nghiệp đóng vai trò
quyết định. Thị trường chứng khoán Việt Nam được xây dựng và phát triển với sứ
mệnh tạo ra một kênh dẫn vốn quan trọng cho các doanh nghiệp và cho nền kinh tế, là
một bước quan trọng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam.
Trải qua thời gian hơn 12 năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam về cơ
bản đã định hình được một kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế bên cạnh kênh ngân
hàng truyền thống, góp phần tích cực vào công cuộc cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, trong thời gian qua việc huy động
vốn của doanh nghiệp trải qua những biến động của thị trường chứng khoán còn gặp
nhiều vướng mắc với quy mô còn nhỏ bé và hình thức còn sơ khai dẫn đến kết quả huy
động vốn qua kênh quan trọng này còn nhiều hạn chế.
Với đề tài “Huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán ở
Việt Nam” tác giả mong muốn đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn
để góp phần giải quyết vấn đề nêu trên.
2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
Mục tiêu của Luận án:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị
trường chứng khoán.
- Phân tích thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng
khoán ở Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn của các doanh
nghiệp trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị
trường chứng khoán ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Quá trình huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường
chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn kể từ khi thành lập năm 2000 đến 2012.

minh bạch và hiệu quả.
5. Giới thiệu bố cục luận án
Tên luận án: “Huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán ở
Việt Nam”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án bao gồm 03 chương:
Chương 1. Lý luận chung về huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng
khoán.
Chương 2. Thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng
khoán ở Việt Nam
Chương 3. Giải pháp tăng cường huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường
chứng khoán ở Việt Nam 3
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán trên thế giới đã có lịch sử hàng trăm năm và khẳng định
vai trò không thể thiếu trong các nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Quá trình
phát triển của thị trường chứng khoán trải qua nhiều bức thăng trầm, song trải qua các
cuộc khủng hoảng thị trường lại được phục hồi và tiếp tục phát triển.
1.1.2. Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại
chứng khoán. Bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ
giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin
về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán là hình thức phát
triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
1.1.3. Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán

- Sở giao dịch chứng khoán;
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán;
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán;
- Các tổ chức hỗ trợ;
- Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm.
1.1.5. Vai trò của thị trường chứng khoán
- Tích tụ tập trung và phân phối vốn,chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế.
- Thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn;
- Tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp;
- Cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn quốc tê với chi phí rẻ hơn;
- Tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính;
- Dự báo về các chu kỳ kinh doanh trong tương lai;
Thị trường chứng khoán cũng có những tác động tiêu cực nhất định, thông tin
được chuyển tải tới các nhà đầu tư không đầy đủ dẫn đến giá cả chứng khoán không
phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty và không trở thành cơ sở để phân phối một
cách có hiệu quả các nguồn lực.
1.2. PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Các kênh huy động vốn của doanh nghiệp và đặc điểm của huy động vốn
qua thị trường chứng khoán
- Vốn hoạt động của doanh nghiệp được cấu thành bởi: Vốn tự có (hay còn gọi là
vốn chủ sở hữu); Vốn tài trợ qua hệ thống ngân hàng; Vốn tài trợ qua kênh cho thuê tài
chính (leasing); Vốn huy động qua thị trường chứng khoán (thông qua phát hành chứng
khoán ra công chúng)
- Đặc điểm huy động vốn qua thị trường chứng khoán: Chủ động, kịp thời; Thỏa
mãn yêu cầu thời gian, độ dài của dự án đầu tư; Khối lượng huy động lớn; Chi phí huy
động thấp. Tuy nhiên, cơ chế huy động vốn phức tạp, đòi hỏi uy tín của doanh nghiệp,
việc phát hành phải thông qua các trung gian tài chính.


hỗ trợ tổ chức chào bán trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng. Bao gồm
các hình thức: Bảo lãnh với cam kết chắc chắn; Bảo lãnh theo phương thức dự phòng;
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất; Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không; Bảo
lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa.
6
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HUY ĐỘNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.3.1. Nhóm yếu tố từ tổ chức phát hành
- Nhu cầu huy động vốn: Qui mô vốn cần huy động; Thời gian thực hiện huy
động.
- Chi phí phát hành chứng khoán: bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, tư vấn,
quảng cáo, in ấn, phí kiểm soát, phí niêm yết Các chi phí này nhiều hay ít tuỳ thuộc
vào nhiều yếu tố và có thể chiếm đến 10% tổng giá trị phát hành.
- Thời gian sử dụng vốn huy động: Nếu nhu cầu huy động vốn của doanh nghiệp
chỉ là sử dụng trong thời gian ngắn thì doanh nghiệp thường dùng phương thức vay vốn
ngân hàng; nếu thời gian sử dụng là dài hơn, phục vụ cho các dự án dài hạn thì phương
thức huy động bằng phát hành chứng khoán là phù hợp nhất.
- Chi phí vốn huy động: được xác định trên nguyên tắc cổ tức của các cổ đông cũ
ít nhất không bị giảm.
- Sự hình thành các cổ đông kiểm soát mới: Một trong những yếu tố quyết định đến
sự lựa chọn phương thức huy động vốn của doanh nghiệp là vấn đề kiểm soát công ty.
- Khả năng thành công kế hoạch huy động vốn trên thị trường chứng khoán gắn
với thói quen đầu tư tại các quốc gia.
- Tính chủ động trong sản xuất – kinh doanh: Với số vốn huy động được trên thị
trường chứng khoán, doanh nghiệp thực hiện đầu tư vào dự án của mình mà không chịu
nhiều sự kiểm soát của nhà đầu tư.
- Chi phí giao dịch trên TTCK ảnh hưởng tới quyết định của các nhà đầu tư khi

1.3.4. Nhóm yếu tố khác
- Các cơ quan quản lý, điều hành thị trường; Các cơ quan vận hành thị trường: Các
sở giao dịch chứng khoán, trung tâm lưu ký chứng khoán; Diễn biến tình hình kinh tế vĩ
mô; Các tổ chức hỗ trợ.
8
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

2.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
2.1.1. Quá trình hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam
Từ đầu những năm 1990 đến năm 1999 là bước chuẩn bị để đến năm 2000 thị
trường chứng khoán Việt Nam chính thức vận hành với sự kiện phiên giao dịch
chứng khoán chứng khoán đầu tiên trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh.
2.1.2. Diễn biến giao dịch của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012
- Giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE):
HOSE bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2000 và cho đến thời điểm cuối năm 2012, Sở đã
thực hiện được 2.675 phiên giao dịch chứng khoán. Tính đến 31/12/2012 có 308 cổ phiếu,
6 chứng chỉ quỹ, 39 trái phiếu đang được niêm yết và giao dịch trên HOSE với tổng giá trị
niêm yết đạt 258.720 tỷ đồng.
- Giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX): Tính đến
31/12/2012, tổng số công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội là 396 công

bạch, độ tin cậy của các trung gian tài chính này còn nhiều hạn chế.
2.2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
2.2.1. Nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán
Việt Nam
- Đảm bảo tỷ lệ an toàn tài chính: Số liệu tổng hợp trên báo cáo tài chính thời
điểm 31/12/2012 của 50 doanh nghiệp có quy mô hàng đầu niêm yết trên 02 Sở Giao
dịch chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh cho
thấy nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ vốn vay/vốn chủ sở hữu ở mức cao đòi hỏi phải tăng
được nguồn vốn chủ sở hữu mới cải thiện được an toàn tài chính.
- Mở rộng sản xuất kinh doanh: qua tổng hợp cho thấy hầu như 100% các doanh
nghiệp khi thực hiện niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích
huy động vốn trên thị trường chứng khoán để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh;
kết quả phỏng vấn lãnh đạo một số doanh nghiệp niêm yết và gửi thư điều tra cho thấy
các đa số doanh nghiệp được khảo sát (83,3%) đều có nhu cầu huy động vốn trên thị
trường chứng khoán.
2.2.2. Phương thức huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng
khoán ở Việt Nam
* Phát hành riêng lẻ: Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc
quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho
một trong các đối tượng: Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; dưới 100 nhà đầu
tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.
* Phát hành ra công chúng: Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào
bán chứng khoán theo một trong các phương thức: Thông qua phương tiện thông tin đại
chúng, kể cả Internet; chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không
kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; chào bán cho một số lượng nhà đầu tư 10
không xác định.

Phương án phát hành cho cả cổ đông hiện hữu và cổ đông mới trong cùng một đợt
phát hành cũng hay được các tổ chức phát hành lựa chọn vì tính chất linh hoạt.
Trường hợp 8: Phát hành kết hợp cho cổ đông hiện hữu và cổ đông mới với giá
cao hơn mệnh giá.
Với mức giá cao hơn mệnh giá, tổ chức phát hành sẽ thu được một khoản thặng dư 11
vốn, điều này có thể làm hài lòng các cổ đông hiện hữu.
Trường hợp 9: Phát hành kết hợp cho cổ đông hiện hữu và cổ đông mới với giá
phát hành thấp hơn mệnh giá
Trong bối cảnh giá thị trường của cổ phiếu thấp hơn mệnh giá, hoạt động kinh
doanh của tổ chức phát hành đang gặp khó khăn thì việc tìm được sự đồng thuận trong
các cổ đông hiện hữu về việc chấp thuận cho cổ đông mới bỏ vốn vào doanh nghiệp sẽ
bớt khó khăn hơn.
Trường hợp 10: Phát hành kết hợp cho cổ đông hiện hữu và cổ đông mới với các
mức giá linh hoạt theo từng đối tượng.
Đây là phương án phát hành có thể giải quyết được các khúc mắc về đảm bảo
“công bằng” cho cổ đông cũ và cổ đông mới. Mức giá phát hành cũng phản ánh mức độ
“ưu tiên” cho từng đối tượng phát hành.
2.2.3. Kết quả huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán ở
Việt Nam
* Thống kê kết quả huy động vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Đến hết năm 2012 đã có 710 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch
chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với tổng giá trị thị trường đạt 26%
GDP so với cùng kỳ.
- Nếu như giai đoạn năm 2000 - 2004 huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị
trường chứng khoán hầu như không đáng kể thì giai đoạn 2005 đến nay tổng lượng vốn
huy động đã đạt 158.938 tỷ đồng, trong đó riêng năm 2007 đạt 55.846 tỷ đồng.
- Từ năm 2008 - 2009 huy động vốn trên thị trường chứng khoán lại giảm mạnh

- Nhà đầu tư cá nhân: quy mô số lượng nhà đầu tư trên dân số mới chiếm tỷ lệ
nhỏ, với dân số Việt Nam là 90 triệu dân thì số tài khoản gần 1,3 triệu chỉ chiếm
khoảng 1,44% với các nhóm: Nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp; nhà đầu tư cá
nhân là chủ các doanh nghiệp tư nhân; nhà đầu tư cá nhân là cán bộ, công nhân
viên tại các cơ quan và doanh nghiệp; Nhà đầu tư đầu tư cá nhân theo phong trào.
- Nhà đầu tư tổ chức: Khoảng 3.500 tổ chức đầu tư bao gồm: Các doanh nghiệp
niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán; Các quỹ được quản lý, điều hành bởi
các công ty quản lý quỹ; các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại; các công ty
đầu tư.
- Nhà đầu tư nước ngoài: Số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư

nước ngoài
tăng nhanh qua các năm gần đây, đến cuối năm 2012 là hơn 16.100 tài khoản, gấp 14
lần số tài khoản cuối năm 2005, trong đó số tài khoản của nhà đầu tư tổ chức là gần
1.800 tài khoản.
2.2.2. Tổ chức phát hành
Từ 5 doanh nghiệp niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí
Minh năm 2000, đến 2012 có 314 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng
khoán Tp. Hồ Chí Minh và 396 doanh nghiệp trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Vốn hóa thị trường từ mức 1.247 tỷ đồng năm 2000 đã tăng lên tới 764.946 tỷ đồng.
Qua hơn 12 năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng kiến sự trưởng
thành vượt bậc của các doanh nghiệp niêm yết từ tăng trưởng doanh thu lợi nhuận cho
tới quản trị doanh nghiệp. Từ chỗ chỉ có một vài doanh nghiệp ở một số ngành sản
xuất, đến nay, trên hai sở giao dịch đã hội tụ hàng trăm doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh 13
vực, ngành nghề khác nhau.
2.2.3. Hệ thống công ty chứng khoán
Năm 2012, toàn thị trường có 105 công ty chứng khoán đăng ký hoạt động với

2.2.4.4. Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam
Ngày 27/7/2005, Trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập được thành lập; Ngày 14
18/12/2008, thành lập Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam trên cơ sở chuyển đổi, tổ
chức lại Trung tâm lưu ký chứng khoán.
Đến năm 2012, đã có 8,48 tỷ chứng khoán được lưu ký tại VSD, tăng 118,5%
so với mức 3,88 tỷ chứng khoán của năm 2011, nâng tổng số chứng khoán lưu ký tại
VSD lên khoảng 27 tỷ chứng khoán với giá trị tài sản lưu giữ tại VSD là trên 641
nghìn tỷ đồng.
2.2.4.5. Các công ty kiểm toán
Đến thời điểm năm 2012, có 43 tổ chức được chấp nhận kiểm toán các công ty
trên thị trường chứng khoán. Các công ty kiểm toán thực hiện cung cấp dịch vụ
kiểm toán báo cáo tài chính đối của các doanh nghiệp niêm yết theo qui định là
các báo cáo giữa năm và báo cáo cuối năm.
2.4. MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HUY ĐỘNG
VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
2.4.1. Từ phía tổ chức phát hành
- Đầu tư dàn trải dẫn đến thua lỗ: Nhiều doanh nghiệp niêm yết đã “lao đao”
khi thực hiện chiến lược đa dạng hóa hoạt động, kinh doanh dàn trải nhất là mở rộng
sang hoạt động kinh doanh bất động sản trong thời gian qua.;
- Thiếu các phương án huy động vốn kinh doanh có hiệu quả: Thiếu vắng những
dự án kinh doanh thực sự đem lại bước đột phá cho doanh nghiệp dẫn đến khó thuyết
phục các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư mua cổ phiếu mới do doanh nghiệp phát hành
- Sử dụng vốn huy động không đúng mục đích: Đây là việc dẫn đến mất lòng tin
của các cổ đông, các nhà đầu tư, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động huy động vốn nói
chung trên thị trường.
- Lựa chọn thời điểm, quy mô phát hành chưa phù hợp: Do đợt phát hành được

tư tổ chức.
- Hệ thống nhà đầu tư tổ chức còn thiếu đa dạng: Toàn thị trường mới có 24 quỹ
đầu tư, việc huy động vốn lập quỹ đầu tư gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu các quỹ có
nguồn vốn nước ngoài mà chưa huy động được nguồn lực trong nước.
- Tiềm lực tài chính của phần lớn nhà đầu tư còn yếu: Với mức thu nhập bình
quân đầu người còn thấp khoảng 1.517 đô la Mỹ vào năm 2012 nên nguồn lực đầu tư
qua kênh thị trường chứng khoán còn yếu.
- Hiện tượng lũng đoạn thị trường của một số nhà đầu cơ: Hiện tượng làm giá,
thao túng cổ phiếu đã diễn ra với quy mô và tần suất có xu hướng ngày càng tăng.
- Thiếu thông tin, kiến thức, kinh nghiệm đầu tư: giao dịch theo tin đồn, phong
trào mà không quan tâm đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp còn diễn ra khá phổ biến.
2.4.3. Từ hệ thống các công ty chứng khoán
- Tiềm lực tài chính của hệ thống các công ty chứng khoán còn hạn hẹp: Nhìn
chung tiềm lực tài chính của đa số các công ty chứng khoán trên thị trường còn hạn hẹp
(bình quân 352 tỷ đồng nhưng phân bố không đều) qua đó thiếu nguồn lực để đầu tư
thúc đẩy việc giúp các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường chứng khoán. 16
- Một số công ty chứng khoán gây mất niềm tin cho nhà đầu tư: Hiện tượng lạm
dụng tiền và cổ phiếu trên tài khoản của khách hàng, không thực hiện được các lệnh
chuyển tiền thanh toán bù trừ, khách hàng không rút được tiền trên tài khoản, nhân viên
công ty giả mạo chữ ký khách hàng để trục lợi, tiếp tay cho mua bán khống trên thị
trường…
- Chưa chú trọng đầu tư cho công tác tư vấn phát hành: Đa số các công ty chứng
khoán hầu như chỉ chú trọng đến hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động có thể
nhanh thu được doanh số trong khi hoạt động tư vấn phát hành đòi hỏi phải mất khoản
thời gian dài.
- Cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến chi phí phát hành thấp không đủ trang

khoán trên thị trường
.
Hai Sở Giao dịch với phương thức vận hành gần như tương tự
nhau cùng tồn tại làm tăng chi phí vận hành chung cho thị trường.
* Chính sách thuế và phí trong lĩnh vực chứng khoán
- Nhà đầu tư khi mua cổ phiếu tức là góp vốn vào doanh nghiệp, doanh nghiệp
kinh doanh có lãi đã phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng nhà đầu tư tiếp tục
phải nộp thuế khi được chia cổ tức.
- Khi nhà đầu tư bán lỗ vẫn phải nộp thuế thu nhập vì rất khó tính toán chênh lệch
giữa bán và mua cũng như thủ tục rườm rà khi thực hiện phương thức nộp thuế này.
- Các khoản phí phải nộp cho Sở Giao dịch, Trung tâm lưu ký cũng là những
khoản chi phí đáng kể trong điều kiện thị trường khó khăn, thanh khoản kém.
2.4.5. Một số nguyên nhân khác
- Diễn biến của lãi suất và lạm phát: Tình trạng lạm phát cao trong nền kinh tế
trong những năm qua gây ra những bất ổn kinh tế vĩ mô, vốn không chu chuyển qua
thị trường tài chính và thị trường hoạt động kém hiệu quả.
- Vai trò của các Hiệp hội: Vai trò của các hiệp hội đại diện cho 3 chủ thể trên thị
trường chứng khoán là Hiệp hội doanh nghiệp niêm yết (người mua), Hiệp hội các nhà
đầu tư tài chính (người bán), Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán (tổ chức trung gian)
còn chưa thể hiện rõ nét. 18
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

3.1. ĐỊNH HƯỚNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1.1. Mục tiêu phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2020

phát triển đội ngũ lao động của DN và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý
DN: Xây dựng tốt mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động, luôn tôn trọng và
khuyến khích tính tự chủ sáng tạo; Xây dựng hệ thống trao đổi và xử lý thông tin trong
DN; Vận dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh.
- Quản trị môi trường: Các khía cạnh thuộc về môi trường kinh doanh ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh của DN như: cơ chế chính sách của Nhà nước, tình hình kinh
tế thế giới, trao đổi quốc tế, hệ thống chính trị; mối quan hệ song phương giữa các quốc
gia; các hiệp định đa phương điều khiển mối quan hệ giữa các nhóm quốc gia; các tổ
chức quốc tế
* Nghiên cứu, tìm tòi các dự án đầu tư, kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh
hiệu quả: Để xây dựng được các phương án, dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
đòi hỏi doanh nghiệp phải có đội ngũ lãnh đạo có tầm nhìn, có tâm có tài, hết lòng vì
doanh nghiệp mới có thể đưa ra những quyết sách hợp lý giúp phát triển doanh nghiệp.
*Nâng cao vai trò của Ban Kiểm soát doanh nghiệp, khuyến khích sự giám sát của
cổ đông đối với doanh nghiệp:
- Ban kiểm soát công ty phải hoạt động độc lập nhằm kiểm tra tính hợp lý, hợp
pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh
doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.
- Tuân thủ các quy định của pháp luật, không được gây gián đoạn, khó khăn
trong việc quản lý, điều hành doanh nghiệp.
- Công ty cổ phần phải khuyến khích cổ đông trao đổi về tình hình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, những vấn đề cổ đông thắc mắc phải được giải thích rõ ràng,
thỏa mãn yêu cầu của các cổ đông.
- Để tăng cường được vai trò của các cổ đông trong việc giám sát hoạt động của
Công ty, cần phát huy được vai trò của Ban Kiểm soát Công ty trong vai trò làm cầu
nối giữa các cổ đông và doanh nghiệp.
* Đảm bảo hài hòa lợi ích của cổ đông và cán bộ nhân viên công ty: các doanh
nghiệp cần tìm hiểu để theo chuẩn mực chung của thị trường tránh thông tin không có
lợi về việc phân chia lợi nhuận sẽ gây ra khó khăn trong việc huy động vốn.
* Chấp hành nghiêm túc các quy định về công bố thông tin theo quy định của

phương án khả thi;
* Nâng cao chất lượng tư vấn phát hành
- Nâng cao chất lượng tư vấn phát hành thể hiện ở hiện ở việc giúp doanh
nghiệp xây dựng được bản công bố thông tin phát hành rõ ràng, minh bạch, có tính
thuyết phục cao.
- Để nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn phát hành, các công ty chứng khoán cần xây
dựng cho mình quy trình dịch vụ tư vấn phát hành từ khâu tiếp cận khách hàng đến khi
hoàn thành đợt phát hành, thực hiện các biện pháp bình ổn giá sau phát hành.
* Đẩy mạnh triển khai nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
- Việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các công ty chứng khoán là
cam kết, khẳng định rõ ràng và có sức thuyết phục nhất đối với nhà đầu tư. 21
- Tăng cường năng lực tài chính cho các tổ chức bảo lãnh phát hành: tăng tỷ lệ lợi
nhuận giữ lại; sáp nhập, hợp nhất các công ty chứng khoán.
- Xây dựng được quy trình bảo lãnh phát hành hợp lý an toàn và phù hợp điều kiện
thực tế, tuân thủ các quy định của pháp luật.
- Mặt khác, các công ty chứng khoán cần tăng cường hợp tác với nhau để thực
hiện các phương án đồng bảo lãnh phát hành.
* Lựa chọn phương thức và công cụ phát hành: Chú ý đến phương thức và công
cụ phát hành. Công ty tư vấn phát hành phải phân tích ưu nhược điểm của từng phương
thức, công cụ phát hành qua đó đề xuất, tư vấn cho doanh nghiệp phương án tối ưu
nhất.
*Xác định giá phù hợp với đợt phát hành: Giá phát hành phải đảm bảo được thị
trường chấp nhận, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa cổ đông mới và cổ đông cũ. Đưa ra
mức giá hợp lý, phù hợp với phương thức phát hành là yếu tố quyết định đến thành
công của đợt phát hành, quyết định phương án huy động vốn qua thị trường chứng
khoán có thành công hay không.
* Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quảng bá thông tin về đợt phát hành ra thị

UBCKNN và các Sở Giao dịch cần có quy chế phối hợp nhằm rút ngắn khoảng thời
gian này theo hướng gắn cổ phiếu phát hành mới mặc nhiên được lưu ký và niêm yết
mà không cần thêm thủ tục.
- Cho phép phát hành cổ phiếu thấp hơn mệnh giá: tháo gỡ vướng mắc trong huy
động vốn của nhiều doanh nghiệp trong điều kiện hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó
khăn, doanh nghiệp rất cần nguồn vốn để cơ cấu lại hoạt động, nâng cao năng lực tài
chính cho doanh nghiệp.
* Đối với hệ thống nhà đầu tư trên thị trường
- Nâng cao hiệu quả công tác giám sát thị trường chứng khoán: trang bị phần mềm
hiện đại để phát hiện những giao dịch bất thường; chuyên môn hóa việc giám sát; liên
hệ với các thành viên thị trường để trao đổi tiếp nhận các thông tin phản ánh những
hiện tượng vi phạm các quy chế giao dịch.
- Tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư chứng khoán: UBCKNN nên có các buổi
họp báo định kỳ hàng tháng để trao đổi công tác quản lý nhà nước đối với thị trường
chứng khoán, công bố số liệu huy động vốn qua thị trường chứng khoán…
- Xem xét đề xuất miễn giảm các loại thuế, phí cho nhà đầu tư chứng khoán.
* Đối với các công ty chứng khoán
- Đẩy nhanh thực hiện đề án sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống các công ty chứng khoán:
tiến hành rà soát đánh giá năng lực tài chính, thực trạng hoạt động kinh doanh, năng lực
quản lý qua đó phân loại các công ty chứng khoán để có hướng sắp xếp, cơ cấu lại hệ
thống các công ty chứng khoán.
- Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của lãnh đạo và nhân viên các công ty chứng
khoán: UBCKNN phối hợp với các Hiệp hội kinh doanh chứng khoán và Hiệp hội các
nhà đầu tư tài chính cần có các giải pháp nhằm chuẩn hóa, nâng cao đạo đức nghề 23
nghiệp cho nhân viên công ty chứng khoán.
- Nghiêm túc yêu cầu các công ty chứng khoán thực hiện tách bạch quản lý tiền
gửi của nhà đầu tư tại các ngân hàng: cần phải có sự vào cuộc của hệ thống ngân hàng

trường chứng khoán đối với việc huy động vốn của các doanh nghiệp. Hệ thống những
vấn đề lý luận về các phương thức huy động vốn của các doanh nghiệp đồng thời làm
rõ vai trò của các chủ thể của các chủ thể trong quá trình huy động vốn của doanh
nghiệp. Bên cạnh đó luận án cũng đưa vào một số kinh nghiệm quốc tế trong việc huy
động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán nhằm để tham khảo để vận
dụng đưa ra các giải pháp cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thứ hai, phân tích thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Luận án đã khái quát một số kết quả huy động vốn của thị
trường chứng khoán Việt Nam kể từ khi thành lập thị trường, phân tích một số doanh
nghiệp tiêu biểu trong huy động vốn trên thị trường. Đứng trước tình hình khó khăn
trong huy động vốn của các doanh nghiệp từ giữa năm 2010 trở lại đây, luận án đã phân
tích và làm rõ nguyên nhân của các khó khăn trong việc huy động vốn, chỉ ra những nút
thắt cản trở sự phát triển của hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Thứ ba, Luận án đã đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn,
vướng mắc trong quá trình huy động vốn của các doanh nghiệp. Các giải pháp cũng
hướng đến tính bền vững trong huy động vốn của từng doanh nghiệp nói riêng và cả thị
trường chứng khoán nói chung, khắc phục một số hiện tượng tiêu cực trên thị trường
chứng khoán. Luận án cũng đưa ra những đề xuất rất cụ thể đối với từng chủ thể tham
gia vào quá trình huy động vốn của của các doanh nghiệp: Tổ chức phát hành, nhà đầu
tư, công ty chứng khoán và các cơ quan quản lý nhà nước.
Tác giả tin tưởng rằng, với hệ thống các giải pháp đã được đưa ra tại Luận án sẽ
góp phần giúp thị trường chứng khoán hoạt động sôi động trở lại, thị trường chứng
khoán thực sự trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế, góp phần
giải quyết bài toán về vốn để đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại vào năm 2020.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status