LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán lần lượt thành lập ở các nước Châu Âu
như: Hà Lan, Anh, Đức, Pháp, và mãi đến thế kỉ 19 ở nước Mỹ với sự
khai trương của Sở giao dịch chứng khoán NewwYork ( Sở giao dịch
chứng khoán lớn nhất thế giới hiện nay ). Đến nay thị trường chứng
khoán đã được thiết lập ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường
và có thể nói thị trường chứng khoán gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, không có một nước nào có nền kinh tế phát
triển mà không có sự hoạt động của thị trường chứng khoán. Nhận
thức được điều này, ngay từ khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập
trung sang nền kinh tế thị trường và thực hiện quá trình “Đổi mới”,
Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm của các nước
trong việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường chứng khoán.
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), của Liên minh Châu Âu, của các
khối thị trường chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển
với tốc độ và hiệu quả cao. Vì vậy nhu cầu về vốn để mở rộng sản
xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh là rất cần thiết, với
một trong những vai trò quan trọng là tạo ra các công cụ có tính thanh
khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn
của vốn phù hợp với yêu cầu phát trển kinh tế có thể làm tăng vốn tự
có của doanh nghiệp và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao
cũng như sự kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại, thị
trường chứng khoán khuyến khích tính cạnh tranh của các doanh
nghiệp trên thị trường. Sự tồn tại của thị trường chứng khoán cũng là
yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tạo cơ
hội cho Chính Phủ huy động các nguồn tài chính mà không tạo áp lực
về lạm phát. Với vai trò đó đề tài “ Khả năng huy động vốn trên thị
trường chứng khoán ở Việt Nam - Giải pháp và thực trạng” xin điểm
qua tình hình huy động vốn của các doanh nghiệp cũng như Chính
Phủ trong sáu năm qua và một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng
triển TTCK ở Việt Nam.
Ngày 8/3/2005, TTCK HN chính thức khai trương với việc đưa hệ
thống đấu giá cổ phiếu và đấu thầu trái phiếu đi vào hoạt động.
2. Một số định nghĩa:
2.1 Chứng khoán:
Chứng khoán là các chứng chỉ ( vật chất hoặc điện tử ) hoặc các bút
toán ghi sổ xác định quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài
sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
2.2. Thị trường chứng khoán (TTCK):
TTCK là nơi mà các chứng khoán được phát hành và mua bán.
2.2.1. Thị trường sơ cấp:
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát
hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát
hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
2.2.2. Thị trường thứ cấp:
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng
khoán đã phát hành.
Về bản chất TTCK thứ cấp không trực tiếp tạo vốn cho đơn vị phát
hành và cho nền kinh tế mà nó chỉ giúp chuyển dịch quyền sở hữu vốn từ
chủ thể này sang chủ thể khác.
Về bản chất, mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp là mối
quan hệ nội tại, biện chứng. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ không có thị
trường thứ cấp, đồng thời, thị trường thứ cấp lại tạo điều kiện phát triển cho
thị trường sơ cấp. Mục đích cuối cùng của các nhà quản lý là phải tăng
cường hoạt động huy động vốn trên thị trường sơ cấp, vì chỉ có tại thị
trường này, vốn mới thực sự vận động từ người tiết kiệm sang người đầu
tư, còn sự vận động của vốn trên thị trường thứ cấp chỉ là tư bản giả, không
tác động trực tiếp tới việc tích tụ và tập trung vốn.
3. Phân loại chứng khoán:
- Các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính phát hành cổ phiếu, trái
phiếu nhằm huy động vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của mình.
4.2. Nhà đầu tư:
Là người sở hữu chứng khoán, người mua và dự kiến sẽ mua chứng
khoán cho mình. Có 2 nhóm:
- Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi hoặc tạm thời
nhàn rỗi tham gia TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Nhà đầu tư có tổ chức: là các tổ chức đầu tư thường xuyên mua –
bán chứng khoán với quy mô thỏa đáng trên thị trừơng nhằm mục tiêu tìm
kiếm lợi nhuận.
4.3 Công ty chứng khoán:
Là loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán với
các nghiệp vụ chính là môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, quản
lý danh mục đầu tư chứng khóan, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn
đầu tư chứng khoán, hoạt động trung gian hoặc đại diện mua chứng khoán
cho khách hàng để hưởng phí.
4.4. Cơ quan quản lý Nhà nước về CK và TTCK: UBCKNN.
4.5. Một số chủ thể khác ( NHTM, Sở GDCK, hệ thống phụ trợ…)
5. Vai trò của TTCK:
Thị trường chứng khoán là nơi thu hút nguồn vốn trong xã hội để đầu
tư vào sản xuất kinh doanh, là công cụ giúp Nhà nước thự hiện chiến lược
huy động vốn phục vụ cho chương trình phát triển kinh tế xã hội, phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thị trường chứng khoán giúp huy động vốn trung và dài hạn cho các
doanh nghiệp cổ phần mà ngân hàng thương mại chưa thể đáp ứng được.
Là phương tiện thu hút vốn nước ngoài thông qua các nhà đầu tư nước
ngoài mua chứng khoán Việt Nam.
Thị trường chứng khoán góp phần điều hoà vốn giữa các ngành kinh
tế quốc doanh, do đó thúc đẩy sự bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, một động
lực để cạnh tranh phát triển.
Huy động vốn thể hiện thông qua hành vi phát hành trên thị trường sơ
cấp. Có 2 loại phát hành:
- Phát hành riêng lẻ: là hình thức phát hành trong đó các chứng
khoán được bán trong một phạm vi giới hạn một số nhà đầu tư nhất định
với điều kiện hạn chết mang tính chất đọc.
Phát hành ra công chúng: là hình thức phát hành trong đó chứng khóan
được bán rộng rãi cho quảng đại quần chúng đầu tư với quy mô đầu tư lớn
và thường cho một số lượng nhất định các nhà đầu tư, đảm bảo yêu cầu
công khai, minh bạch và tuân thủ pháp luật chứng khoán, TTCK.
Điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng:
Thực hiện đăng ký phát hành CK ra công chúng.
Quy mô vốn điều lệ tối thiểu 5tỷ đồng.
� Hoạt động kinh doanh năm liền trước năm phát hành phải có lãi.
Có phương án khả thi về sử dụng vốn từ đợt phát hành .
Phát hành qua tổ chức trung gian.
Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng:
Thực hiện đăng ký phát hành với UBCKNN
Quy mô vốn điều lệ tối thiểu 10tỷ đồng
Hoạt động kinh doanh năm liền trước phát hành phải có lãi
Có phương án khả thi về sử dụng vốn và trả nợ vố thu được từ đợt
phát hành
Phát hành qua tổ chức trung gian và có ít nhất 50 người sở hữu trái
phiếu
Phải có tổ chức bảo lãnh phát hành
Tổ chức phát hành trái phiếu phải xác định đại diện người sở hữu trái
phiếu
3. Các phương thức phát hành ra công chúng:
3.1. Phát hành trực tiếp:
Đây là phương thức phát hành mà đơn vị phát hành trực tiếp thực
hiện các thủ tục và bán chứng khoán ra công chúng theo giá chào bán xác
Trên thị trường sơ cấp, cổ phiếu được bán ra chủ yếu thông qua hoạt
động đấu giá cổ phần.
1. DNNN thực hiện cổ phần hóa bán đấu giá thông qua tổ chức trung
gian tài chính và qua hai trung tâm GDCK:
Cách đây 15 năm, tại hội nghị lần thứ II của Ban chấp hành Trung Ương
Đảng khóa VII ( tháng 11/1991 ) đã đề ra chủ trương cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước. Đây được coi là cột mốc quan trọng trong quá trình
chuyển đổi tư duy về quản lý kinh tế, chuyển đổi cơ cấu sở hữu trong quan
hệ doanh nghiệp. Nhưng đến 12/2005, chúng ta đã cổ phần hóa được 2.600
DNNN.
Nghị định 187/2004/NĐ- CP là một bước đi quan trọng trong việc
chuyển công ty Nhà nước sang công ty cổ phần. Quy định như sau: đối với
doanh nghiệp bán đấu giá cổ phần có giá trị dưới 1 tỷ có thể thực hiện trong
nội bộ công ty.Đối với doanh nghiệp thực hiện bán đấugiá cổ phần có giá
trị trên 1 tỷ đến 10 tỷ phải được thực hiện thông qua các trung tâm GDCK
HN và TPHCM. Các doanh nghiệp trong trường hợp2 ( từ 1-10 tỷ) cũng có
thể đấu giá theo hình thức này nếu muốn.
Như vậy, năm 2005 là năm đầu tiên thực hiện hình thức bán đấu giá
cổ phần của các DNNN thực hiện cổ phần hóa thông qua các trung tâm
GDCK HN và TPHCM, trong 2005 đã thực hiện được 234 đợt đấu giá cổ
phần với số lượng cổ phần chào bán và số lượng cổ phần bán được như
sau:
1
Tổng số đợt đấu giá đã thực hiện
Đợt
234
2
Tổng số cổ phần chào bán
Cổ phần
352554154
Công ty mía đường tỉnh Tây Ninh.
Công ty xây lắp tỉnh Thừa Thiên Huế.
Công ty xi măng Hải Dương.
2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang hình thức công
ty cổ phần hực hiện bán đấu giá qua các trung gian tài chính hoặc qua
các trung tâm giao dịch:
Trong số 6 doanh nghiệp đó có TAYA thực hiện bán đấu giá cổ phần
kết hợp với niêm yết trên.
Theo dự kiến khoảng tháng 5/2006, sẽ có nhiều công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán.
Tháng 5/2006 Hoàng Anh - Gia Lai dự định phát hành khoảng 50 tỷ
đồng để thu hút vốn thực hiện các dự án lớn mà công ty đã đặt ra nhất là dự
án xây dựng 10 khách sạn lớn nằm rải rác trong nước. Hiện nay trị giá vốn,
tài sản của công ty khoảng 400 tỷ đồng. Hoàng Anh- Gia Lai có 5 chi
nhánh kinh doanh trên cả nước, 1 nhà máy chế biến gỗ với qui mô 1.300
công nhân và rộng 40.000m2 ở Gia Lai, một nhà máy chế biến mủ cao su,
một nhà máy chế biến gỗ ở Bình Định, một nhà máy chế biến gỗ ở
TP.HCM, 4 khách sạn lớn đã và đang xây dựng ở Giai Lai, Bình Định,
TP.Đà Nẵng, Lâm Đồng và 1 câu lạc bộ bóng đá. Kế hoạch lâu dài của
Hoàng Anh - Gia Lai là chuyển đổi công ty sang mô hình công ty cổ phần.
Công ty cổ phần Full Power cũng vừa hoàn tất đợt phát hành 2 triệu cổ
phiếu mới cho cán bộ công nhân viên và các cổ đông bên ngoài. Vốn điều
lệ hiện thời của Full Power là 100 tỷ đồng và với cơ cấu vốn hiện nay.
Theo sự tư vấn của công ty Chứng khoán Sài Gòn (SII) công ty Full Power
đủ điều kiện tham gia niêm yết trên TTCK. Dự kiến sẽ lên sàn vào tháng
5/2006
Hiện công ty Taycera vốn điều lệ 250 tỷ đồng cũng đang xây dựng
phương án phát hành thêm 50 tỷ đồng cổ phiếu để huy động vốn đầu tư
một nhà máy mới sản xuất gạch men. Việc phát hành cổ phiếu mới cũng sẽ
giúp Công ty có cơ cấu cổ đông hợp lý để tham gia niêm yết trên TTCK.
tư.Năm 2000 và 2001, số huy động vốn qua kênh này bằng 0, năm 2002 là
0,035 nghìn tỷ đồng. Nếu so sánh với dư nợ cho vay trung và dài hạn đa là
con số không đáng kể, so với tổng dư nợ cho vay của cả hệ thống ngân
hàng thì con số là không có ý nghĩa gì. Hoạt động của thị trường sơ cấp rất
mờ nhạt trong hai năm đầu đi vào hoạt động có duy nhất Công ty cổ phần
giấy Hải Phòng (HAPACO) phát hành thêm 01 triệu cổ phiếu mới (tương
dương với số vốn 35 tỷ đồng) để huy động vốn cho dự án giấy kraft.
Năm 2003, UBCKNN cũng đã cấp giấy phép phát hành thêm cổ phiếu cho
5 công ty với tổng giá trị trên 155,4 tỷ đồng.
Trong năm 2005 có 7 doanh nghiệp thực hiện đăng ký phát hành cổ
phiếu lần đầu ra công chúng. Tính đến 31/12/2005 UBCKNN đã cấp giấy
chứng nhận đăng ký phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng cho 5 công
ty: công ty cổ phần Giấy Đồng Nai, công ty cổ phần Dược 3/2, công ty cổ
phần Kinh Đô, công ty cổ phần Vinafco với tổng số cổ phiếu phát hành là
6.030.000 cổ phiếu, tổng giá trị theo giá bán 132,64 tỷ. Ngoài ra UBCK đã
chấp thuận về nguyênn tắc việc phát hành lần đầu 2.600.000 cổ phiếu của
công ty cổ phần Dược phẩm Imexpharm và đang xem xét hồ sơ đăng ký
phát hành của công ty cổ phần Gas Pẻtolimex. Đồng thời cấp giấy chứng
nhận thêm cho 10 công ty niêm yết: REE, Gemadept, Transimex, Gilimex,
Sacom, Lafooco, Agifish, Đá Hóa An, Văn hóa Phương Nam và Kinh Đô
miền Bắc với tổng số cổ phiếu xin phát hành thêm là 25.525.138 cổ phiếu
tương đương 661.579tỷ đồng tính theo mệnh giá ( các năm 2004 trở về
trước rất thấp ).
Đến năm 2006 số lượng doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra công
chúng tăng thêm.
Một số doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra công chúng năm 2006:
Tên tổ chức
Loại cổ phiếu
SL đăng ký
phát hành
hiểm Bảo
Long
nt
9.000.000
CTCP Đầu
tư và XD
bưu điện
nt
1.500.000
37,5 tỷ
Huy động vốn triển khai
DAĐT dây chuyền sản xuất
cáp thông tin bưu điện
CTCP bao
bì dầu thực
vật
nt
603.550
10,26035 tỷ
Huy động vốn để ĐTXD và
trang bị máy móc năm 2006,
tái cấu trúc các khoản vay
CTCP bánh
kẹo đường
Biên Hòa
( BIBICA )
nt
3.160.000
75,8 tỷ
Huy động vốn đầu tư nhà
doanh nghiệp ( Ngân hàng Đầu tư và phát triển ) được niêm yết trên TTGD
TP.HCM thì tính đến cuối năm 2005 đã có 317 loại trái phiếu Chính Phủ,
25 loại trái phiếu chính quyền địa phương được niêm yết trên hai
TTGDCK.
Bảng giá trị trái phiếu đã phát hành tính đến năm 2005 ( tỷ VND)
Trái phiếu CP
Trái phiếu CQĐP
Tính đến năm 2005
60.000
7.000
Như vậy phát hành trái phiếu chính quyền địa phương cũng có nhiều
khởi sắc. Đến 2005, đã có 3 tỉnh, thành phố phát hành trái phiếu chính
quyền địa phương với tổng số tiền huy động trên 7.000 tỷ đồng, trong đó
Thành phố Hồ Chí Minh đã huy động 2.000 tỷ đồng trái phiếu, nâng tổng
số huy động trong 3 năm (2003-2005) lên gần 6.000 tỷ đồng, Hà Nội huy
động trên 1.100 tỷ đồng trái phiếu Thủ đô và Đồng Nai huy động khoảng
243 tỷ đồng.
Thông qua kênh đấu thầu Trái phiếu Chính phủ (TPCP) tại các Trung
tâm GDCK, Chính phủ đã huy động được hàng chục ngàn tỷ đồng cho
Ngân sách Nhà nước và cho đầu tư phát triển, đồng thời bổ sung một lượng
hàng hoá quan trọng cho thị trường chứng khoán Việt Nam.Ông Nguyễn
Đình Sơn- Phó TGĐ KBNN cho biết, trong năm 2006 hệ thống Kho bạc
Nhà nước được giao nhiệm vụ huy động vốn thông qua phát hành các loại
trái phiếu, công trái là 54.500 tỷ đồng. Tính đến ngày 15/9/2006, Kho bạc
Nhà nước đã huy động được gần 40.000 tỷ đồng, trong đó đã phối hợp với
các Trung tâm GDCK tổ chức 18 phiên đấu thầu, huy động được 6.197 tỷ
đồng. Dự kiến đến cuối năm 2006, sẽ tiếp tục huy động 2.000-3.000 tỷ
đồng qua TTGDCK và kế hoạch năm 2007 sẽ huy động 12.000 tỷ đồng
thông qua đấu thầu tại TTGDCK trong tổng số 63.500 tỷ đồng huy động
vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển.
Lãi suất
%
0,7125
Tổng số lượng nhu cầu các nhà đầu tư đặt mua lên tới 4,5 tỷ USD, gấp
6 lần lượng trái phiếu Chính phủ VN phát hành. Ngày 03/11/2005 giờ Mỹ,
tức ngày 04/11/2005 (sau 12 tiếng giờ Việt Nam) số tiền trái phiếu Chính
phủ 750 triệu USD sẽ chính thức chuyển về VN.Theo Thứ trưởng Bộ Tài
chính Lê Thị Băng Tâm, chúng ta phải chia ra bán cho các nhà đầu tư và
phần lớn chỉ đáp ứng 20% nhu cầu đặt mua, thậm chí có nhà đầu tư đặt
mua nhưng không có để bán. Ngay ngày đầu tiên tại Hồng Kông
(19/10/2005), số lượng các nhà đầu tư đặt mua khoảng 1 tỷ USD, gấp 2 lần
số lượng trái phiếu Chính phủ VN định phát hành. Đến ngày 26/10/2005,
sau khi Chính phủ quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệu
USD (tổng phát hành 750 triệu USD), số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã
tăng lên hơn gấp 3 lần từ mức 1 tỷ USD lên mức khoảng 3 tỷ USD. Ngày
29/10/2005 là ngày định giá trái phiếu Chính phủ VN trên thị trường tài
chính thế giới thì số lượng các nhà đầu tư đặt mua lên tới 4,5 tỷ USD.
Tất cả các nhà đầu tư quan trọng, có uy tín lớn trên thị trường tài chính thế
giới từ Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ đều quan tâm tham gia đặt mua trái
phiếu của Chính phủ VN với số lượng lớn. Đặc biệt lần này một số Ngân
hàng trung ương và các tổ chức đầu tư của Chính phủ các nước trong khu
vực Châu Á đặt mua tới 50 - 100 triệu USD. Trong đó có Ngân hàng dự trữ
quốc gia Malaysia tính đến nay chưa từng mua trái phiếu Chính phủ của
quốc gia nào thì nay đã đặt mua trái phiếu của Chính phủ VN.
Cũng theo bà Tâm, lãi suất trái phiếu Chính phủ VN phát hành rất
hiệu quả, thấp hơn lãi suất trái phiếu của các nước trong khu vực có cùng
hệ số tín nhiệm. Lãi suất trái phiếu loại 10 năm của VN thực trả là
7,125%/năm. Trong khi, mức lãi suất trái phiếu Chính phủ Philippines loại
10 năm giao dịch ở mức 8,1%/năm, còn trái phiếu Chính phủ Indonesia loại
Theo thông lệ quốc tế, các DN, các nền kinh tế cần vốn thì có 80%
vốn huy động qua TTCK, 20% huy động vốn qua ngân hàng. Đấy là một
cấu trúc hoàn chỉnh của thị trường tài chính. Ở Việt Nam hiện nay, điều đó
ngược lại, tới 90% huy động qua ngân hàng và 10% huy động qua TTCK.
Điều đáng quan tâm nhất là tỉ trọng tích lũy đầu tư vào TTCK còn thấp,
tổng giá trị thị trường cổ phiếu mới chiếm khoảng 8% GDP (2005), trong
khi đó mức thông lệ quốc tế là 30-34% GDP.
Từ đầu năm 2003 đến nay, tình hình hoạt động của thị trường chứng
khoán liên tục “tuột dốc”, chức năng và sứ mệnh huy động vốn thông qua
thị trường này gần như chưa phát huy được tác dụng. Thêm vào đó, kết quả
kinh doanh không khả quan cũng như việc không trung thực trong công bố
thông tin tài chính của một số công ty niêm yết đã làm giảm lòng tin nơi
nhà đầu tư, tính nhạy cảm của thị trường với các thông tin tài chính gần
như không còn
Sau 6 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt
Nam vẫn chưa thực hiện được chức năng chính của mình là một kênh huy
động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Các DN ''khát'' vốn, chủ yếu
vẫn vay ngân hàng và Chính phủ phát hành trái phiếu cho các công trình
lớn vẫn phải ''động viên'' dân mua.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, thị trường chứng khoán
hiện nay rất khiêm tốn so với vai trò là kênh huy động vốn dài hạn phục vụ
cho nhu cầu đầu tư của DN nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong khi
đó đa số các DN trong những lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn và dài dạn như
ngành viễn thông, điện lực vẫn còn đang loay hoay tìm lối huy động,
hoặc trông chờ nhiều vào ngân sách chứ chưa thông qua thị trường chứng
khoán.
Hiện tại, TTCK nước ta chỉ mớí quản lí chưa đầy 50 doanh nghiệp
niêm yết, và việc phát hành cổ phiếu ra công chúng mới chỉ có vài chục
doanh nghiệp. Quy mô TTCK hiện còn nhỏ, mới chiếm trên dưới 5% GDP.
Đến nay, ngoài việc hỗ trợ Chính phủ phát hành một số trái phiếu
nước ngoài. 60,9% số doanh nghiệp được hỏi hiện huy động vốn cho sản
xuất và kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn vay từ ngân hàng.
Trong khi đó, số doanh nghiệp có huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu
chiếm 54,8% số doanh nghiệp được điều tra, chủ yếu là các công ty cổ
phần Nhà nước. Ngoài ra, có 38,3% số doanh nghiệp có huy động vốn qua
vay từ công nhân viên. 38,3% số doanh nghiệp huy động từ các nguồn khác
như mua bán chịu, sử dụng vốn của đối tác
Số doanh nghiệp huy động vốn qua nguồn ngân sách Nhà nước trong tổng
số doanh nghiệp điều tra có 62 doanh nghiệp, chiếm 25% và điều này
chứng tỏ rằng Nhà nước vẫn là một nguồn tài trợ quan trọng trong hoạt
động của các doanh nghiệp hiện nay.
Thị trường chứng khoán đang rất cần được thổi những luồng hơi ấm,
những cú hích mạnh hơn để phá tan sự nguội lạnh này.
Năm 2006, theo kế hoạch, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế
bình quân 7,5%/năm, mức huy động vốn từ thị trường chứng khoán phải
đạt khoảng 6-12% GDP, tương đương 46.000-125.000 tỷ đồng. Theo kế
hoạch, từ nay đến 2010, phải cần khoảng 140 tỷ USD cho đầu tư phát triển,
trong đó nguồn vốn huy động từ bên ngoài thông qua đầu tư trực tiếp (các
dự án đầu tư), và đầu tư gián tiếp (thông qua TTCK) là vào khoảng 40 - 45
tỷ USD.
IV. Một số nguyên nhân :
Từ phía cơ quan chủ quản: Điều hành thị trường của UBCKNN và
TTGDCK còn quá nhiều bất cập.
1.1. Hạn chế do sự thiếu chủ động và thiếu kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ
quản lý… Sự quản lý về chứng khoán ở cấp Nhà nước (vĩ mô) còn nhiều
điểm chưa hợp lý, chưa đáp ứng được với những đòi hỏi của thị trường, thể
hiện ở các mặt như hệ thống pháp lý chưa đồng bộ, thậm chí là mâu thuẫn
nhau.
Hệ thống pháp lý chưa thực sự hoàn thiện và đồng bộ, giữa các quy
định pháp luật về TTCK và với các văn bản liên quan, các chính sách
gia niêm yết hiện nay, không có một công ty nào thuộc các tcty lớn), có khả
năng phát triển để hấp dẫn nhà đầu tư. Ngoài ra, ở một số công ty niêm yết,
tỷ lệ vốn thuộc sở hữu nhà nước còn khá cao; do đó, khối lượng cổ phiếu
thực sự đưa vào giao dịch vẫn còn rất thấp.
Thứ hai, Do quá trình cổ phần hoá các DNNN tiến hành một cách quá
chậm, nên không có hàng hoá phục vụ cho thị trường, dẫn đến tình trạng,
TTCK đã đi vào hoạt động được hơn 3 năm, nhưng vẫn không thể nào
thoát khỏi cảnh chợ chiều.
Nhiều công ty đã CPH nhưng không đủ điểu kiện tham gia TTCK.
Không ít công ty không muốn tham gia TTCK. Nhiều công ty cổ phần
quan niệm lên sàn giao dịch lắm phiền phức mà ưu đãi trong 2 năm, cùng
lắm chỉ giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp. Chi phí này không bù được
công sức và tiền bỏ ra làm thủ tục. Mặt khác do nhận thức về lợi ích của thị
trường chứng khoán đối với hoạt động của doanh nghiệp còn rất mơ hồ,
nên nhiều doanh nghiệp chần chừ không muốn niêm yết. Phần lớn các
doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn kinh doanh theo kiểu gia đình, hoặc theo
mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên chưa có nhu cầu huy động vốn lớn,
nguồn vốn hoạt độngcủa họ hiện chủ yếu dựa vào nguồn tín dụng của ngân
hàng. Do vậy kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp vẫn chưa phát huy