Huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán ở việt nam - Pdf 23

Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân





NGUYN HU T Hà Nội - 2014
đHKTQD NGUYN HU T LUN N TIN S KINH T hà nội - 2014
Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại h
Trờng đại hTrờng đại h
Trờng đại học kinh tế quốc dân
ọc kinh tế quốc dânọc kinh tế quốc dân
ọc kinh tế quốc dân






-

-

Ngân hàng
Ngân hàngNgân hàng
Ngân hàng Mã số
Mã sốMã số
Mã số
:
: :
:
62.31.12.01
62.31.12.0162.31.12.01
62.31.12.01 LUậN áN TIếN Sĩ KINH Tế
LUậN áN TIếN Sĩ KINH TếLUậN áN TIếN Sĩ KINH Tế
LUậN áN TIếN Sĩ KINH Tế


2. TS. NGUYễN THạC HOáT
2. TS. NGUYễN THạC HOáT2. TS. NGUYễN THạC HOáT
2. TS. NGUYễN THạC HOáT
Hà Nội - 2014i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi. Các
thông tin, dữ liệu, số liệu trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể. Kết quả
nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào khác.

Nghiên cứu sinh


THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 61
2.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 61
2.1.1. Quá trình hình thành TTCK Việt Nam 61
2.1.2. Diễn biến giao dịch của TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 - 2012 62
2.1.3. Một số kết quả đạt được và hạn chế của TTCK ở Việt Nam 64
2.2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 67
2.2.1. Nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam 67 ii
2.2.2. Phương thức huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK ở Việt Nam 70
2.2.3. Kết quả huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK ở Việt Nam 88
2.3. THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HUY
ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN Ở VIỆT NAM 96
2.3.1. Nhà đầu tư 96
2.3.2. TCPH 102
2.2.3. Hệ thống CTCK 108
2.2.4. Các cơ quan quản lý, vận hành thị trường 112
2.4. MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HUY
ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM 121
2.4.1. Từ phía TCPH 121
2.4.2. Từ hệ thống nhà đầu tư 124
2.4.3. Từ hệ thống các công ty chứng khoán 126
2.4.4. Từ các cơ quan quản lý, vận hành thị trường 127
2.4.5. Một số nguyên nhân khác 130

5. HNX: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
6. HĐQT: Hội đồng quản trị
7. TTCK: Thị trường chứng khoán
8. TCBL: Tổ chức bảo lãnh
9. TCPH: Tổ chức phát hành
10. UBCKNN: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
11. VSD: Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam

iv
DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Danh mục bảng:

Bảng 2.1: Các cột mốc chính đánh dấu sự phát triển của TTCK

Việt
Nam
. 62

Bảng 2.2. Tỷ lệ vay nợ của một số doanh nghiệp niêm yết trên TTCK
68

Bảng 2.3 Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến huy động vốn của các
doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam
71

Bảng 2.4 Tổng hợp lựa chọn các trường hợp phát hành cổ phiếu hiện nay

Bảng 2.12: Doanh nghiệp lớn niêm yết giai đoạn 2006 - 2012
104

Bảng 2.13: Thống kê các ngành kinh tế có doanh nghiệp niêm yết tại các
sàn giao dịch chứng khoán
105

Bảng 2.14: Danh sách các công ty niêm yết có mức vốn hóa lớn
105

Bảng 2.15: Số
lượng
CTCK
109Danh mục hình:
Hình 2.1: Giao dịch trên sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai
đoanh 2000-2012 63
Hình 2.2. Giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội giao đoạn 2005 - 2012 . 64
1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và vươn lên phát triển mạnh
mẽ trong những năm tiếp theo thì việc phát triển hệ thống các doanh nghiệp đóng

trương trên, Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 252/QĐ - TTg ngày 01/3/2012 tiếp tục khẳng
định mục tiêu “đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành kênh huy động
vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế”. Đồng thời khẳng định phương
hướng phát triển của TTCK nhằm thực hiện vai trò “gắn kết với việc cải cách, sắp
xếp khu vực DNNN, tạo động lực cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cả
về năng lực tài chính và quản trị doanh nghiệp”.
Từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước năm 1986 gắn với nền kinh tế
nhiều thành phần, các loại hình doanh nghiệp với nhiều thành phần kinh tế đã hình
thành và đi vào hoạt động. Cùng với chính sách mở cửa và hội nhập, đặc biệt là sự
kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, là bước
chuyển biến quan trọng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận với khoa học
công nghệ, quản lý tiên tiến, phát triển sản xuất, mở rộng thị trường. Đến nay đã có
gần 800 DNNN cổ phần hóa, doanh nghiệp tư nhân bỏ vốn hoạt động theo mô hình
CTCP đã được niêm yết giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, trong đó có nhiều doanh nghiệp
quy mô lớn hàng đầu trong hầu khắp các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng của đất
nước. Một trong những mục đích quan trọng nhất của doanh nghiệp khi niêm yết
trên TTCK là để huy động vốn gia tăng năng lực tài chính cho doanh nghiệp. Tuy
nhiên, trong thời gian qua, việc huy động vốn của doanh nghiệp trải qua những biến
động của TTCK còn gặp nhiều vướng mắc dẫn đến kết quả huy động vốn qua kênh
mới mẻ này chưa cao. Quy mô huy động vốn qua TTCK còn nhỏ bé và sơ khai, có
thời điểm doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn trên
TTCK, đặc biệt trong giai đoạn thị trường suy giảm và trầm lắng. Nhiều phương án
huy động vốn trên TTCK đã được đại hội đồng cổ đông của doanh nghiệp thông 3
qua nhưng lại triển khai không thành công trên thực tế do không tìm kiếm được nhà
đầu tư. Có doanh nghiệp mặc dù đã niêm yết nhưng lại chưa thực sự tự tin trong

Với đề tài “Huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK ở Việt Nam” tác
giả mong muốn đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn để góp
phần giải quyết vấn đề nêu trên.
2. Mục đích nghiên cứu của Luận án
- Đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn vốn của doanh
nghiệp qua đó khẳng định vai trò quan trọng của nguồn vốn chủ sở hữu; các phương
thức huy động vốn của doanh nghiệp trên TTCK; tác động qua lại giữa doanh
nghiệp với TTCK, mối quan hệ giữa TTCK sơ cấp và thứ cấp; phân tích và hệ
thống hóa cũng như làm rõ bản chất vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
huy động vốn của doanh nghiệp trên TTCK.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của TTCK Việt Nam; phân tích nhu cầu huy
động vốn của các doanh nghiệp để phát triển sản xuất kinh doanh; thực trạng tình
hình huy động vốn trên TTCK gắn với sử dụng vốn hiệu quả của các doanh nghiệp
trên TTCK Việt Nam; hệ thống hóa các phương thức phát hành cổ phiếu huy động
vốn; phân tích thực trạng của các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn của
các doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam; rút ra các nguyên nhân gây cản trở, vướng
mắc trong quá trình huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam.
- Đề ra một hệ thống toàn diện các giải pháp để đẩy mạnh huy động vốn của các
doanh nghiệp qua TTCK trong thời gian tới; đồng thời đề xuất, kiến nghị với các cơ
quan quản lý, vận hành thị trường nhằm thực hiện thành công các giải pháp nêu trên.
3. Đối tượng, phạm vi, giác độ nghiên cứu của Luận án
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Những nguyên lý, quy luật vận động, chức năng của TTCK và hoạt động
của TTCK Việt Nam;
+ Nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam;
+ Các yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến việc huy động vốn của các doanh
nghiệp trên TTCK và thực tế tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:


- Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn Chủ tịch HĐQT hoặc Tổng 6
Giám đốc của 30 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên TTCK Việt Nam về nhu cầu
huy động vốn và kế hoạch sử dụng vốn khi huy động được.
- Phương pháp điều tra: Sử dụng kết quả điều tra của CTCP chứng khoán
Rồng Việt khi gửi công văn chào dịch vụ 200 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK.
Các số liệu tác giả thu thập được hoàn toàn phù hợp với nội dung nghiên cứu
do vấn đề nghiên cứu của tác giả đưa ra là rõ ràng.
5. Giới thiệu bố cục luận án
Tên luận án: “Huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK ở Việt Nam”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án bao gồm 03 chương:
Chương 1. Lý luận chung về huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK.
Chương 2. Thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK ở Việt Nam
Chương 3. Giải pháp huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK ở Việt Nam
6. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
1. Luận án đã đưa ra cách tiếp cận mới trong quá trình huy động vốn
của các doanh nghiệp trên TTCK, theo đó để tăng cường huy động vốn của
các doanh nghiệp trên TTCK cần phải gắn bó chặt chẽ huy động vốn với sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được, coi đây là yếu tố tạo nên tính
bền vững trong hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp;
2. Luận án cũng mô hình hóa quá trình huy động vốn của các doanh
nghiệp trên TTCK, làm rõ vai trò của 3 chủ thể quan trọng: (1) Người mua
bao gồm nhà đầu tư tổ chức và cá nhân; (2) Người bán là các TCPH; (3) Tổ
chức trung gian là các CTCK;
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
1. UBCKNN cần xây dựng hệ thống cơ chế giám sát việc sử dụng vốn
huy động của các doanh nghiệp trên TTCK nhằm đảm bảo sử dụng đúng mục

nghiên cứu.
Luận án xây dựng mối quan hệ tác động giữa việc thay đổi thâm hụt ngân sách
năm trước đến sự tăng lên của GDP năm sau thể hiện qua phương trình:
Thay đổi GDP = Thay đổi khoản chi tiêu thâm hụt của Chính phủ * Số nhân
thu nhập. 8
- Một số công trình nước ngoài có nghiên cứu về quá trình huy động vốn của
các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán như của Erel I., JulioB., Kim Ư. Anh
Weisbach M.S (2012), “Macroeconomic Conditions anh Capital Raising”, Riview
of Financial Studies và Weisbach M.S (2012), “Raising Capital Amid Uncertainty
about Financial Market Conditions”, NBER Reporter. Tuy các nguyên lý, các yếu tố
tác động đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán
là tương tự nhau nhưng quá trình vận dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam
chỉ mang tính chất tham khảo vì thị trường Việt Nam có tính đặc thù là mới hình
thành và phát triển, nền kinh tế mới chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Một số tác giả khác cùng nghiên cứu về vấn đề huy động vốn của các doanh
nghiệp, phát triển TTCK sơ cấp nhưng lại được tiến hành nghiên cứu trong những
năm 2002, 2003 khi TTCK Việt Nam còn chưa phát triển, chưa có nhiều vấn đề
phát sinh thực tế để nghiên cứu nên những đề tài này có đối tượng và phạm vi
nghiên cứu không trùng lắp với tác giả.
- Từ những luận cứ khoa học về TTCK, Luận án đã đi sâu nghiên cứu bản
chất, chức năng và cơ chế huy động vốn của các doanh nghiệp trên TTCK qua đó
làm nổi bật lên vai trò của TTCK đối với việc huy động vốn trung và dài hạn cho
các doanh nghiệp. Đồng thời qua phân tích việc huy động vốn của các doanh nghiệp
qua kênh TTCK tại một số nước trên thế giới đã rút ra được một số kinh nghiệm để
triển khai thành công huy động vốn cho các doanh nghiệp qua TTCK.
Nghiên cứu, phân tích thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp qua

2000 đến 2012, CTCK thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp
huy động vốn trên thị trường. Nghiên cứu cũng đề ra cho các CTCK những giải pháp
mới phù hợp với điều kiện tình hình TTCK để tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh
nghiệp.
Ngoài ra, luận án cũng đưa ra giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà
nước và các cơ quản lý thị trường là những cơ quan tác động đến cả 3 chủ thể cơ
bản trong quá trình huy động vốn nêu trên. 10
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK
TTCK được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại.
Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến TTCK. Là
một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, TTCK, được hiểu một cách chung
nhất, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán - các hàng hóa
và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được thực
hiện theo những quy tắc ấn định trước.
Hình thức sơ khai của TTCK đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm. Vào
khoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại phương Tây, trong các chợ
phiên hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương
lượng mua bán, trao đổi hàng hóa. Đặc điểm của hoạt động này là các thương gia
chỉ trao đổi bằng lời với nhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiện
của bất cứ hàng hóa, giấy tờ nào. Đến cuối thế kỷ 15, “khu chợ riêng” đã trở thành
thị trường hoạt động thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc
thương lượng. Những quy ước này dần trở thành các quy tắc có tính chất bắt buộc

xét về mặt nội dung, thì thị trường vốn biểu hiện các quan hệ bản chất bên trong của
quá trình mua bán các chứng khoán. TTCK là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao
dịch vốn cụ thể. Do đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà
thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư
bản.
Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: “TTCK được đặc
trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một”. Như vậy, theo quan
điểm này, TTCK và thị trường vốn là khác nhau, trong đó TTCK chỉ giao dịch, mua
bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái
phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ,
không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK
Quan điểm thứ ba, dựa trên những gì quan sát được tại đa số các Sở giao dịch 12
chứng khoán lại cho rằng “TTCK là thị trường cổ phiếu”, hay là nơi mua bán các
phiếu cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn. Theo quan điểm này,
TTCK được đặc trưng bởi thị trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền
tham gia sở hữu.
Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và
trong từng điều kiện lịch sử nhất định.
Tuy nhiên, quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung của
TTCK hiện nay, được hiểu một cách phổ biến là:
TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán.
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép
chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của TCPH hoặc quyền sở hữu.
Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tùy theo tính
chất sở hữu của chúng [26].
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ
cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại sở giao dịch

Tùy theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của TTCK có thể được phân loại theo
nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, thông thường, ta có thể xem xét ba cách thức
cơ bản là phân loại hàng hóa, phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường và
phân loại theo quá trình luân chuyển vốn. Phần này tập trung làm rõ phân loại theo
quá trình luân chuyển vốn để hiểu cơ chế vận hành của thị trường và mối quan hệ
gắn bó mật thiết giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.

a. Phân loại theo hàng hóa
Theo các loại hàng hóa được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân
TTCK thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn
suất.

TTCK
TT

ti
ền tệTh
ời gian

1 năm
t
TT nợ

TT Trái phiếu TT Cổ phiếu

giao dịch chứng khoán được quản lý một cách chặt chẽ bởi Ủy ban chứng khoán
quốc gia, các giao dịch chịu sự điều tiết của Luật Chứng khoán và TTCK. Những
TTCK tập trung tiêu biểu được biết đến là Sở giao dịch chứng khoán Luânđôn
(London Stock Exchange), Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (American Stock 15
Exchange), Sở giao dịch chứng khoán Pari (Paris Stock Exchange).
Cách thứ hai, khác với thị trường tập trung, thị trường giao dịch qua quầy hay
TTCK phi tập trung (OTC: Over - The - Counter Market) là thị trường của các nhà
buôn bán, những người tạo thị trường (Market Makers). Các nhà buôn có một danh
mục chứng khoán và họ sẵn sàng mua và bán với các nhà buôn khác cũng như các
nhà đầu tư khi những người này chấp nhận giá cả của họ. Ở thị trường này không có
địa điểm giao dịch chính thức mà có thể diễn ra tại tất cả các quầy, sàn giao dịch
của các thành viên thông qua điện thoại hay mạng diện rộng. Khối lượng giao
dịch của thị trường này thường lớn hơn so với thị trường Sở giao dịch.
Ngoài hai loại thị trường trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba, thị
trường dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị trường
tập trung và thị trường OTC. Ngoài ra, còn phân loại TTCK thành thị trường đàm
phán, thị trường giao ngay (Spot Market) và thị trường kỳ hạn (Future Markets).
Việc phân loại TTCK sẽ giúp phân tích cụ thể hơn vai trò của TTCK.
c. Theo phân loại quá trình luân chuyển vốn
Theo cách thức này, thị trường được phân thành thị trường cơ cấp và thị
trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (Primary Market) là thị trường phát
hành các chứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên. Tại thị
trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành. Việc mua bán chứng khoán
trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành. Thông qua việc phát hành
chứng khoán, Chính phủ có thêm nguồn thu để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc
tiêu dùng của Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường nhằm tài

Tóm lại, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật thiết, hỗ trợ
lẫn nhau. Về bản chất, mối quan hệ giữa TTCK sơ cấp và thứ cấp là mối quan hệ
nội tại, biện chứng. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ không có thị trường thứ cấp.
Mục đích cuối cùng của các nhà quản lý là phải tăng cường hoạt động huy động vốn
trên thị trường sơ cấp, vì chỉ có tại thị trường này, vốn mới thực sự vận động từ
người tiết kiệm sang người đầu tư, còn sự vận động của vốn thị trường thứ cấp
chỉ là tư bản giả, không tác động trực tiếp việc tích tụ và tập trung vốn [20].
17
1.1.4. Các chủ thể trên TTCK
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau:
chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, CTCK và các tổ chức có liên quan đến chứng
khoán.
1.1.4.1. Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hóa của TTCK.
Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các doanh nghiệp và một số tổ chức
khác như: các Quỹ đầu tư; tổ chức tài chính trung gian….
- Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể phát hành các chứng khoán:
Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu địa phương; Trái phiếu công trình; Tín phiếu kho
bạc…
- Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ hưởng thụ… phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và phù hợp với
đặc thù hoạt động của họ theo định luật.
1.1.4.2. Nhà đầu tư
Chủ thể đầu tư là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng
khoán trên TTCK để tìm kiếm lợi nhuận. Nhà đầu tư có thể được chia thành hai
loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.

chức tự quản và Nhà nước. Nhưng tựu chung lại, cơ quan quản lý Nhà nước về
TTCK do Chính phủ của các nước thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích của người
đầu tư và bảo đảm cho TTCK hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững.
Cơ quản quản lý Nhà nước về TTCK có thể có những tên gọi khác nhau, tùy
thuộc từng nước và nó được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối
với TTCK.
Tại Mỹ, Ủy ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán (SEC – Securities and
Exchange Commision) là một cơ quan của liên bang có tư cách pháp lý thực hiện
việc kiểm soát TTCK. Tất cả các tổ chức hoạt động trong ngành chứng khoán đều
phải đăng ký, báo cáo và chịu sự kiểm tra, giám sát của Ủy ban chứng khoán và
giao dịch chứng khoán. Tại Nhật Bản, năm 1992, Ủy ban giám sát chứng khoán và
giao dịch chứng khoán (ESC – Exchange Surveillance Commision) được thành lập,

Trích đoạn Vai trũ của TTCK Cỏc kờnh huy động vốn của doanh nghiệp và đặc điểm của huy động vốn Cỏc cơ quan quản lý, vận hành thị trường MỘT SỐ NGUYấN NHÂ NẢ NHH ƯỞNG ĐẾN QUÁ TRèNH HUY Giải phỏp về phớa doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status