Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHẠM NGỌC THƢƠNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ BÀI
GIẢNG ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TRONG SÁCH GIÁO KHOA
ĐỊA LÍ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trần Viết Khanh
THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
CNTT : Công nghệ thông tin
SGK : Sách giáo khoa
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
TN : Thực nghiệm
ĐC : Đối chứng
1.2.2. Tin học hóa – Nhu cầu tất yếu của thời đại mới
1.2.3. Quan niệm dạy học có sử dụng CNTT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.2.4. Ứng dụng CNTT vào giảng dạy để thực hiện tốt mục tiêu dạy học
và hiện đại hóa nền giáo dục
1.2.5. Thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng
Địa lí tự nhiên 10 THPT hiện nay
Chƣơng 2: Sử dụng CNTT và các phần mềm tin học có nội dung Địa lí
để thiết kế bài giảng Địa lí tự nhiên trong SGK Địa lí 10 THPT
2.1. Giới thiệu một số phần mềm có khả năng khai thác và thiết kế
một bài giảng Địa lí
2.1.1. Một số yêu cầu và nguyên tắc đối với việc thiết kế bài giảng
2.1.2. Một số phần mềm cơ bản được sử dụng trong thiết kế bài giảng
2.1.3. Sử dụng Power point để thết kế bài giảng
Địa lí tự nhiên 10 THPT
2.2. Thiết kế một số bài giảng Địa lí tự nhiên cụ thể trong chương trình
Địa lí 10 THPT có sử dụng Power point và các phần mềm tin học
có nội dung Địa lí
2.2.1. Chương trình và nội dung môn Địa lí ở trường phổ thông
2.2.2. Quy trình thiết kế một bài giảng có sử dụng CNTT
2.2.3. Áp dụng trực tiếp vào thiết kế mẫu bài giảng Địa lí tự nhiên
trong SGK Địa lí 10 THPT
Chƣơng 3 Thực nghiệm sƣ phạm
3.1 Mục đích thực nghiệm
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm
3.3 Nguyên tắc thực nghiệm
3.4 Tổ chức thực nghiệm
3.4.1 Chọn trường thực nghiệm
3.4.2 Chuẩn bị thực nghiệm
3.4.3 Đánh giá sau thực nghiệm
3
Hình 1.3
Cấu trúc bài giảng
4
Hình 2.1
Màn hình làm việc của Power point
5
Hình 2.2
Hộp thoại Autocontent Winzard
6
Hình 2.3
Danh sách tệp mẫu trong Design templates
7
Hình 2.4
Một Slide trắng với bố cục có sẵn
8
Hình 2.5
Một Slide với phần trình bày trắng
9
Hình 2.6
Thao tác đóng gói vào CD
10
18
Hình 2.15
Slide xác định nhiệm vụ và là phiếu học tập
19
Hình 2.16
Slide có sơ đồ là mối quan hệ nguyên nhân - kết quả
20
Hình 2.17
Slide có bản đồ
21
Hình 2.18
Một Slide trong bài 5: Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái
Đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của
Trái Đất
22
Hình 3.1
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm bài 1:Các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phép chiếu hình cơ bản
24
Hình 3.2
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm bài 5:Vũ trụ.
Hệ Mặt Trời và Trái Đất. Hệ quả chuyển động tự
quay quanh trục của Trái Đất
Bảng 3.3
Kết quả thực nghiệm bài 1: Các phép chiếu hình bản
đồ cơ bản
5
Bảng 3.4
Bảng phân bố tần số, tần suất kết quả khảo sát bài 1:
Các phép chiếu hình bản đồ cơ bản
6
Bảng 3.5
Giá trị phương sai và độ lệch chuẩn kết quả khảo sát
bài 1: Các phép chiếu hình bản đồ cơ bản
7
Bảng 3.6
Kết quả thực nghiệm bài 5: Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái
Đất. Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất
8
Bảng 3.7
Bảng phân bố tần số, tần suất kết quả khảo sát bài 5:
Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái Đất. Hệ quả chuyển
động tự quay quanh trục của Trái Đất
9
Bảng 3.8
Giá trị phương sai và độ lệch chuẩn kết quả khảo sát
bài 5: Vũ trụ. Hệ Mặt Trời và Trái Đất. Hệ quả
chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất
“đào tạo được những con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có
năng lực giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra, tự lo được việc làm, lập
nghiệp, và thăng tiến trong cuộc sống, qua đó góp phần xây dựng đất nước
giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Xu hướng mới hiện nay trong quá trình dạy học là “Lấy học sinh làm
trung tâm”, tức là người dạy học phải phát huy tối đa tính tích cực chủ động
của người học trong quá trình dạy học, phải đề cao vai trò chủ thể của người
học trong quá trình nhận thức. Bắt học sinh phải làm việc nhiều hơn để tự
nắm kiến thức, tự tìm ra chân lí thông qua nhiều biện pháp đổi mới về phương
pháp cũng như vận dụng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại.
Để phù hợp với xu thế ngày nay, việc dạy và học phải được thay đổi theo
hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học thông qua nhiều con
đường như: Đổi mới về phương pháp, phương tiện dạy học Một trong
những hướng đó là sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Do đặc trưng đối tượng nghiên cứu của khoa học Địa lí là các vấn đề về
tự nhiên và kinh tế xã hội nên lượng kiến thức này càng tăng lên nhanh chóng
hơn. Nếu không kịp thời nắm bắt các kiến thức đó thì sẽ nhanh chóng bị tụt
hậu và trở nên lạc hậu.
Bên cạnh đó trong giai đoạn bùng nổ thông tin, đất nước đã và đang hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, điều này cũng góp phần làm cho
nguồn tri thức Địa lí ngày càng trở nên phong phú, nó được giới hạn không
chỉ ở trong những phương tiện truyền thống như các loại sách báo, các tài liệu
thông thường mà nó được phổ biến rộng rãi trên nhiều các phương tiện thông
tin đại chúng và các công nghệ hiện đại khác như: đài, tivi, và nhất là trên
mạng Internet.
Sự phát triển mạnh mẽ đó đã tạo ra các điều kiện vô cùng thuận lợi cho
quá trình học tập của học sinh nhưng nó cũng đặt ra cho người giáo viên
nhiều thách thức trong quá trình giảng dạy. Điều đó được thể hiện ở việc
thiết kế bài giảng và cách thức tiến hành thiết kế một bài giảng để giáo viên
có thể ứng dụng trong giảng dạy.
- Nêu được nguyên tắc, cơ sở và quy trình thiết kế bài giảng Địa lí có sử
dụng CNTT.
- Xây dựng đĩa CD về một số dạng thiết kế bài giảng phần địa lí tự nhiên
trong SGK địa lí 10 THPT nhằm thử nghiệm việc ứng dụng CNTT trong dạy
học hiện nay.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tiến hành nghiên cứu đề tài.
- Nghiên cứu cách thức khai thác, sử dụng một số phần mềm ứng dụng để
phục vụ cho việc thiết kế một bài giảng địa lí tự nhiên trong nhà trường phổ thông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Nghiên cứu cách thức và quy trình thiết kế một bài giảng địa lí tự nhiên
để phụ vụ cho việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông.
- Thiết kế một số bài giảng cụ thể trong phần địa lí tự nhiên trong SGK
Địa lý lớp 10 THPT.
- Thực nghiệm sư phạm tại một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh
TN, Bắc Kạn, Tuyên Quang để đánh giá tính khả thi của vấn đề nghiên cứu.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn. Đưa ra một số giải pháp để tăng tính
hiệu quả trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông.
4. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Bước đầu nghiên cứu cách thức ứng dụng CNTT vào việc thiết kế bài
giảng địa lí tự nhiên trong SGK địa lí 10.
5. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA VẤN ĐỀ
- Hiện nay trên Thế giới việc sử dụng CNTT vào dạy học đã được quan
tâm và vận dụng từ lâu, nhất là các nước phát triển và ngay các nước trong
khu vực như Singapo, Thái Lan…
- Ở nước ta việc ứng dụng CNTT vào dạy học cũng đã được quan tâm.
Đã có nhiều văn bản thể hiện việc quan tâm này như: Nghị quyết 49/CP…
- Trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng
6.3. Phƣơng pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lí kiểm tra đánh
giá kết quả đạt được qua tìm hiểu thực tế, qua thực nghiệm các bản thiết kế
bài giảng Địa lí có sử dụng CNTT đối với lớp 10 THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6.4. Phƣơng pháp điều tra quan sát, tổng kết kinh nghiệm
- Việc áp dụng các phương pháp phương tiện dạy học cho phù hợp với
khả năng của học sinh là một quá trình thử nghiệm lâu dài, đòi hỏi người giáo
viên phải có nhiều kinh nghiệm. Để đạt hiệu quả trong việc ứng dụng CNTT
vào giảng dạy ở trường phổ thông cần phải tìm hiểu kĩ về thái độ tiếp nhận
của giáo viên và học sinh, tìm hiểu thực tế việc dạy học Địa lí và thiết kế bài
giảng Địa lí 10 THPT nói chung, phần Địa lí tự nhiên trong sách giáo khoa
Địa lí 10 THPT nói riêng, đặc biệt là những chương trình có sử dụng CNTT
trong dạy học.
- Tiến hành dự giờ một số giờ ở các trường THPT có sử dụng CNTT để
từ đó rút ra kinh nghiệm và bổ xung những vấn đề có liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
6.5. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
- Tiến hành thiết kế một số bài giảng có sử dụng CNTT và bước đầu tiến
hành thực nghiệm bài giảng có ứng dụng CNTT để dạy một số tiết trong
chương trình Địa lí 10 THPT phần Địa lí tự nhiên.
- Sử dụng các phiếu thăm dò ý kiến giáo viên và các phiếu kiểm tra kết
quả học tập của học sinh để đánh giá những kết quả thu được và tính khả thi
của đề tài.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hóa và tiếp thu những cơ sở lí luận cơ
bản của việc thiết kế bài giảng nói chung và thiết kế bài giảng có sử dụng
CNTT nói riêng.
Nghiên cứu thực trạng việc thiết kế bài giảng Địa lí hiện nay nhất là việc
thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lí ở một số nhà
Đối với học sinh lớp 10 tuy vừa mới bước vào một giai đoạn mới của
quá trình học tập nhưng các em cũng đã có mục đích học tập cho bản thân cụ
thể hơn. Mức độ nhận thức, tư duy và tâm lí tuy chưa thật vững vàng song
đây là thời điểm thích hợp để giáo viên có thể giúp các em có được định
hướng đúng đắn trong việc học tập, hướng nghiệp và trong cuộc sống.
Đối với bộ môn Địa lí 10 THPT, nội dung hết sức phong phú về các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội cũng tạo ra sự hấp dẫn trong các giờ học.
Nhất là hiện nay việc tăng thêm 50% dung lượng kiến thức về khoa học tự
nhiên đầy lí thú vào nội dung SGK đã có những tác động ít nhiều tới động cơ
học tập của học sinh cũng như việc lựa chọn nghề nghiệp. Đồng thời nâng cao
sự ham mê tìm tòi và nghiên cứu về những gì các em được học.
Nếu việc thiết kế bài giảng Địa lí lớp 10 THPT được sử dụng CNTT,
nhất là đối với phần Địa lí tự nhiên vốn có rất nhiều các hiện tượng cần được
quan sát, được thể hiện, mô phỏng lại thì rõ ràng sẽ thu hút nhiều hơn sự quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tâm của các em học sinh đối với môn Địa lí, từ đó nâng cao hiệu quả của việc
dạy và học.
1.1.1.2. Đặc điểm trí tuệ của học sinh THPT
Vì các em đang ở độ tuổi chuẩn bị trở thành người lớn do đó tính tích
cực, năng động, sáng tạo được thể hiện rõ nét trong hoạt động của bản thân. Ở
lứa tuổi này, hoạt động học tập đã trở thành trách nhiệm rõ rệt, các em nhận
thức rõ ràng vai trò, nhiệm vụ của việc học tập. Tất cả mọi năng lực tư duy và
nhận thức gắn liền với mục đích mà các em đã đặt ra.
Đặc điểm nổi bật về sự phát triển trí tuệ của học sinh là tính chủ động,
tích cực, tính tự giác được thể hiện rõ nét ở tất cả các quá trình nhận thức.
Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và các khả năng khác ở lứa tuổi này
được hoàn thiện nhanh chóng và có chất lượng cao.
Ở tuổi này ghi nhớ có chủ định trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò
của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng lên rõ rệt. Đặc
biệt các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ, các em phân biệt
Việc hình thành sự tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu
dài, trải qua nhiều mức độ khác nhau. Ở lứa tuổi này quá trình tự ý thức diễn
ra mạnh mẽ, sôi nổi, có các đặc thù riêng. Các em có nhu cầu tìm hiểu và
đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm riêng về mục đích
cuộc sống và hoài bão của mình. Chính điều này khiến các em quan tâm hơn
đến đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng. Nội dung của sự
tự ý thức cũng diễn ra phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái tôi của
mình trong hiện tại như tuổi thiếu niên mà còn nhận thức về vị trí của mình
trong xã hội, trong tương lai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Thanh niên không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá
một cách sâu sắc, tốt hơn lứa tuổi thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh,
mặt yếu của những người sống xung quanh mình, của chính bản thân mình.
Mặt khác đây là lứa tuổi quyết định sự hình thành của thế giới quan, hệ thống
quan điểm về xã hội, tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc giao tiếp, ứng xử.
Do đó việc khai thác các phần mềm và ứng dụng CNTT để dạy học Địa lí sẽ
cung cấp và giúp các em chiếm lĩnh một cách độc lập một khối lượng kiến
thức phong phú, trực quan, kích thích sự phát triển hứng thú nhận thức và xây
dựng thế giới quan tích cực về tự nhiên và xã hội.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản trong lí luận dạy học địa lí
1.1.2.1. Phƣơng pháp dạy học và phƣơng pháp dạy học Địa lí
* Khái niệm về phương pháp dạy học
Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất và rộng nhất là hành vi có mục
đích nhất định. Đó cũng là những cách thức, con đường mà người ta cần đi
theo để đạt được mục đích. Theo cách hiểu như vậy thì phương pháp dạy học
là những cách thức tương tác giữa giáo viên với học sinh có liên quan đến các
hoạt động dạy và học nhằm mục đích trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ. Trong
mấy chục năm gần đây, nhiều cuộc tranh luận sôi nổi đã nổ ra xung quanh các
vấn đề: dạy học là một hoạt động duy nhất hay hai hoạt động riêng rẽ, hay kết
hợp chặt chẽ với nhau? Nếu là hai hoạt động thì hoạt động nào có tính chất
viên, phương pháp dạy của giáo viên.
* Một số phương pháp dạy học Địa lí cụ thể
Trong dạy học Địa lí người ta chia phương pháp dạy học thành ba nhóm
cụ thể như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Nhóm phương pháp truyền thống lấy thầy làm trung tâm.
Trong quá trình dạy học đặc biệt là ở những tiết học nắm tri thức mới,
giáo viên thường dùng nhiều phương pháp khác nhau nhưng cho đến nay thì
phương pháp dùng lời truyền thống vẫn được sử dụng rộng rãi.
Phương pháp này có những ưu điểm nhất định. Trước hết nó có khả năng
cung cấp một lượng lớn thông tin trong một thời gian ngắn. Nếu lời lẽ trình
bày của giáo viên trong sáng, truyền cảm, có nội dung khoa học chính xác, có
logic chặt chẽ thì bài giảng sẽ có sức hấp dẫn rất lớn đối với học sinh, làm cho
học sinh tiếp thu bài học một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Tuy nhiên nó có
những nhược điểm như kém tác dụng trong việc phát huy trí lực của học sinh,
hạn chế năng lực chủ động sáng tạo của học sinh trong việc lĩnh hội tri thức.
Trong nhóm phương pháp này gồm phương pháp diễn giải, giảng thuật,
giảng giải đàm thoại.
- Nhóm các phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan truyền thống
trong việc dạy học Địa lí.
Trong nhóm phương pháp dạy học truyền thống, lấy thầy làm trung tâm,
ngoài các phương pháp như đã nêu trên, còn có nhóm phương pháp trực quan
hay nói một cách chính xác hơn là nhóm phương pháp sử dụng các phương
tiện trực quan. Đây là nhóm phương pháp có ý nghĩa quan trọng giúp cho học
sinh nắm được những khái niệm, hình thành nên những biểu tượng. Điều này
rất quan trọng đối với môn Địa lí khi mà học sinh chỉ có thể quan sát được
một phần nhỏ các đối tượng xung quanh, còn phần lớn các đối tượng khác thì
không có điều kiện quan sát trực tiếp. Đối với các hiện tượng như núi lửa,
băng hà, động đất hay những cảnh quan không có ở nước ta như hoang mạc,
thảo nguyên ôn đới… thì học sinh chỉ có thể hình dung ra được nhờ vào các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Phương pháp hướng dẫn học sinh sử dụng các phương tiện hiện đại.
Theo hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay thì tất cả các nhóm
phương pháp trên đều được cải tiến theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động trong hoạt động nhận thức của học sinh.
1.1.2.2. Phƣơng tiện thiết bị dạy học Địa lí trong nhà trƣờng phổ thông
* Khái niệm về phương tiện dạy học
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phương tiện dạy học nói chung và
phương tiện dạy học Địa lí nói riêng.
Các tài liệu về lí luận dạy học đã trình bày phương tiện dạy học đồng
nghĩa với phương tiện trực quan, đó là các vật thật, vật tượng trưng và các vật
tạo hình được sử dụng để dạy học.
- Các vật thật như động vật, thực vật sống trong môi trường tự nhiên, các loại
khoáng vật…giúp cho học sinh tiếp thu tri thức gây hứng thú tìm tòi, học tập.
- Các vật tượng trưng: Giúp cho học sinh thấy được một cách trực quan
các sự vật hiện tượng được biểu diễn dưới dạng khái quát, hoặc đơn giản gồm
các loại sơ đồ, lược đồ, bản đồ giáo khoa.
- Các vật tạo hình kể cả phương tiện hiện đại như tranh ảnh, mô hình,
hình vẽ, băng video, phim đèn chiếu thay cho các sự vật hiện tượng khó trông
thấy trực tiếp (biển, đại dương ) và các sự vật hiện tượng không thể trông
thấy (cấu tạo của Trái Đất).
Song cũng có tác giả coi phương tiện dạy học là những đồ dùng trực
quan được khái quát bằng những mô hình vật chất được dựng lên một cách
nhân tạo, tương tự như đối với vật gốc về một số mặt nhất định nào đó. Nó
giúp ta nghiên cứu đối tượng gốc khi không có điều kiện tri giác trực tiếp đối
tượng này. Nói cách khác, mô hình là vật đại diện hay thay thế cho vật gốc,
nó có những tính chất tương tự vật gốc, nhờ đó mà khi nghiên cứu mô hình
người ta sẽ nhận được những thông tin về tính chất hay quy luật của vật gốc.