Tài liệu Ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng Địa lý 11 THPT - Pdf 81

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình( Sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh… )
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
II. Mục đích của đề tài ...................................................................................... 3
III. Nhiệm vụ của đề tài...................................................................................... 3
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu....................................................................... 3
V. Lịch sử nghiên cứu của đề tài........................................................................ 3
VI. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 5
VII. Đóng góp của đề tài ................................................................................... 6
VIII. Cấu trúc của luận văn ............................................................................... 7
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT
trong thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 ................................................................ 8
1.1. Cơ sở lý luận............................................................................................... 8
1.1.1.Quan niệm về thiết kế bài giảng và thiết kế bài giảng có sử dụng
công nghệ thông tin………………………………………………….. ………8
1.1.2.Đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức của học sinh trung học phổ
thông…………………………………………………………… ...………….23
1.2.Cơ sở thực tiễn……………………………………………… .... ………25
1.2.1.Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 11……… . ………...25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.2.Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học địa lí……… . ………...30
Chương 2: Ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng
Địa lí lớp 11………………………………………………………….. ……..39

SGK Sách giáo khoa
GD - ĐT Giáo dục - Đào tạo
Nxb Nhà xuất bản
DHTC Dạy học tích cực
ĐHSP Đại học sư phạm
ĐHQG Đại học quốc gia
GV Giáo viên
HS Học sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Số hiệu Tên bảng Trang
1 Bảng 1.1 Nội dung chương trình SGK Địa lí lớp 11 29
2 Bảng 1.2 Mô hìnhGiáo dục trong thời đại thông tin 31
Điều tra tình hình của việc ứng dụng CNTT
3 Bảng 1.3 33
dạy học Địa lí ở một số trường THPT
Một số địa chỉ Website cần thiết để giáo viên
4 Bảng 2.1 51
tham khảo trong quá trình TKBG
Tên trường và các giáo viên tham gia thực
5 Bảng 3.1 97
nghiệm
6 Bảng 3.2 Trường, lớp và học sinh tham gia thực nghiệm 98
7 Bảng 3.3 Kết quả thực nghiệm 99
8 Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả thực nghiệm 101
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Stt Số hiệu
1 Hình1.1
2 Hình2.1

Các kiểu chữ nghệ thuật trong WordArt Gallery
Một Slide chữ nghệ thuật trong bài Liên minh
châu Âu
Một Slide biểu đồ trong bài Hoa Kì
Một Slide “Bản đồ tự nhiên châu Phi” trong bài:
Một số vấn đề của châu Phi
Một File ảnh được chèn trong bài Hoa Kì
Một Slide có Video Clip trong bài Hoa Kì
Hộp thoại màu trong Power point
Hộp thoại tạo hiệu ứng
Bản đồ Châu Phi chụp qua vệ tinh
Cảnh quan của Châu Phi
Một Slide video về cảnh chặt phá rừng
Bản đồ khoáng sản của châu Phi
Bảng số liệu và tháp dân số châu Phi
Hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân châu Phi
Một số slide về cảnh chặt phá rừng
Bảng số liệu và tháp dân số châu Phi
Những hình ảnh về hoạt động sản xuất nông nghiệp
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm
Trang
12
59
60
61
63
64
68
69
70

Người GV lúc này không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt tri thức, mà còn phải là
người hướng dẫn cho HS phương pháp tự học, tự nghiên cứu để bắt kịp sự
phát triển của xã hội.
Muốn vậy, phải có những cách thức và phương pháp dạy học (PPDH) thích
hợp để truyền đạt cho HS những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đầy đủ và
chính xác, có chọn lọc để phù hợp với mục tiêu dạy học.
Ở nước ta, vấn đề nâng cao chất lượng dạy - học (nói chung), dạy - học
môn Địa lí (nói riêng) được Đảng, Nhà nước và xã hội rất quan tâm; Đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế, mở cửa và hội nhập Quốc Tế, thời kỳ công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi hệ thống Giáo dục - Đào tạo (GD - ĐT) phải
xác định lại mục tiêu, phải thiết kế lại chương trình, nội dung và đổi mới
PPDH. Trong các Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước luôn đề cập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
và khẳng định mục tiêu “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục
là đầu tư cho phát triển”.
Ứng dụng của CNTT một giải pháp hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới
phương pháp giảng dạy và học tập của ngành GD - ĐT. Nghị quyết hội nghị
Trung ương Đảng Cộng sản khoá VIII đã chỉ ra một trong những nhiệm vụ
quan trọng của ngành GD - ĐT là phải “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD
- ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nề nếp tư duy
sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu . . .”
Muốn giờ học đạt kết quả tốt thì chính người GV phải chuẩn bị (thiết
kế)
trước giờ lên lớp (thi công). Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là người GV
phải biết
lựa chọn phương pháp phù hợp cùng với việc ứng dụng CNTT để hướng dẫn tổ
chức và điều khiển HS phát huy hết năng lực trong quá trình

11 ở trường THPT hiện nay.
III. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài cần giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT trong
TKBG Địa lí lớp 11.
- Nghiên cứu những kỹ thuật cần thiết về CNTT để thiết kế một số dạng bài
giảng trong chương trình Địa lí lớp 11 THPT.
- Đưa ra quy trình TKBG Địa lí (nói chung) và lớp 11 (nói riêng ) có ứng
dụng CNTT.
- Thực nghiệm Sư phạm để đánh giá tính khả thi của vấn đề nghiên
cứu.
- Đánh giá những thuận lợi - khó khăn và đưa ra những giải pháp cụ thể để
việc ứng dụng CNTT vào nhà trường đạt hiệu quả.
IV. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ, tác giả chỉ bước đầu nghiên cứu việc
ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11THPT.
V. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Việc ứng dụng các thành tựu của lĩnh vực CNTT và dạy học không còn
là vấn đề mới mẻ trên thế giới. Vai trò, vị trí quan trọng của CNTT cũng đã
được khẳng định qua thực tiễn. Trên thế giới nhất là những nước có CNTT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
phát triển, người ta đã thực hiện thành công hàng loạt dự án, các chương trình
để đưa các ứng dụng CNTT vào dạy học.Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy
học (nói chung) và TKBG (nói riêng) cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng
rãi trên thế giới nhất là ở những khu vực và quốc gia có nền kinh tế phát triển
như: Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, NICs. . .
Ở Việt Nam nhận rõ vai trò của CNTT đối với đời sống xã hội, Đảng -
Nhà nước đã có những chính sách phát triển CNTT từ những năm 1993 và
phát triển công nghệ phần mềm từ năm 2000. Do đó, CNTT đã được áp dụng

Ngoài ra, còn rất nhiều các đề tài nghiên cứu của các tác giả khác. Qua các
đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục, chúng ta thấy rằng việc ứng
dụng CNTT vào dạy học đã đem lại kết quả khả quan, phát huy đ ược vai trò chủ
động của HS trong học tập, HS say mê và hứng thú hơn với việc học tập môn Địa
lí. Các công trình nghiên cứu trên đây đã giúp cho chúng tôi về cơ sở lý luận,
những định hướng, những gợi ý để xây dựng và thực hiện đề tài trên cơ sở kế thừa
và phát triển ngày càng tốt hơn.
VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này phải dùng các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Căn cứ vào mục đích nhiệm vụ của đề tài, tôi đã tiến hành thu thập, phân
tích tài liệu từ các nguồn khác nhau: Sách báo, tạp chí chuyên ngành, luận văn,
các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học, các phần mềm nghiên cứu ứng dụng
vào học tập có nội dung liên quan.
Để TKBG đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục, tôi còn chú ý
nghiên cứu sách giáo khoa (SGK) hiện hành làm tài lệu chuẩn cho nội dung thiết
kế của bài học. Ngoài ra tôi còn tiến hành nghiên cứu thêm những tài liệu tham
khảo khác trong chương trình phân ban và giáo trình đại học. Đồng thời còn chú
trọng thu thập các tài liệu có liên quan đến PPDH, các tài liệu Lý luận dạy học (đại
cương), Lý luận dạy học địa lí, Tâm lí học sư phạm, Tâm lí học lứa tuổi để việc
TKBG đạt hiệu quả cao nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
6.2. Phương pháp điều tra, quan sát, tổng kết kinh nghiệm
- Tìm hiểu thực tế việc dạy học Địa lí (nói chung) và TKBG Địa lí lớp 11
THPT (nói riêng), đặc biệt là những chương trình có sử dụng CNTT trong
dạy học.
- Dự giờ một số tiết dạy ở các chương trình THPT có sử dụng CNTT, từ
đó rút ra kinh nghiệm và bổ sung những vấn đề có liên quan vào đề tài nghiên
cứu.

TKBG Địa lí lớp 11.
- Ứng dụng CNTT trong TKBG Địa lí lớp 11 nhằm góp phần đổi mới
PPDH và nâng cao hiệu quả trong dạy học Địa lí lớp 11 ở trường THPT
hiện
nay.
VIII. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục tư liệu tham khảo, các phiếu
điều tra . . . luận văn bao gồm các phần chính sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong thiết kế bài giảng Địa lí.
Chương II: Ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng địa lí lớp
11THPT.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THIẾT KẾ
BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ LỚP 11
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Quan niệm về thiết kế bài giảng và thiết kế bài giảng có ứng dụng công
nghệ thông tin
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
*Tiết học Địa lí và các kiểu tiết học Địa lí:
Hiện nay, quá trình dạy học ở trường phổ thông được thực hiện theo
chương trình do Bộ GD - ĐT quy định dưới hai hình thức : Nội khoá và
ngoại khoá.Trong hình thức dạy học nội khoá, tiết học giữ một vai trò và vị
trí đặc biệt quan trọng. Tiết học được xem là đơn vị thời gian cơ bản để
tính thời lượng chương trình cho mỗi bộ môn. Trong tiết học, các nhiệm vụ

dạy và học được diễn ra tại một địa điểm dành riêng như phòng học, phòng
thí nghiệm, vườn địa lí, trên thực địa...với một thời gian xác định, có thể là
một hoặc nhiều tiết học tuỳ thuộc nội dung của bài; dưới sự tổ chức điều
khiển của GV nhằm giúp HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo,
hoàn thiện nhân cách một cách chủ động và tự giác. Như vậy, bài học giữ
vị trí cơ bản và chủ yếu trong quá trình dạy - học trong trường phổ thông.
Chất lượng dạy - học phụ thuộc trước hết ở chất lượng bài học. Đúng như
quan điểm của PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc trong định nghĩa về bài học
Địa lí : “Bài học là một đơn vị của nội dung dạy học, có vị trí xác định
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
trong hệ thống một giáo trình (Hay một cuốn SGK) và có quan hệ chặt chẽ với
các bài học khác trong toàn bộ giáo trình (SGK)”.
“Bài học đảm bảo một khối lượng kiến thức, kĩ năng nhất định trong
chương trình. Nó được cấu thành bởi một hệ thống các khái niệm được sắp
xếp theo một trình tự có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau để làm
rõ một nội dung kiến thức”. Như vậy, mỗi bài học trình bày một nội dung
kiến thức, nội dung đó bao gồm nhiều phần cấu tạo nên , mỗi phần đó gọi là
một đơn vị kiến thức. Mỗi đơn vị kiến thức là những vấn đề được trình bày
tương đối trọn vẹn. Mỗi nội dung kiến thức có thể bao gồm 1, 2 hoặc lớn hơn
2 đơn vị kiến thức. Các đơn vị kiến thức trong bài học Địa lí cũng là những
kiến thức cơ bản, chúng được trình bày qua một hoặc nhiều khái niệm. Do
tính chất và dung lượng của mỗi bài khác nhau, nên đơn vị kiến thức của mỗi
bài có thể không giống nhau. Có nhiều loại bài học khác nhau:
- Bài học trình bày kiến thức mới
- Bài học ôn tập
- Bài học thực hành
Cấu trúc bài học là sự xác lập vị trí và các mối liên hệ cũng như sự tác dộng
lẫn nhau của các yếu tố (thành tố) có tính quy luật của một đối tượng nào đó. Bài
học trình bày một nội dung kiến thức nhất định, có vị trí nhất định trong sách giáo

* Thiết kế bài giảng:
TKBG là những dự kiến cụ thể về sự kết hợp giữa cấu trúc tiết học + cấu
trúc bài học + hình thức tổ chức hoạt động của GV và HS + phương pháp, phương
tiện và thiết bị kĩ thuật dạy học. Trong đó nêu rõ các bước chủ yếu, lượng thời
gian hoạt động của GV và HS nhằm đạt được mục đích cụ thể và rõ ràng mà người
GV đã xác định theo yêu cầu của chương trình.
Quán triệt tinh thần đổi mới PPDH theo hướng dạy học tích cực
(DHTC). Với quan niệm “ Dạy học là sự tổ chức quá trình nhận thức của học
sinh”, “ Thầy tổ chức - trò hoạt động”, hiện nay các nhà nghiên cứu dùng khái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
niệm “ Thiết kế”. Việc thiết kế ở đây được hiểu là TKBG dựa trên cấu trúc bài
học mà GV đã tìm.
Theo các nhà nghiên cứu về lý luận dạy học: “Giáo án là bản thiết kế
một bài giảng ( Bài giảng có thể kéo dài 1 hoặc 2,3 tiết học), trong đó nêu rõ
các bước chủ yếu, các hoạt động của GV và HS, đồng thời cũng nêu lên
những điểm cơ bản về nội dung và phương pháp của người GV và HS, nhằm
đạt được mục đích cụ thể mà người GV xác định trước theo yêu cầu của
chương trình học. Như vậy, chúng ta thấy giáo án bao gồm không chỉ nội
dung, phương pháp giảng dạy mà còn cả cánh thức tổ chức hoạt động của GV
và HS nên có thể coi giáo án là bản thiết kế về một bài giảng cụ thể.
Error!
Thiết kế bài giảng
(Giáo án)
Cấu trúc Cấu trúc bài Hình thức tổ Phương
tiết học học Địa lí
chức hoạt pháp-
động của phương tiện
GV-HS
dạy học Địa

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc:“ Bài giảng là bản thiết kế (giáo án) đã được người
GV thực hiện trên lớp. Bài giảng là nơi thể hiện một cách tập trung và sinh động
nhất những quan điểm, những xu hướng khác nhau - nơi đối lập giữa quan điểm
cũ và mới, quan điểm truyền thống và hiện đại, giữa sự rập khuân và sự sáng tạo
của người GV”.
Vì vậy, khi TKBG rồi, để bài giảng thành công, còn phụ thuộc rất
nhiều vào trình độ chuyên môn vững vàng, tiềm năng Sư phạm cần thiết cũng
như kinh nghiệm nghề nghiệp và tri thức hiểu biết cuộc sống của từng GV.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Với nghĩa đó, có người đã nói “nghề dạy học không phải là một khoa học mà
còn là một nghệ thuật”.
Trong quá trình TKBG, người GV phải tổ chức sao cho các hoạt động của
GV và HS phải vừa đảm bảo lôgíc nội dung trí dục - thích hợp với thời gian, vừa
có một hiệu quả giáo dục và giáo dưỡng cao nhất. Người GV cần phải biết phối
hợp nhịp nhàng giữa việc HS tự tìm tòi, khám phá tri thức và sự hướng dẫn chỉ đạo
của GV sau mỗi hoạt động cụ thể. Đây là cách vận dụng PPDH học một cách
khoa học, hợp lí nhất.
1.1.1.2. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học
* Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay:
Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng lớn: Cách
mạng khoa học - công nghệ và cuộc cách mạng xã hội. Những cuộc cách
mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong
lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực có những bước tiến mạnh mẽ và
đang mở ra những triển vọng hết sức lớn lao. Các cuộc cách mạng này đòi hỏi
gia đình, nhà trường, xã hội phải đào tạo ra những con người mới có tri thức
khoa học công nghệ tiến tiến, có kĩ năng, kĩ xảo vững chắc, sáng tạo, thích
ứng được với yêu cầu mới của thời đại, có ý thức nghề nghiệp để giải quyết
“Trúng, nhanh, sáng tạo” các nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra. Ngoài ra còn đòi
hỏi con người phải có đầu óc khoa học, có trình độ học vấn cao, biết sử dụng

xã hội hiện nay.
Ở nước ta định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác
định trong nghị quyết TW 4 khoá VII (1/1993) của Đảng Cộng sản Việt Nam
nêu rõ : "Đổi mới phương pháp dạy và học ở các cấp học, bậc học. Kết hợp
tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu
khoa học ; gắn nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp giáo dục
hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
vấn đề’’. Nghị quyết TW 2 khoá VIII (12/1996) tiếp tục khẳng định : “ Đổi
mới mạnh mẽ phương pháp GD - ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều
kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS nhất là sinh viên đại học. Phát
triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong
toàn dân, nhất là thanh niên”. Đặc biệt định hướng đổi mới PPDH đã được
Đảng, Nhà nước ta thể chế hoá qua Luật Giáo dục (12/1980), được cụ thể hoá
trong các chỉ thị của Bộ GD - ĐT, đặc biệt chỉ thị số 15(4/1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi rõ “ Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và
học là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010 đã khẳng định “ Tạo bước
chuyển cơ bản về mặt chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên
tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự
nghiệp phát triển KT-XH của đất nước, của từng vùng, từng địa phương, hướng
tới một xã hội học tập. Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng
tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực”.

“Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác
có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động
trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, vận dụng chúng vào
trong học tập và thực tiễn”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Sự dạy học tích cực chỉ có thể có hiệu quả và chất lượng cao khi có sự cộng
tác hết sức chặt chẽ, hợp lí giữa thầy và trò, trong đó thầy giữ vai trò chủ đạo, trò
giữ vai trò tích cực, tự lực làm sao cho quá trình dạy học là sự hoạt động tương
đồng và phối hợp của cả thầy và trò về mặt trí tuệ và thực hành một cách mãnh
liệt, đầy lôi cuốn.
PPDH tích cực thực chất là cách dạy hướng tới việc tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo chống lại thói quen học tập thụ động của HS. Dạy và học tích cực
là một trong những mục tiêu chung và cũng là tiêu chuẩn về giáo dục hiệu quả,
định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường phổ
thông.
Trong PPDH tích cực, nhiệm vụ của người GV là trở thành người thiết
kế, giúp học sinh có cơ hội phát huy tính chủ động (đến mức tối đa) trong
việc tiếp thu kiến thức và kĩ năng bộ môn. Nhiệm vụ truyền thống của người
GV trước đây là chuyền giao thông tin, nay được điều chỉnh và mở rộng thành
nhiệm vụ tạo ra các điều kiện học tập và hỗ trợ quá trình học tập của người
học. HS được thách thức trong quá trình tham gia tích cực tự học. Bản chất
của dạy học tích cực nằm trong khái niệm học như một quá trình tích cực và
kiến tạo, thông qua đó người học xây dựng mối quan hệ giữa thông tin mới và
những kiến thức, kĩ năng đã có.
Những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực có liên quan đến vấn
đề ứng dụng CNTT trong TKBG , có thể kể đến:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh. -
Dạy học chú trọng phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

động phức tạp trong cuộc sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi HS trong
quá trình tự giành lấy kiến thức mới. Tuy nhiên mọi con đường học tập không chỉ
mang tính chất cá nhân mà lớp học là một môi trường học tập mở giữa thầy - trò,
trò - trò có mối quan hệ hợp tác để tìm ra chân lý. Thông qua thảo luận, tranh luận
tập thể, ý kiến cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ... Sẽ giúp người
học nâng mình lên một trình độ mới. Chính cách học hợp tác này giúp cho HS
thích ứng với đời sống xã hội tốt hơn.
Một điều rất quan trọng trong DHTC là dạy học có sự phản hồi để được
điều chỉnh từ cả phía thầy và trò. Vì vậy, việc kiểm tra đánh giá học sinh
không mang tính độc quyền của người GV như trước đây, mà HS cũng được
tự đánh giá (qua sự hướng dẫn của GV) để tự điều chỉnh cách học. Liên quan
với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá
lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất
cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS.
Theo hướng phát triển các PPTC để đào tạo những con người năng động,
sớm thích ghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá không thể dừng
lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến
khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực
tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một
công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời
hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học tập.
Qua đây ta thấy, vai trò của người GV ngày càng trở nên quan trọng.
Yêu cầu đối với GV thực sự cao hơn, phải có trình độ chuyên môn sâu rộng,
có trình độ Sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ
chức, hướng dẫn các hoạt động học tập độc lập của HS có hiệu quả. Do đó,
DHTC không chỉ tích cực hóa người học mà còn tích cực hoá người dạy, góp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status