Bài thuyết trình nhập môn khoa học chính trị xã hội dân sự - Pdf 23

BÀI THUYẾT TRÌNH
NHẬP MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ.
Đề Tài: XÃ HỘI DÂN SỰ
GV: TS. Võ Châu Thịnh
SVTH: Lê Thị Ngọc Anh

Nội dung thuyết trình về XHDS
1. Khái niệm XHDS
2. Lịch sử của khái niệm XHDS.
3. Tính văn minh của XHDS.
4. XHDS và Nền Dân Chủ.
5. XHDS xuyên quốc gia hay toàn cầu.
1. Khái niệm XHDS:

Những đường nét sơ khởi về XHDS được tập thể của các học giả tại Trung Tâm
cho Xã hội Dân Sự tại Trường Kinh Tế học Luân Đôn đã khái lược:
“XHDS đề cập tới một mảng các hoạt động tập thể tự nguyện xung quanh
những lơi ích, mục tiêu và các giá trị chung. Về mặt lý thuyết, các hình thái
thiết chế của nó khác biệt rạch ròi với các hình thái của nhà nước, gia đình
và thị trường, mặc dù trong thực tế thì ranh giới giữa chúng. là khá lẫn lộn,
mập mờ và không rõ ràng (blurred and negotiated). Xã hội dân sự thường
bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và
các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do và quyền lực. Xã
hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ
thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phong trào xã
hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư.
2. Lịch sử của khái niệm XHDS

Thuật ngữ XHDS có sự tương đương trong tiếng Latin (societas civilis) và một
tương đương khá gần trong tiếng Hy Lạp (politike koinona). Các thuật ngữ này
biểu thị chính thể, với các công dân định hình các thiết chế và chính sách của

Trong bản dịch tiếng Đức của - ‘Bnrgerliche
Gesellschaft’, XHDS thu hẹp vào đời sống kinh tế.

Mọi người theo đuổi những nhu cầu vị kỷ của mình và
trở nên xa lạ hóa khỏi chính tiềm năng con người của
mình và đồng loại
Marx

Alexis de Tocqueville người đề xướng lý luận đầu tiên của
‘chủ nghĩa liên hiệp’. Trong chuyến thăm viếng kéo dài của ông ở Mỹ (1831-
1883), ông đã bị ấn tượng bởi thói quen thành lập các liên hiệp của đủ lọai
mục đích chính trị và công cộng của người Mỹ, và đi đến kết luận rằng đây
là hòn đá nền tảng cho sự vận hành thành công của của nền dân chủ ở Mỹ.

Vào đầu thế kỷ 20, Antonio Gramsci, tổng thư ký của Đảng Cộng Sản Ý:

Tách biệt khái niệm xã hội dân sự, với tư cách kiến trúc thượng tầng văn hóa, khỏi
các tương tác kinh tế, với tư cách cơ sở hạ tầng, kiến lập nên một nền học thuật lâu
dài về sự sản xuất ra sự đồng thuận cho các hoạt động thống trị. Sự đồng thuận này
được tạo ra bởi các thiết chế của xã hội dân sự, tiêu biểu như Giáo hội, hay các nhà
trường, các liên hiệp, công đoàn mậu dịch, truyền thông và các thiết chế xã hội
khác.

Gramsci chủ yếu nhấn mạnh vì sao mà chính qua kiến trúc thượng tầng văn hóa
này mà giai cấp tư sản đã áp đặt được sự bá quyền của nó, chống chọi ngay cả
những khủng hoảng kinh tế và chính trị.

Tuy nhiên, ông được kiến giải rộng rãi là đã ám chỉ rằng xã hội dân sự vì thế cũng là
nơi mà một sự phản bá quyền có thể được xây dựng, như một cái nệm giữa nhà
nước và nền kinh tế có cơ cấu giai cấp, sở hữu tiềng năng cách mạng có thể đánh

dân sự như chủ nghĩa liên hiệp, tích lũy tư bản xã hội trong các cộng đồng,
củng cố sự vận hành của nền dân chủ.


XHDS được xem là hữu dụng bởi các nhà hoạt động ủng hộ dân chủ ở
Philippin, Hàn Quốc và Nam Phi. Nhưng nó cũng nhận được một cuộc
sống mới, cả trong lý luận chính trị lẫn trong chính sách thực tiễn,
trong các nền dân chủ ăn sâu ở Tây Âu và Bắc Mỹ cũng như ở Ấn Độ.
Điều này liên quan đến sự lo ngại về sự mai một của nền dân chủ qua
sự thờ ơ dửng dưng và sự vỡ mộng của cử tri, lẫn đến sự chấm hết của
các hệ tư tưởng lớn.

Trong các dụng hành đó, có một khuynh hướng trộn lẫn các ý nghĩa
của Khai Sáng, của Gramsci và của Tocqueville về xã hội dân sự cũng
như trộn lẫn một phạm trù thường nghiệm, thường được gọi NGO, hay
khu vực phi lợi nhuận hay tình nguyện, với các dự án chính trị đa dạng
từ tự do hóa, dân chủ hóa cho đến phản kháng.

Tính ‘văn minh’ của XHDS.


Khái niệm thời Khai Sáng về xã hội dân sự thấm nhuần một cảm niệm về tính văn minh thượng đẳng
của các thể chế Âu châu. Dù không được định nghĩa chuẩn xác, tính văn minh có vẻ liên hệ với phi bạo
lực, cung cách tốt ( cư xử tốt), và khả năng chịu đựng cho người khác trong xã hội của chính mình.

Một số tác giả chối từ bất kỳ sử dụng đáng kể nào của từ văn minh vì cho rằng nó có sắc thái phân biệt
chủng tộc (Comaroff và Comaroff, eds, 1999).

Nảy nở nhiều cuộc tranh luận gần đây về “xã hội phi văn minh/phi dân sự”:
+ Biểu hiện của xã hội dân sự thách thức các giá trị tự do – dân chủ.

thiết đồng nhất với
DCNB
Tính văn minh đối
với phi văn minh có
nhiều hạn chế
Việc tuân thủ PL
hay chuẩn mực XH
khó thực thi

Kopecky viện dẫn hơn 5 lập luận tương liên quan cho việc loại trừ xã hội phi văn
minh khỏi xã hội dân sự:
Xã hội dân sự và nền dân chủ

Việc có một xã hội dân sự sống động phải không bị nhầm lẫn với việc có một xã
hội dân sự văn minh.

Các phong trào tôn gáo và quốc gia chủ nghĩa thường có một nền tảng dân chủ,
và đôi khi muốn lật đổ một chính phủ phi dân chủ, nhưng các giá trị của họ không
nhất thiết là dân chủ và chắc chắn là không tự do chủ nghĩa.

Nền dân chủ trong các quốc gia Tây phương phát triển trong bối cảnh một hệ
thống toàn cầu khai thác và đè nén các bộ phận khác của thế giới. Các bộ phận
dân cư và các chủ thể xộ : hoài, thậm chí quan niệm thù địch với nền dân chủ tự
do được cung cấp hoặc thậm chí bị cưỡng ép.

Chất lượng của xã hội dân sự và chất lượng của nhà nước và thị trường là liên
phụ thuộc
XHDS và CNTB

Các lý thuyết gia kinh điển không phân biệt giữa xã hội dân sự và thị trường.

chống lại toàn cầu hóa có tính săn mồi (Kaldor, 2003).

Đồng thời, một vài trong số những hình thái phổ biến nhất của “xã hội phi văn minh” trong
thế kỷ 21 có thể được dựa trên cái Manuel Castells gọi là “bản sắc phản kháng”, thuần túy
dựa trên việc chống lại nhiều khía cạnh của toàn cấu hóa hơn mà về một dựa án tích cực
cho xã hôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status