MụC LụC
Danh mục từ viết tắt
Danh mục đồ thị
Danh mục bảng
Tóm tắt luận văn
Mở đầu 1
Chơng 1 Một số vấn đề lý luận về GDP và Thu Ngân Sách Nhà Nớc 5
1.1. Một số vấn đề lý luận về GDP 5
1.1.1. Khái niệm 5
1.1.2. Phơng pháp tính GDP 6
1.1.3. Cơ cấu GDP 10
1.2. Thu Ngân Sách Nhà Nớc 14
1.2.1. Khái niệm thu NSNN 14
1.2.2. Các yếu tố tác động đến thu NSNN 17
1.2.3. Cơ cấu thu NSNN 22
1.3. Mối quan hệ giữa GDP và thu NSNN 23
2.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu GDP 1991 - 2005 25
2.1.1. Tổng quan về tình hình GDP giai đoạn này 25
2.1.2. Cơ cấu GDP giai đoạn này 30
2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu thu NSNN giai đoạn 1991 - 2005 34
2.2.1. Tổng quan về tình hình thu NSNN giai đoạn này 34
2.2.2. Cơ cấu thu NSNN giai đoạn này 38
Chơng 3 Vận dụng mô hình kinh tế lợng đánh giá tác động chuyển dịch cơ cấu GDP tới thu
NSNN ở Việt Nam 48
3.1. Mô hình kinh tế lợng mô tả sự tác động của sự chuyển dịch cơ cấu 48
3.2. Mô hình đánh giá và kiểm định 53
3.3. Các phơng án dự báo 59
3.4. Kiến nghị và giải pháp 75
Danh mục từ viết tắt
GDP : Tổng sản phẩm trong nớc
GDPQD : GDP thành phần kinh tế quốc doanh
Bảng 3.1: Kết quả so sánh qua mô hình 68
Bảng 3.2: giả định về các biến ngoại sinh gốc giai đoạn 2006 - 2010 72
Bảng 3.3: giá trị của các biến nội sinh theo phơng án 1 73
Bảng 3.4: Cơ cấu thu NSNN theo phơng án 1 74
Bảng 3.5: giả định các biến ngoại sinh phơng án 2 75
Bảng 3.6: Kết quả dự báo phơng án 2 76
Bảng 3.7: Cơ cấu thu NSNN theo phơng án 2 78
Bảng 3.8: giả định các biến ngoại sinh phơng án 3 79
Bảng 3.9: Kết quả dự báo phơng án 3 79
Bảng 3.10: Cơ cấu thu NSNN theo phơng án 3 80
Bảng 3.11: giả định các biến ngoại sinh phơng án 4 81
Bảng 3.12: Kết quả dự báo phơng án 4 82
Bảng 3.13: Cơ cấu thu NSNN theo phơng án 4 83
Mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài
Ngày nay, nền kinh tế nớc ta vận hành theo cơ chế thị trờng có sự điều
tiết và quản lý của Nhà nớc, mọi hoạt động điều hành và quản lý phải tuân
theo quy luật thị trờng. Do đó việc định hớng phát triển kinh tế nói chung và
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu thu NSNN nói riêng cũng phải tuân
theo quy luật thị trờng. Nh ta đã biết GDP và thu NSNN là các nhân tố quan
trọng trong nền kinh tế, nó tác động mạnh mẽ, toàn diện đến mọi khía cạnh,
lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Thu NSNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng và là công cụ điều
tiết vĩ mô nền kinh tế. Thu NSNN tác động đến cả phía cung và phía cầu, là
công cụ hỗ trợ đắc lực Nhà nớc thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế - xã
hội, hỗ trợ Nhà nớc trong quá trình quản lý và thúc đẩy phát triển, đảm bảo
công bằng xã hội, góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nớc. Nghiên cứu thu NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu theo thành phần
kinh tế, từ đó cho ta cái nhìn tổng quan và rõ nét về tình hình, tiềm lực của
từng thành phần kinh tế để có giải pháp khuyến khích, động viên thu từ từng
nớc ngoài. Đặc biệt là đánh giá sự chuyển dịch của cơ cấu GDP theo thành
phần tác động đến cơ cấu thu NSNN theo thành phần. Liên quan đến lĩnh vực
này ở Việt Nam đã có một số công trình đề tài, luận án đề cập đến nh: Đổi
mới NSNN của GS. TS. Tào Hữu Phùng (1992); Quản lý NSNN ở Việt Nam
và các nớc của GS. TS. Nguyễn Công Nghiệp (1991); Đổi mới cơ cấu chi
NSNN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam của TS. Bùi Đờng
Nghiêu (2002); Hoàn thiện cơ cấu NSNN ở Việt Nam hiện nay của TS.
Phùng Đức Hùng (2003) các đề tài, luận án trên đã nghiên cứu, đề cập và đa
ra nhiều vấn đề, giải pháp liên quan đến NSNN nói chung hoặc cơ chế, cơ cấu
thu - chi NSNN nói riêng. Tuy nhiên, cha có một đề tài, luận án nào đề cập
một cách trực tiếp, đầy đủ quan hệ và tác động của cơ cấu kinh tế theo thành
phần đến cơ cấu thu NSNN. Hơn nữa, các đề tài đã có của chúng ta từ trớc
đến nay khi đề cập, đánh giá đều tiếp cận trên quan điểm định tính, kinh
nghiệm và nếu sử dụng phần định lợng thì rất giản đơn và chỉ mang tính minh
họa, cha có một mô hình nào nghiên cứu, đánh giá sự tác động lẫn nhau dới
góc độ các mô hình kinh tế để đa ra các căn cứ định lợng. Khi đa ra những
chính sách, quyết định chúng ta phải có những căn cứ khoa học về mặt định l-
ợng. Trớc những yêu cầu đó chúng ta phải xây dựng những mô hình nhằm
phục vụ cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể và toàn nền kinh tế nói chúng. Với
những lý do và thực tiễn đó tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: Đánh giá tác
động của chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần tới thu NSNN bằng mô
2
hình kinh tế lợng
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về GDP và cơ cấu GDP, vấn đề lý
luận về thu NSNN và cơ cấu thu NSNN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng GDP, cơ cấu GDP, thu NSNN, cơ cấu thu
NSNN từ 1991 - 2005, đặc biệt là từ khi nền kinh tế mở cửa vận động theo cơ
chế thị trờng và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần tới cơ
Chơng 3: Vận dụng mô hình kinh tế lợng đánh giá tác động chuyển dịch
cơ cấu GDP tới thu NSNN ở Việt Nam
4
Chơng 1
Một số vấn đề lý luận
về GDP và Thu Ngân Sách Nhà Nớc
1.1. Một số vấn đề lý luận về GDP
1.1.1. Khái niệm
Tổng sản phẩm trong nớc (GDP - Gross Domestic Product) là một chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp cơ bản, quan trọng của một quốc gia, phản ánh kết quả cuối
cùng của các hoạt động sản xuất của các ngành, thành phần kinh tế. Nó là chỉ
tiêu gốc của mọi khoản thu nhập, nguồn gốc của sự giàu có và phồn vinh của xã
hội và từ đó thiết lập các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác nh: GNP (tổng sản
phẩm quốc dân), GNI (tổng thu nhập quốc gia), NI (thu nhập quốc gia), NNP
(sản phẩm quốc dân thuần tuý), NDI (thu thu nhập quốc dân sử dụng), trong
nền kinh tế quốc dân. GDP đợc thiết lập nhằm phản ánh kết quả hoạt động của
mọi ngành sản xuất (20 ngành cấp I) trên lãnh thổ kinh tế của một quốc gia
(một địa phơng, một vùng lãnh thổ, ) trong một thời kỳ nhất định (thờng là
một năm). Chỉ tiêu GDP không chỉ biểu hiện hiệu quả của tái sản xuất theo
chiều sâu mà cả hiệu quả tái sản xuất xã hội theo chiều rộng.
Vậy GDP bản chất là gì? GDP là tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế
quốc dân còn lại (giá trị gia tăng - VA ) sau khi trừ đi giá trị của những sản
phẩm vật chất và dịch vụ hao phí trong quá trình sản xuất (Tổng chi phí trung
gian - IC). Đó chính là bộ phận giá trị mới do lao động sản xuất tạo ra và khấu
hao tài sản cố định trong một thời kỳ nhất định. Nói cách khác, tổng sản phẩm
trong nớc (quốc nội) là toàn bộ giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế
trong nền kinh tế quốc dân tạo ra trong một thời kỳ nhất định.
Một cách đơn giản ta có thể hiểu tổng sản phẩm trong nớc đo lờng tổng
giá trị của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng đợc sản xuất ra trong phạm vi
lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thờng là một năm).
xuất thông qua các yếu tố chi phí và toàn bộ kết quả đạt đợc trong kỳ nghiên
cứu.
Công thức tổng quát.
Tổng sản phẩm
trong nớc
= Tổng giá trị sản xuất
của nền KTQD
- Tổng chi phí trung
gian của nền KTQD
6
(GDP)
( GO) ( IC)
- Tổng giá trị sản xuất (GO - Gross output): tổng giá trị sản xuất của
nền kinh tế quốc dân là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do tất cả
các đơn vị, các ngành trong nền kinh tế quốc dân tạo ra trong một thời kỳ nhất
định (thờng là 1 năm).
Tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế quốc dân đợc xác định bằng cách
tổng hợp giá trị sản xuất của tất cả các ngành kinh tế và có thể tính theo các
phơng pháp khác nhau: Phơng pháp doanh nghiệp, phơng pháp ngành, phơng
pháp kinh tế quốc dân.
Trong các phơng pháp nói trên, phơng pháp doanh nghiệp là phơng pháp
cơ bản đợc SNA sử dụng trên thực tế để tính tổng giá trị sản xuất. Theo đó,
tổng giá trị sản xuất trong SNA bao gồm toàn bộ các yếu tố: chi phí trung
gian, trả công lao động, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định và giá trị
thặng d. Nói cách khác tổng giá trị sản xuất bao gồm cả tổng chi phí trung
gian và tổng sản phẩm trong nớc.
- Chi phí trung gian (IC - Intermediate Consumption): Chi phí trung gian
là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất. Chi phí trung gian bao gồm chi phí vật
chất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao tài sản sản cố định). Đó là
chi phí sản phẩm của các ngành và của bản thân ngành nghiên cứu để sản xuất
d
+ P
r
Trong đó: W Tiền công, tiền lơng
R Tiền thuê đất
T
i
Thuế doanh thu
D
p
Khấu hao tài sản cố định
I
n
Trả lãi tiền vay của công ty
P
r
Lợi nhuận trớc thuế
Phơng pháp 3: Tính GDP theo phơng pháp tiêu dùng cuối cùng (sử dụng
cuối cùng)
Theo phơng pháp, cách tiếp cận này thì GDP đợc xác định nh sau:
Tổng sản phẩm
trong nớc
(GDP)
=
Tiêu dùng
cuối cùng
của hộ
(C)
+
Tiêu dùng
Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ đợc mua bán, trao
đổi, giữa đơn vị thờng trú và không thờng trú của nền kinh tế quốc dân.
Xuất, nhập khẩu hàng hóa bao gồm xuất nhập khẩu tại chỗ và xuất nhập khẩu
qua biên giới.
Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân chỉ tiêu GDP đợc tính đồng
thời theo 3 phơng pháp: phơng pháp sản xuất, phơng pháp thu nhập, phơng
pháp tiêu dùng cuối cùng. Cần phải tính GDP theo cả 3 phơng pháp vì chúng
có tác dụng khác nhau.
- Tính GDP theo phơng pháp sản xuất cho phép nghiên cứu tăng trởng
kinh tế và các nhân tố ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế; nghiên cứu cơ cấu và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần, theo vùng, lãnh
thổ ; nghiên cứu hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội; thiết lập hàm sản
xuất, hàm chi phí,
- Tính GDP theo phơng pháp phân phối cho phép nghiên cứu kết cấu
phân phối và sự thay đổi kết cấu phân phối GDP. Cũng nh nghiên cứu mối
quan hệ giữa các loại thu nhập, từ đó có chính sách kết hợp hài hòa cả 3 lợi
ích (cá nhân, tập thể, và xã hội) tạo động lực cho sự phát triển; nghiên cứu kết
cấu giá trị GDP; nghiên cứu vai trò các loại thu nhập theo nhân tố sản xuất
- Tính GDP theo phơng pháp tiêu dùng cuối cùng cho phép nghiên cứu
9
các cân đối quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (tích lũy và tiêu dùng
cuối cùng, xuất khẩu và nhập khẩu, ); tính các chỉ tiêu xu hớng tiêu dùng
cận biên, tiết kiện cận biên; thiết lập hàm tổng cầu; phân tích các chính sách
kinh tế
Về nguyên tắc, kết quả tính GDP theo 3 phơng pháp phải bằng nhau vì
chúng là các vế của một đồng nhất thức. Tuy nhiên, trên thực tế các phơng
pháp dựa vào các nguồn thông tin khác nhau, cho nên kết quả tính GDP theo
các phơng pháp thờng có sai lệch nhất định. ở Việt Nam, tính GDP theo ph-
doanh nghiệp, từng ngành kinh tế quốc dân, từng khu vực thể chế, từng địa ph-
ơng (hoặc vùng lãnh thổ) hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Khi nghiên cứu cơ
cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân ngời ta thờng nghiên cứu theo các tiêu
thức sau:
- Theo ngành kinh tế: có cơ cấu kinh tế theo ngành kinh tế.
- Theo địa phơng (vùng lãnh thổ): có cơ cấu kinh tế theo địa phơng
(vùng lãnh thổ).
- Theo thành phần kinh tế: có cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
* Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành kinh tế đợc hình thành trên cơ
sở các quan hệ tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành hoặc nhóm ngành
trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu ngành diễn ra sớm nhất và đợc hình thành dựa trên cơ sở của sự
phân công lao động xã hội theo ngành. Cơ cấu ngành mang tính lịch sử, bởi vì
cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật, phân
công lao động càng tỷ mỷ, nền kinh tế quốc dân càng xuất hiện thêm nhiều
ngành mới làm cho cơ cấu ngành càng đợc phân chia đa dạng hơn. Phân công
lao động xã hội diễn ra đã phân chia nền kinh tế quốc dân thành những ngành
lớn nh: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Trong từng ngành lại đợc chia ra
thành các ngành nhỏ, ví dụ nh: công nghiệp chia thành công nghiệp nhẹ, công
nghiệp nặng
Phân công lao động xã hội biểu hiện trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất xã hội và sự chuyên môn hóa trong sản xuất. Khi lực lợng sản xuất xã hội
càng phát triển, đặc biệt là sự phát triển của công cụ lao động, phân công lao
động xã hội sẽ càng sâu, nền kinh tế quốc dân sẽ xuất hiện thêm nhiều ngành
mới. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, tiền đề hình thành nên cơ cấu ngành kinh
11
tế là sự phân công lao động xã hội.
* Cơ cấu thành phần kinh tế
Thuật ngữ thành phần kinh tế là một khái niệm để chỉ kết cấu kinh tế - xã
lãnh thổ.
Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các
mối quan hệ kinh tế của tổng thể kinh tế theo những mục tiêu và định hớng
nhất định.
Sự thay đổi đó, một mặt do sự biến động về số lợng các ngành, các vùng,
các thành phần kinh tế cấu thành tổng thể kinh tế khi có sự tăng lên hoặc giảm
đi của một hoặc một số ngành, vùng hay thành phần kinh tế.
Mặt khác do biến động về quy mô của tổng thể kinh tế cũng nh của các
bộ phận cấu thành tổng thể khi có sự biến đổi của bản thân tổng thể (đây
chính là thuộc tính của cơ cấu) và của từng bộ phận cấu thành.
Nh vậy, chuyển dịch cơ cấu diễn ra không chỉ về lợng mà còn cả về chất
của tổng thể cũng nh của từng bộ phận cấu thành của tổng thể. Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế không những là nguyên nhân thúc đẩy quá trình phát triển nền
kinh tế quốc dân mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình định
hớng đờng lối phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nói cách khác, quá
trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế xét về thực chất cũng chính
là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều đó đợc giải thích rằng, tất cả các
học thuyết, từ học thuyết kinh tế của các nhà kinh tế t sản đến học thuyết kinh
tế của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nh các học thuyết kinh tế hiện đại ngày
nay đều đề cập đến vấn đề cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thờng diễn ra trên cả ba bộ phận cơ bản hợp
thành cơ cấu kinh tế. Đó là cơ cấu kinh tế theo ngành, cơ cấu kinh tế theo
thành phần và cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ.
Sự phát triển của mỗi quốc gia đợc đánh giá bằng rất nhiều chỉ tiêu. Và
một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất, đó là tổng sản phẩm trong nớc.
Không phải vô cớ mà loài ngời phải tìm ra những phát minh, sáng chế, khoa
học công nghệ hiện đại miễn sao sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm có
giá trị, phục vụ đời sống nhân dân.
Trớc hết, ta cần phân biệt hai khái niệm tăng trởng kinh tế và phát triển
ngân sách của Nhà nớc, Nhà nớc là chủ thể của Ngân sách đó.
NSNN tuy là khái hiệm rất quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất cứ ngời
dân nào cũng biết, song nhận thức về NSNN dới góc độ khái niệm thì còn
nhiều lý giải khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển thì NSNN là một văn kiện tài
14
chính, mô tả các khoản thu và chi của Chính phủ đợc thiết lập hàng năm.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì NSNN là bảng liệt kê
các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nớc.
Quan điểm cho rằng, NSNN dùng công phí để cung cấp cho một vài giai
cấp trong xã hội, một phần nào đó số thu từ thu nhập của giai cấp khác mà
ngân sách thu vào bằng chế độ thuế khoá. Chính điều này cho ta thấy tính chất
chính trị của NSNN, sử dụng ngân sách có nghĩa là dùng phơng tiện tài chính
công nh là: thuế, chi tiêu (tức là các khoản thu và chi của Nhà nớc) để Nhà n-
ớc có thể làm thay đổi sự cân bằng giữa các tầng lớp xã hội Có thể thấy
rằng quan điểm này thiên về tái phân phối tài chính và khẳng định NSNN là
công cụ Nhà nớc thực hiện tái phân phối.
Theo Luật của Quốc hội nớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số
01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 về NSNN thì: NSNN là toàn bộ
khoản thu, chi của Nhà nớc đã đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết
định và đợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nớc.
Vậy thu NSNN là gì? khi Nhà nớc mới ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự
tồn tại và hoạt động của mình Nhà nớc đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt dân c
phải đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nớc. Lúc đầu, Nhà nớc
sử dụng nó để nuôi bộ máy Nhà nớc, sau đó phạm vị sử dụng đợc mở rộng dần
theo sự phát triển của các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc. Ngày nay, Nhà
nớc còn sử dụng nguồn thu NSNN để chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội
và phát triển kinh tế. Do vậy, thu NSNN ngày càng đợc phát triển.
Có quan điểm cho rằng thu NSNN là việc Nhà nớc dùng quyền lực của
- Thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hoá, dịch vụ trong nớc.
- Phí xăng, dầu.
Nguồn thu của ngân sách địa phơng gồm:
a. Các khoản thu ngân sách địa phơng hởng 100%:
- Thuế nhà, đất.
- Thuế tài nguyên (không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí).
16
- Thuế môn bài.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Tiền sử dụng đất.
- Tiền cho thuê đất.
- Tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu Nhà nớc.
- Lệ phí trớc bạ.
- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết.
- Thu hồi vốn của ngân sách địa phơng tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ
dự trữ tài chính của địa phơng, thu nhập từ vốn góp của địa phơng.
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các
cá nhân ở nớc ngoài trực tiếp cho địa phơng.
- Các khoản phí, lệ phí, thu từ hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác
nộp vào ngân sách địa phơng theo quy định của pháp luật.
- Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác.
- Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nớc.
- Thu kết d ngân sách địa phơng theo quy định của pháp luật.
- Các khoản thu khác của pháp luật.
b. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách trung ơng và
ngân sách địa phơng.
c. Thu bổ xung từ ngân sách trung ơng.
d. Thu từ huy động đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế gián thu đợc đa vào chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
để tính vào giá thành sản phẩm và làm cho giá thành tăng lên và khi ngời tiêu
dùng mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ thì phải chịu khoản thuế đó.
Thuế trực thu: là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của tổ chức, cá nhân
18
và do các đối tợng thuộc diện nộp thuế nộp vào NSNN. Đối tợng chịu thuế và
nộp thuế là một. Hiện nay loại thuế này gồm:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế lợi tức).
- Thuế thu nhập cá nhân.
- Thuế môn bài.
- Thuế sát sinh.
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
- Thuế nhà, đất.
- Thuế tài sản.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp .
Hiện nay một câu hỏi đặt ra và còn phải bàn luận nhiều để tìm ra hớng
giải pháp hợp lý, đó là: tăng thuế suất thuế gián thu và giảm thuế suất thuế
trực thu hay ngợc lại? Để trả lời câu này ta thấy: nếu tăng thuế suất thuế trực
thu, giảm thuế suất thuế gián thu sẽ không kích thích đối tợng nộp thuế trực
tiếp trong khâu sản xuất và tạo ra giá trị mới, ngợc lại là tăng thuế suất thuế
gián thu và giảm thuế suất thuế trực thu sẽ kích thích ngời sản xuất nhng làm
tăng khả năng trốn thuế, thất thoát nguồn thu.
b. Phí và lệ phí :
Phí và lệ phí là các khoản đóng góp bắt buộc mà dân c hoặc tổ chức kinh
tế xã hội phải nộp cho Nhà nớc sau khi Nhà nớc đã phục vụ cho chúng ta một
dịch vụ nào đó.
Việc phân biệt rõ ràng phí và lệ phí là rất khó khăn. Tuy nhiên chúng ta
có thể hiểu rằng phí gắn liền với chi phí mà dịch vụ bỏ ra. Trong khi đó lệ phí
loại: viện trợ cho không (không hoàn lại) hoặc viện trợ hoàn lại với lãi suất
thấp, thời hạn cho vay dài và đợc hởng nhiều u đãi khác.
f. Các khoản thu khác :
Ngoài những khoản thu trên NSNN còn có những khoản thu bổ sung thêm
nh: kết chuyển thu từ năm trớc, thu từ hợp tác lao động nớc ngoài
Trên đây là các yếu tố nội sinh, tác động trực tiếp vào nguồn thu NSNN.
Nếu xét mức độ động viên thì các yếu tố sau ảnh hởng đến thu NSNN:
a. GDP
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế của một
20
quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu t của một nớc. GDP là
nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN. Nếu không tính đến chỉ
tiêu này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hởng tiêu cực đến
tiết kiệm, tiêu dùng và đầu t của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân c.
b. Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế
Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu t phát triển
kinh tế. Tỷ suất doanh doanh lợi càng lớn, nguồn tài chính càng lớn. Đây là
nhân tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN.
Dựa vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN
sẽ tránh đợc việc động viên vào NSNN gây khó khăn về tài chính cho hoạt
động kinh tế. Hiện nay, tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nớc ta đạt thấp,
trong khi chi phí tiền lơng ngày càng tăng, nên tỷ suất thu NSNN không thể
cao đợc.
c. Tiềm năng đất nớc về tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nớc đang phát triển và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú thì nhân tố này có ảnh hởng lớn đến số thu NSNN. Kinh nghiệm của các
nớc cho thấy nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20%
kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu NSNN sẽ cao và có khả năng tăng nhanh.
ở nớc ta trong tơng lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng
lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Đó là nhân tố rất quan trọng ảnh hởng to lớn