Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp bằng mô hình kinh tế lượng - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp là ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vất chất rất lớn cho xã hội, có vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp không những cung cấp hầu hết các công cụ,
tư liệu sản xuất xây dựng cơ sở vật chất cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm
tiêu dùng có giá trị góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của xã hội. Vì
vậy tăng trưởng công nghiệp có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như:
nông nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, dịch vụ, quốc phòng…Do công nghiệp có vai trò
quan trọng như vậy nên khi đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia tiêu chuẩn đầu
tiên phải đề cập đến là tỷ trọng của ngành công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
Ngày nay, một nước muốn có trình độ kinh tế cao, nhất thiết phải có một hệ thống các
ngành công nghiệp hiện đại và đa dạng trong đó các ngành mũi nhọn phải được chú ý thích đáng.
Do vậy chỉ có tăng trưởng công nghiệp mới giúp các quốc gia đang phát triển xây dựng nền công
nghiệp bền vững và xoá bớt khoảng cách với các nước phát triển kể cả về mặt kinh tế lẫn văn minh
xã hội. Nhận thức rõ điều này Đảng và Nhà nước ta từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) đã
có chủ trương đổi mới nền công nghiệp từ tập trung phát triển công nghiệp nặng sang phát triển
đồng bộ các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến và hàng tiêu dùng. Chính từ chủ
trương đổi mới đó sau gần 20 năm công nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể, tăng
trưởng công nghiệp này càng cao và ổn định, các sản phẩm công nghiệp đáp ứng được nhu cầu
trong nước và còn xuất khẩu cạnh tranh với các sản phẩm của nước ngoài. Tuy nhiên bên cạnh
những thành tựu đã đạt được, công nghiệp Việt Nam còn một số điểm kém phát triển như lao động
trong ngành công nghiệp có trình độ chưa cao, sản phẩm công nghiệp có sức cạnh tranh chưa
cao…Với những thành tựu cũng như thực trạng này chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh phát triển
công nghiệp để nước ta trở thành một nước công nghiệp trong thời gian sắp tới.
Để có được sự tăng trưởng trong công nghiệp như vậy thì cần phải xét tới những yếu tố đã
tác động tới sự phát triển đó. Bằng việc sử dụng mô hình trong kinh tế lượng phân tích các yếu tố
ảnh hưởng tới tăng trưởng công nghiệp là việc xem xét mối quan hệ giữa các biến số và nắm được
nhân tố nào quan trọng nhất trong các nhân tố có ảnh hưởng tới biến phụ thuộc trong mô hình.
Phân tích số liệu, tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề trên sẽ có ý nghĩa trong việc phân tích đánh giá
1
đầy đủ hơn về tăng trưởng công nghiệp Việt Nam trong thời gian qua. Từ đó xât dựng mô hình

- Sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic.
- Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại.
- Sản xuất kim loại.
- Sản xuất các sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc, thiết bị).
- Sản xuất máy móc, thiết bị văn phòng, máy tính.
3
- Sản xuất radio, ti vi và thiết bị truyền thông.
- Sản xuất dụng cụ y tế, thiết bị chính xác (cân đo).
- Sản xuất xe có động cơ.
- Sản xuất các loại phương tiện khác.
- Sản xuất giường tủ, bàn ghế và các sản phẩm khác chưa được phân vào đâu.
- Tái chế phế liệu, phế phẩm.
(3) Sản xuất tập trung và phân phối điện, ga, nước sạch và nước nóng gồm:
- Sản xuất, tập trung và phân phối điện, ga.
- Sản xuất và phân phối nước sạch, nước nóng.
2. Công nghiệp Việt Nam trước năm 1986 và chủ trương đổi mới
2.1. Một vài nét về quá trình phát triển của Công nghiệp Việt Nam từ trước năm 1986
Nước ta từ trước năm 1945 là một nước phong kiến thuộc địa, phương thức sản xuất
phong kiến trì trệ kéo dài, chính sách trọng nông, kiềm công, ức thương nên công nghiệp không
thể tách khỏi nông nghiệp để trở thành một ngành độc lập. Do đó nền công nghiệp nước ta lúc
bấy giờ là nền công nghiệp què quặt không phát triển. Đến tháng 9/1945 khi nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà ra đời, tiếp quản chính quyền từ chế độ cũ Chính Phủ nước ta lúc bấy giờ
gặp vô vàn khó khăn, công nghiệp Việt Nam vốn đã què quặt lại chịu ảnh hưởng nặng nề của
chiến tranh nên càng sa sút. Song với đường lối và chủ trương đúng đắn của Đảng cung với sự
nỗ lực của cán bộ làm công nghiệp nên chỉ trong một năm hầu hết các cơ sở sản xuất công
nghiệp quan trọng đã nhanh chóng được phục hồi và đi vào sản xuất.
Từ tháng 5/1954 đến 5/1975, trong hoàn cảnh một phần đất nước còn đang chiến tranh,
công nghiệp Việt Nam vừa phải xây dựng một nền sản xuất tiến dần lên cơ khí hoá và tự động
hoá, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, một mặt phải tiếp tục sản xuất để chi viện cho chiến
trường miền Nam. Với chủ trương khôi phục, phát triển kinh tế và cải tạo công thương nghiệp,

1978 tăng 8,2%; 1979 giảm 4,7%; 1980 giảm 10,3%; 1981 tăng 1%; 1982 tăng 8,7%; 1983
tăng 13%; 1984 tăng 13,2%; năm 1985 tăng 12,1%).
2.2. Chủ trương đổi mới
Trên đây chúng ta đã điểm qua một vài nét chính về quá trình lịch sử của công nghiệp Việt
Nam. Qua đó ta thấy công nghiệp Việt Nam hình thành khá muộn so với nền công nghiệp Thế
Giới, mãi đến năm 1945 khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời thì nó mới thực sự trở
thành ngành độc lập. Xuất phát điểm công nghiệp thấp không chỉ về mặt kỹ thuật, công nghệ
5
mà còn cả về khả năng ứng dụng và môi trương kinh tế để có thể phát triển. Thêm vào đó là
những chủ trương, chính sách sai lầm sau ngày giải phóng. Tất cả những điều kiện trên đã tạo
thành bức rào cản kiên cố ngăn không cho kinh tế Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp
Việt Nam nói riêng phát triển như các nước trong khu vực, hoà cùng nhịp đi lên của thế giới.
Việt Nam trong điều kiện ấy thứcự đã bị tụt hậu quá xa nhưng lại chỉ chậm chạp, năng nề lê
từng bước để đuổi theo sự phát triển với tốc độ chóng mặt của nền kinh tế Thế Giới.
Trước bối cảnh đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đi vào thế ổn định và phát triển. Đại hội xác
định: “ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu
tiên là ổn định mọi mặt kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy
mạnh CNH XHCN trong chặng đường tiếp theo”.
Về các biện pháp lớn Đại hội chỉ rõ: “ Phải khai thác mọi khả năng của các thành phần
kinh tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, kiên quyết xoá bỏ cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế kế hoạch hoá hạch toán theo phương thức
hạch toán kinh doanh XHCN, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá-tiền tệ, quản lý bằng
phương pháp kinh tế là chủ yếu. Căn cứ vào định hướng chung đó, phải bố trí lại cơ cấu kinh
tế, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản, xác định lại vị trí ưu tiên của các ngành sản
xuất, đặt sản xuất nông nghiệp lên vị trí hàng đầu gắn liền với đề cao vai trò của công nghiệp
nhẹ và tiểu, thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Việc phát triển công
nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng phải nhằm phục vụ các mục tiêu kinh tế, quốc phòng
trong chặng đường đầu tiên, không bố trí công nghiệp nặng vượt quá điều kiện thực tế, khả
năng cho phép. Đại hội chủ trương công bố khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới

20%, hoá chất tăng 20,1%, luyện kim đen tăng 16,1%, chế biến lương thực tăng 13,6%, giấy
tăng 12,9%, may mặc tăng 27,3%, giầy da tăng 23,8%. Nhiều sản phẩm công nghiệp quan
trọng tăng trưởng khá: điện tăng 10,8%, dầu thô tăng 23,3%, thép cán tăng 30,3%, xà phòng
tăng 12,9%.. Công nghiệp sản xuất hang tiêu dùng vừa tăng nhanh số lượng vừa nâng cao chất
lượng nên bước đầu đã tăng sức cạnh tranh với hàng ngoại. Cơ cấu ngành cơ cấu thành phần
kinh tế cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó đáng chú ý là công nghiệp khu vực FDI
ngày càng chiếm vị trí xứng đáng trong cơ cấu công nghiệp nước ta. Nhiều sản phẩm mới có
chất lượng cao xuất hiện làm phong phú thêm hang hoá trên thị trường trong nước và xuất
khẩu. Năm 1995, công nghiệp FDI chiếm 23,6% tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp,
so với 52% của doanh nghiệp nhà nước.
7
Trong kế hoạch 5 năm 1996-2000, sản xuất công nghiệp nước ta tiếp tục phát triển ổn định
và tăng trưởng với nhịp độ cao. Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân 5 năm 1996-2000 tăng
13,8%: 1996 tăng 14,2%, năm 1997 tăng 13,8%, 1998 tăng 12,5%, 1999 tăng 11,6%, 2000 tăng
17,5%. Không chỉ tăng trưởng cao mà sản xuất công nghiệp những năm cuối cùng của thập kỷ
90 đã xuất hiện xu hướng đa ngành, đa sản phẩm với sự tham gia của các thành phần kinh tế
quốc doanh, ngoài quốc doanh và công nghiệp có vốn FDI, trong đó công nghiệp quốc doanh
vẫn giữ vai trò chủ đạo. Tính chung 5 năm từ 1996-2000 giá trị sản xuất khu vực Nhà nước do
TW quản lý đều tăng trưởng cao ở tất cả các nhóm ngành chủ yếu: 2000/1995 công nghiệp khai
thác tăng 37,4%; công nghiệp chế biến tăng 55,7% và công nghiệp sản xuất và phân phối điện,
khí đốt và sản xuất nước tăng gấp 2 lần. Công nghiệp nhà nươc do địa phương quản lý tuy có
tốc độ tăng trưởng thấp hơn khu vực do TW quản lý nhưng có nhiều khởi sắc so với các thời
kỳ trước đó, nhất là ngành may mặc, dệt, da, chế biến lương thực thực phẩm.
Công nghiệp ngoại quốc doanh, tuy có nhiều khó khăn về vốn, thị trường và công nghệ
nhưng vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá. Bình quân 5 năm 1996-2000 giá trị sản xuất
công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh tăng 11,65% cao hơn công nghiệp khu vực nhà nước
trong cùng thời gian. Điều đó thể hiện rõ nhất trong năm 2000, công nghiệp ngoài quốc doanh
tăng 19,2%, trong đó khu vực hỗn hợp tăng cao nhất 24%, kế đến là khu vực tập thể tăng 24%,
khu vực tư nhân tăng 19,2% và khu vực cá thể tăng 6,6%. Tỷ trọng của công nghiệp ngoài
quốc doanh trong giá trị sản xuất công nghiệp khu vực trong nước đã tăng từ 32,8% năm 1995

năm trước.(Năm 2001 tăng 14,6%; năm 2002 tăng 14,8%, năm 2003 tăng 16,5%, năm 2004
tăng 16,2% và 2005 là 17,2%). Như vậy trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, tốc độ tăng trưởng
của sản xuất công nghiệp đã đạt và vượt mục tiêu đề ra dù có nhiều khó khăn về thị trường và
giá cả nhiên liệu nhập khẩu biến động bất lợi, nhất là tăng giá phôi tháp, xăng dầu, bông, hoá
chất… Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng cao đã được ở tất cả các thành phần, khu vực kinh tế.
Bình quân 5 năm gần đây, khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12,1%/năm; khu vực công
nghiệp ngoài quốc doanh tăng 18,9% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng
15,5%.
9
Đồ thị 1 :Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp từ 1994-2005 theo giá cố định
Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp
0.00%
2.00%
4.00%
6.00%
8.00%
10.00%
12.00%
14.00%
16.00%
18.00%
20.00%
1994 1996 1998 2000 2002 2004
Năm
T

c
độ
t
ă

này được tăng dần trong các năm 1987,1988 nhưng đến năm1989 cùng với sự giảm sụt về giá
trị sản lượng công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong các chỉ tiêu kinh tế đều giảm xuống còn
mức gần bằng năm 1986.
Do tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu sản xuất công nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực,
chất lượng sản phẩm có nhiều tiến bộ nên vai trò của công nghiệp trong dịch chuyển cơ cấu
kinh tế quốc dân trong 4 năm đầu thế kỷ XXI đã thể hiện khá rõ nét. Tỷ trọng công nghiệp và
xây dựng trong GDP tăng từ 36,73% năm 2000 lên 38,13% năm 2001; 38,49% năm 2002;
39,95% năm 2003; 40,09% năm 2004 và 41,02% năm 2005.
Nhìn chung, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển đầu tư vào công nghiệp thường cao hơn tỷ trọng
công nghiệp trong GDP. Điều này cũng dễ hiểu vì công nghiệp luôn đòi hỏi phải đầu tư lớn về
cơ sở hạ tầng: nhà xưởng, máy móc, thiết bị ... Nếu tỷ trọng trung bình của công nghiệp trong
GDP giai đoạn 1990-1995 là 21,36%; 1996-2000 là 27,17% thì vốn đầu tư phát triển cho công
nghiệp chiếm 42,92% trong nửa đầu thập niên 90 và giảm xuống 32,72% trong nửa cuối.
So với công nghiệp khai thác, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt thì tỷ
trọng của công nghiệp chế biến trong GDP, vốn đầu tư phát triển đều cao hơn cả. Như năm
2000 GDP ngành công nghiệp chế biến chiếm 18,6% GDP, đến năm 2003 chiếm tới 20,45%
GDP của toàn bộ nền kinh tế.
11
Năm 1995, vốn đầu tư phát triển dành cho công nghiệp 31,2% thì có 17% là cho công
nghiệp chế biến, 9,2% công nghiệp điện, nước, khí đốt và chie có 5% cho công nghiệp khai
thác. Đến năm 2000, với tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp là 33,8% vốn đầu tư phát triển thì tỷ lệ
đầu tư cho công nghiệp chế biến đạt 20,1%, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, khí
đốt là 11,7%, công nghiệp khai thác mỏ chỉ chiếm 2,6%. Đây cũng là xu hướng chung về tăng
vốn đầu tư cho công nghiệp chế biến và giảm dần cho công nghiệp khai thác mỏ giai đoạn
2000-2003. Vẫn biết rằng các ngành như điện, khai khoáng là những ngành đóng vai trò quan
trọng trong quá trình tiến hành CNH, HĐH nên cần tập trung đầu tư nhưng bản thân các ngành
phải cố gắng nhiều hơn nữa để nâng cao hiệu suất sử dụng vốn và chính phủ cần có những biện
pháp để sớm khắc phục tình trạng sử dụng vốn bừa bãi thì mới có thể đẩy nhanh quá trình CNH
đất nước.
3.3. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành Công nghiệp

34.68%
35.30% 35.78%
37.20%
21.94%
23.60%
25.66%
28.50%
43.38%
41.10%
38.56%
34.30%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
1999 2001 2003 2005
Năm
Doanh nghiệp
nhà nước
Ngoài quốc
doanh
Khu vực có
vốn đầu tư

bộ nền công nghiệp
13.00%
14.86%
13.20%
13.55%
80.53%
79.39%
81.07%
81.34%
6.47% 5.75% 5.73%
5.11%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
1997 1999 2001 2003
Điện, nước khí đốt
Chế biến
Khai thác
Bên cạnh đó xu hướng chuyển đổi cơ cấu theo vùng cũng là nét mới đáng quan tâm. Tỷ
trọng giá trị sản xuất công nghiệp vùng Đông Nam Bộ vẫn chiếm trên 50% của cả nước. Đây là
vùng có nhiều khu công nghiệp tập trung, thu hút nhiều dự án FDI, có thị trường xuất khẩu
thuận lợi, có nhiều sản phẩm chất lượng cao. Vùng đồng bằng sông Hồng tuy chiếm tỷ trọng bé

10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
1986 1989 1992 1995 1998 2001 2004
năm
t

đ

ng
vốn đầu tư
Là một nước đi sau, xuất phát điểm thấp, lạc hậu so với Thế giới nên chuyển giao công
nghệ đã trở thành hoạt động quan trọng trong sản xuất công nghiệp Việt Nam. Thông qua các
dự án đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đầu tư từ nhiều nguồn trong và ngoài nước, nhiều
16
công nghệ mới được chuyển giao từ các nước phát triển và được áp dụng vào sản xuất công
nghiệp. Công nghệ và các trang thiết bị tiên tiến thường được đầu tư ở một số lĩnh vực như dầu
khí, điện lực, sản xuất đồ uống, lắp ráp ô tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm…
Trong nền kinh tế khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn có trình độ công nghệ,
trang thiết bị hiện đại nhất cũng như khả năng ứng dụng, tiếp cận công nghệ mới tốt nhất. Có
một đặc điểm chung là công nghệ sản xuất trong doanh nghiệp quốc doanh cao hơn doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn doanh nghiệp trong
nước, doanh nghiệp trung ương cao hơn doanh nghiệp địa phương. Công nghiệp tiên tiến chủ
yếu tập trung ở các liên doanh, doanh nghiệp có 100% có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh
nghiệp trng khu công nghiệp, khu chế xuất. Theo đánh giá trình độ tự động hoá trong các
doanh nghiệp công nghiệp thì các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước đạt 3% thiết bị tự động

ngành và cơ quan khoa học nghiên cứu công nghệ chưa chặt chẽ gây nên tình trạng các doanh
nghiệp công nghiệp, các ngành có nhu cầu đổi mới công nghệ rất lớn, nhưng lại lúng túng khi
quýêt định lựa chọn lĩnh vực đâud tư, loại trình độ công nghệ và thiết bị kỹ thuật, đối tác, giá
cả và hợp đồng.
3.5. Lao động công nghiệp
Trong bất kỳ lĩnh vực nào nhân tố con người luôn là nhân tố đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Trong sản xuất nhân tố con người được đề cập đến qua cụm danh từ lao động công
nghiệp. Thực trạng về lao động công nghiệp Việt Nam có thể điểm qua vài nét chính như sau:
Xét về cơ cấu lao động trong nội bộ ngành công nghiệp, theo điều tra toàn bộ nền công
nghiệp năm 1998, lao động ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ cao nhất 63,02%, tiếp đến là lao động
công nghiệp quốc doanh chiếm tỷ lệ 27,91%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 9,07%.
Đến năm 2004 thì lao động công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 62,23%,
tiếp đến là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 19,7%, lao đông công nghiệp quốc doanh
chiếm tỷ lệ 18,07%. Vậy đã có sự dịch chuyển lao động từ khu vực quốc doanh sang khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài và xu hướng này ngày càng tăng trong những năm sau khi nước ta
tham gia vào WTO. Các địa phương thu hút nhiều lao động nhất vẫn là những trung tâm công
nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm như Đồng Bằng Sông Hồng với tỷ lệ 28% trong đó Hà Nội
chiếm 6,2%, Đồng Bằng Nam Bộ 27,6% trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm 16,5%. Cơ
cấu lao động công nghiệp chia cho các ngành công nghiệp chế biến 89,3%, công nghiệp khai
thác 8,1% và sản xuất, phân phối địên, khí đốt, nước 2,6%. Nhìn chung, lao động trong ngành
18
công nghiệp chế biến vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với công nghiệp khai thác và công
nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước.
Về trình độ học vấn lao động trong khu vực kinh tế nhà nước hoặc có vốn đầu tư hay cổ
phần của nhà nước cao hơn so với khu vực khác. Doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các hợp tác
xã lao động có bằng cấp không nhiều. Tính trong các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước số
lao động ở trên trình độ trên đại học chiếm 0,04%, đại học và cao đẳng chiếm 5,56%, trung cấp
6,07%, công nhân kỹ thuật 23,73%. Trong khi đó ở khu vực tư nhân tỷ lệ này là 0,01%;
0,02%;5,93%;31,47%. Các ngành xuất bản, in và sao bản ghi các loại, lao động có bằng cấp
khá cao, trình độ cao đẳng trở lên chiếm 5,1% , trung cấp 8%, công nhân kỹ thuật 4,04% hay

như sau:
ICOR = IV/IG
Trong đó: IV: tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trên GDP
IG: tốc độ tăng trưởng GDP
Bảng 1: Hệ số ICOR của ngành công nghiệp từ năm 1996-2005.
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
ICOR 1.36 1.23 1.456 1.612 0.848 0.911 0.8 0.98 1.21 1.19
Sự tăng trưởng của nhiều ngành công nghiệp như: chế biến thực phẩm và đồ uống, dệt
may, sản phẩm thép và kim loại mầu, máy móc thiết bị, ô tô xe máy… chủ yếu phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu, bán thành phẩm nhập khẩu, có giá thành cao và luôn có xu hướng tăng.
Nguồn nguyên liệu sản suất trong nước chưa dáp ứng được nhu cầu của nhiều ngành công
nghiệp chế biến như: nguyên phụ liệu giày dấn xuất trong nước chỉ chiếm 25%-30% nhu cầu;
khoảng 80% thiết bị máy móc vật tư để đóng tàu phải nhập khẩu; phần lớn các nguyên liệu
chính phục vụ sản xuất các sản phẩm kĩ thuật điện phải nhập khẩu …Những việc này làm hạn
chế việc tăng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp dẫn đến hiệu quả sản xuất
công nghiệp giảm.

*Chi phí hạ tầng cao và hợp tác kinh doanh chưa có hiệu quả
Ở Việt Nam , các dịch vụ phục vụ cho việc sản xuất công nghiệp như: điện nước, viễn
thông chi phí vận chuyển … còn chưa phát triển còn thiếu thốn nhiều nên chi phí trung gian
20
thường được đánh giá là cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực. Điều đó thể hiện
ở khoảng cách giữa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm vẫn còn lớn. Ví dụ
năm 2004, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất là 16% trong khi đó tốc độ tăng trưởng của giá trị
tăng thêm là 10,2% và độ chênh lệch giữa 2 tốc độ này là 5,8%. Đây cũng chính là một nguyên
nhân làm việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam còn chưa cao và ảnh hưởng nhiều tới
quá trình sản xuất công nghiệp trong nước.
Mức độ hợp tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các
ngành có nhiều hạn chế. Chưa tạo được mối liên kết phát triển các ngành theo hướng phù hợp
với cơ chế thị trường, tạo nội lực cho ngành công nghiệp vận động và phát triển. thiếu các

lượng của mô hình để dự báo giá trị của ngành công nghiệp trong một vài năm tới, cuối cùng là
một số kiến nghị và giải pháp cho ngành công nghiệp Việt Nam.
1. Lựa chọn mô hình
Đầu tiên khi lựa chọn mô hình là phải xác định các biến số đâu là biến phụ thuộc đâu là
biến độc lập. Vì vậy em xin giới thiệu các biến và cách thức được sử dụng trong mô hình.
1.1. Biến phụ thuộc ( biến được giải thích) trong mô hình
Là tổng sản phẩm của ngành công nghiệp hàng năm .
Kí hiệu : GOCN
1.2. Biến độc lập ( biến giải thích) trong mô hình
* Vốn đầu tư sản xuất cho ngành công nghiệp (ICN)
Là lượng vốn đầu tư vào sản xuất công nghiệp bao gồm cả vốn của khu vực kinh tế quốc
doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư là yếu tố
hết sức quan trọng đối với tăng trưởng của công nghiệp, để biết được vốn đầu tư có được sử
dụng hiệu quả hay không ta xem xét tới việc khi đầu tư thêm một đồng vốn thì yạo ra thêm
được bao nhiêu giá trị sản phẩm.
* Số lao động trong ngành công nghiệp (LCN)
Là tổng số lao động cả lao động trí óc và lao động tay chân có tham gia sản xuất trong
ngành công nghiệp. Bất kỳ quốc gia nào đều cần đến lao động, lao động là nguồn lực quý nhất,
nguồn lực quyết định trong số các nguồn lực tác động tới phát triển. Do nước ta vẫn là nước
23
công nghiệp còn lạc hậu, nhiều ngành công nghiệp còn cần sử dụng 100% là lao động thủ công
thì lao động lại càng là nhân tố quyết định quan trọng đến tăng trưởng công nghiệp.
* Giá trị xuất khẩu của các sản phẩm công nghiệp (ECN)
Là toàn bộ giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp thô hay tinh chế hàng năm. Giá trị xuất
khẩu hàng năm của ngành công nghiệp có đóng góp lớn vào tổng sản phẩm quốc dân từ đó thúc
đẩy tới tăng trưởng của ngành công nghiệp riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Đồng thời chính sách mở cửa kinh tế, hội nhập quốc tế và việc cải cách chính sách ngoại
thương đã làm tăng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hang công nghiệp trong tổng giá trị sản xuất
công nghiệp.
* Biến giả ( D

1
là biến giả
α
i
( i=1,4) là hệ số của các biến tương ứng
α
0
là hệ số chặn.
24
2.1. Ước lượng mô hình
Bằng việc sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để ước lượng mô hình trên
và ước lượng là chính xác nhất thì kết quả ước lượng mô hình phải thoã mãn các giả thiết của
OLS.
Giả thiết: 1. Biến giải thích là phi ngẫu nhiên, tức là các giá trị của chúng là các số đã
được xác định
2. Kỳ vọng của yếu tố ngẫu nhiên U bằng không.
E(U
i
) = E(U/X
i
) = 0 ∀ i
3. Phương sai của yếu tố ngẫu nhiên U bằng nhau.
Var(U/X
i
) = Var(U/X
j
) = σ
2
∀ i ≠ j
4. Không có sự tương quan giữa các U

Trích đoạn Giải pháp về vốn cũng như công nghệ Đẩy mạnh sản xuất về mặt số lượng cũng như chất lượng của những sản phẩm trong nước để tăng tính cạnh tranh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status