ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
***
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG PHÂN TÍCH MỘT SỐ CÁC
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CẦU LAO ĐỘNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Hà Nội - 2009
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG, CUNG -CẦU LAO
ĐỘNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CẦU LAO ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về lao động, việc làm, cung - cầu lao động
Lao động có thể hiểu là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt
động đó cong người tác động vào tự nhiên cải biến chúng thành những vật có ích
nhằm đáp ứng một hay một số nhu cầu nào đó của con người. Hoạt động lao động có
ba đặc trưng cơ bản:
về mặt tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức)
của con người. Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động của con
người và hoạt động có tính chất bản năng của con vật. Con vật duy trì sự tồn tại của
mình bằng những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của
bản thân để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của bản thân
mình và cho cả xã hội.
về mục đích, hoạt động lao động phải tạo ra sản phẩm nào đó nhằm
thõa mãn nhu cầu nào đó của con người. Vấn đề này nhằm phân biệt với những hoạt
động có mục đích không nhằm thõa mãn nhu cầu chính đáng của con người, không
phục vụ cho người, cho sự tiến bộ của xã hội.
làm việc, làm việc cho ai và làm việc bao nhiêu thời gian. Đó chính là biểu hiện của
cung lao động của mỗi cá nhân. Tại mỗi thời điểm, cung lao động của toàn bộ xã hội
được hiểu là tổng cung lao động của mỗi cá nhân.
Như vậy cung lao động phản ánh khả năng tham gia trên thị trường lao động
của người lao động trong những điều kiện nhất định. Cung lao động của xã hội là khả
năng cung cấp sức lao động của nguồn nhân lực xã hội. Nó được thể hiện thông qua
số lượng hoặc chất lượng lao động hoặc ở thời gian của những người tham gia và
mong muốn tham gia lao động trên thị trường
!
Có thể hiểu cầu lao động là lực lượng lao động mà người sử dụng lao động
chấp nhận thuê ở các điều kiện nhất định. Tổng cầu lao động của một nền kinh tế
(hoặc của một tổ chức, doanh nghiệp, một ngành…) là toàn bộ nhu cầu về lao động
của nền kinh tế (hoặc một tổ chức, doanh nghiệp, ngành…) ở một thời kỳ nhất định
trong những thời kỳ nhất định.
Các doanh nghiệp thuê mướn lao động tùy thuộc vào người tiêu dùng mua
nhiều hay ít hàng hóa – dịch vụ mà họ sản xuất ra. Nhu cầu thuê mướn lao động cũng
giống như nhu cầu về các yếu tố đầu vào khác của quá trình sản xuất, là “cầu phát
sinh”. Vì vậy, người sử dụng lao động thuê nhiều hay ít tùy thuộc vào cầu sản phẩm,
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
3
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
điều kiện, hoàn cảnh của từng tổ chức, doanh nghiệp hay nền kinh tế.
"#$%&'"#$%
Có thể hiểu thị trường lao động là nơi người lao động tìm việc làm và các
doanh nghiệp tìm thuê lao động (nơi diễn tra quá trình mua bán sức lao động). Quá
trình trao đổi giữa hai bên làm cho mức tiền công và mức việc làm có xu hướng dịch
chuyển tới điểm mà tại đó thời gian người lao động muốn làm việc bằng với thời gian
mà doanh nghiệp muốn thuê.
Hình 1: Đồ thị mô tả cầu và cung lao động trong thị trường lao động
Điểm E được gọi là điểm cân bằng. Thị trường lao động hướng tới điểm này
Một doanh nghiệp muốn tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên bất kỳ
lĩnh vực nào đi chăng nữa đều phải có vốn. Vốn dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, mua
thiết bị máy móc. Vốn dùng để mua nguyên nhiên vật liệu, thuê lao động… Khi doanh
nghiệp muốn mở rộng sản xuất (theo chiều rộng hay chiều sâu) đều phải cần có vốn.
Trong phần này chúng ta xem xét tới mức độ ảnh hưởng của vốn đầu tư tới nhu
cầu lao động trong doanh nghiệp như thế nào. ()!$,-. là toàn bộ các
khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất được
chia thành vốn đầu tư vào tài sản cố định (vốn cố định) và vốn đầu tư vào tài sản lưu
động(vốn lưu động). Đến lượt mình, vốn đẩu tư vào tài sản cố định lại chia thành vốn
đầu tư cơ bản và vốn đầu tư sửa chữa lớn. Vốn đầu tư cơ bản làm tăng khối lượng
thực thể của tài sản cố định, bảo đảm bù đắp số tài sản cố định bị hao mòn và tăng
thêm phần xây lắp dở dang. Còn vốn sửa chữa lớn không làm tăng khối lượng thực thể
của tài sản, do đó nó không có trong thành phần của vốn đầu tư cơ bản. Nhưng vai trò
của vốn sửa chữa lớn tài sản cố định cũng giống như vai trò kinh tế của vốn đầu tư cơ
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
5
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
bản và nhằm đảm bảo thay thế tài sản bị hư hỏng.
Như vậy, /!$,-. là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi
năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói cách khác, đó là quá trình
thực hiện tái sản xuất các loại tài sản sản xuất. Hoạt động đầu tư là hết sức cần thiết,
xuất phát từ 3 lý do:
Thứ nhất là, do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gia nhiều lần
vào quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từng phần vào trong giá trị
sản phẩm. Trái lại đối với tài sản lưu động lại tham gia một lần vào quá trình sản xuất
và chuyển toàn bộ giá trị vào trong giá trị sản phẩm. Vì vậy, phải tiến hành đầu tư để
bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao mòn và duy trì dự trữ ngyên vật liệu cho quá trình
sản xuất tiếp theo. Nói cách khác, đầu tư nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn tài sản
sản xuất. - Thứ hai là, nhu cầu quy mô sản xuất xã hội ngày cành mở rộng đòi hỏi phải
tiến hành đầu tư nhằm tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm dự trữ tài sản lưu
dụ như thế này: một doanh nghiệp đầu tư thêm vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu
tư mua thêm máy móc để sản xuất ra nhiều hàng hóa hơn, như vậy rõ ràng doanh
nghiệp sẽ phải thuê thêm lao động để sản xuất, làm cho cầu lao động trong doanh
nghiệp tăng lên. Tuy nhiên cũng có trường hợp doanh nghiệp đầu tư vào trang thiết bị
mới, cần ít nhân công hơn, như vậy cầu lao động của doanh nghiệp giảm xuống. Từ
đó có thể thấy rằng, việc tăng vốn có thể làm cho cầu lao động trong doanh nghiệp
tăng hoặc giảm, chúng ta theo dõi và kết hợp với một số các chỉ tiêu khác, từ đó đưa
ra nhận định của mình về xu hướng cầu lao động trong một giai đoạn nào đó.
32)*
4 là luồng tiền được của hãng sau khi bán các sản phẩm và dịch vụ
của mình. Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với
sản lượng.
Theo thuật ngữ kế toán, Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh
nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh
thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Phần doanh thu có thêm nhờ sản xuất thêm được một đơn vị sản phẩm gọi là
*5. Nó có thể diễn đạt bằng tỷ lệ giữa mức thay đổi trong doanh thu với
mức thay đổi trong sản lượng. Công thức tính doanh thu biên, vì thế có thể viết như
sau:
(1)
trong đó MR là doanh thu biên, TR là doanh thu, còn Q là sản lượng. Do
TR = P.Q (2)
trong đó P là giá bán sản phẩm. Từ (1) và (2) ta có:
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá sản phẩm do thị trường
quy định hoàn toàn, nên không phụ thuộc vào thay đổi sản lượng của hãng. Vì thế,
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
7
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
dP/dQ bằng 0. Thành ra doanh thu biên sẽ bằng giá bán sản phẩm. Mình lấy ví dụ
trong trường hợp về lúa gạo, giá lúa gạo do thị trường qui định, khi người nông dân
(xét trong dài hạn), lợi nhuận kinh tế thường bằng 0. Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán có
thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo.
Mục tiêu của doanh nghiệp là có được doanh thu cao nhất với chi phí thấp nhất
(tối đa hóa lợi nhuận). Khi mà doanh nghiệp có mức doanh thu cao, mà mức chi phí
thấp (lợi nhuận cao), đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất là có lợi,
do vậy doanh nghiệp sẽ có xu hướng đầu tư thêm vào để tăng quy mô, từ đó tăng
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
8
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
doanh thu lên; hoặc tăng chất lượng sản xuất, từ đó giảm chi phí xuống. Những việc
tăng giảm đó kéo theo sự tăng hay giảm nhu cầu về lao động của doanh nghiệp. Thông
thường khi thấy có lợi, doanh nghiệp sẽ mở rộng sản xuất thuê thêm lao động, từ đó
làm cầu lao động trong doanh nghiệp tăng lên. Còn ngược lại, nếu bị thua lỗ, doanh
nghiệp thu hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm lao động, làm cho cầu lao động của doanh
nghiệp giảm xuống.
932),-*+
Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Khi
phân loại tài sản theo chu kỳ sản xuất, ta có tài sản cố định và tài sản lưu động. Còn
khi phân loại tài sản theo đặc tính cấu tạo của vật chất, ta có tài sản hữu hình và tài sản
vô hình.
Tài sản cố định là tư liệu sản xuất chuyên dùng trong sản xuất kinh doanh dùng
được vào nhiều chu kì sản xuất.
Có ba loại tài sản cố định:
Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có
kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để
thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố
định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái
vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị
Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã
được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều
tưong lai.
Là những quyền tài sản (nghĩa hẹp) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định và
thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao. Tuy nhiên một số
quyền tài sản có thể chuyển giao như thương hiệu hàng hóa hoặc ủy quyền cho chủ
thể khác. Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và
không thể dùng đại lương để tính. Nhưng trong quá trình chuyển giao có thẻ quy ra
tiền (cái này là quan trọng nhất). Tùy từng thời điểm nhất định mà quyền tài sản có giá
như thế nào. Việc gây thiệt hại về tài sản vô hình của chủ thể sẽ phải bồi thường
nhưng rất khó để xác định giá trị của nó. Ngoài những quy định trong luật còn việc
xác định giá trị của tài sản vô hình không thể xác định được
:32)/;*+
Sau thời kỳ đổi mới, đất nước ta bước vào thời kỳ nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, là một nền kinh tế nhiều thành phần. Sự đa dạng của các
thành phần kinh tế đó là do sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó tạo nên mối sự
đa dạng của các loại hình sở hữu, nguyên nhân sâu xa của sự đa dạng loại hình doanh
nghiệp. Bởi lẽ, mỗi loại hình sở hữu sẽ quyết định loại hình doanh nghiệp ra sao.
Chúng ta có các loại hình sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập
thể, sở hữu cá nhân và sở hữu tư bản tư nhân. Tùy theo việc sở hữu về vốn mà chúng
ta có các loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước; hợp tác xã; doanh nghiệp
tư nhân; doanh nghiệp các thể hộ gia đình; doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
10
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
vốn đầu tư của nước ngoài; doanh nghiệp một trăm phần trăm vốn nước ngoài…
Vậy loai hình doanh nghiệp sẽ tác động tới cầu lao động trong các doanh
nghiệp như thế nào. Chúng ta có thể phân tích như sau: Loại hình doanh nghiệp khác
nhau sẽ quyết định khác nhau tới cầu lao động trong doanh nghiệp. Ví dụ như, loại
hình doanh nghiệp nhà nước, sẽ cần nhiều lao động hơn loại hình doanh nghiệp cá thể
hộ gia đình; hay loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài sẽ sử dụng lao
động nhiều hơn hay thấp hơn loại hình doanh nghiệp khác. Phân tích như thế sẽ cung
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
tranh, với việc càng ngày càng muốn nâng cao vị trí của mình trên thương trường thì
doanh nghiệp phải tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, đồng thời mở rộng sản
xuất nhằm chiếm lĩnh thị trương; do đó cùng với tuổi của doanh nghiệp càng lớn thì
cầu lao động của doanh nghiệp cũng tăng lên theo. Tuy nhiên cũng có trường hợp tuổi
doanh nghiệp ngược chiều với cầu lao động trong doanh nghiệp. Nguyên nhân có thể
giải thích như sau: một là doanh nghiệp đó đang trong giai doạn cải tổ về mặt kỹ
thuật, tăng cường hệ thống dây chuyền tự động, hoặc có thể nền kinh tế đang trong
giai đoạn suy thoái, thì mặc dù tuổi doanh nghiệp tăng nhưng cầu lao động lại giảm.
Tuy nhiên, thông thường trong ngắn hạn, tuổi doanh nghiệp sẽ thuận chiều với cầu lao
động trong doanh nghiệp; có nghĩa là tuổi doanh nghiệp lớn thì cầu lao động trong
doanh nghiệp cũng cao.
@32)A
Phân vùng lãnh thổ về mặt tự nhiên thông thường dựa vào điều kiện tự nhiên là
chính như đặc điểm về địa hình (độ cao), đặc điểm khí hậu…; có thể phân ra: miền
núi, trung du, đồng bằng, ven biển và hải đảo.
Trong nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, phân vùng phát triển có thể trùng với
phân vùng lãnh thổ về mặt tự nhiên. Phân vùng để quản lý hành chính, thực hiện các
chế độ, chính sách xã hội cũng có thể trùng với phân vùng về mặt tự nhiên.
Tuy nhiên, việc phân vùng nêu trên chỉ mang tính tương đối để tập trung chỉ
đạo phát triển. Và việc phân vùng về mặt kinh tế không thay thế phân vùng về mặt tự
nhiên, phân vùng hành chính. Trong thực tiễn, cần nghiên cứu làm rõ những đặc điểm
của từng loại phân vùng để có thể sử dụng một cách tổng hợp, tạo thuận lợi trong quá
trình chỉ đạo, lãnh đạo, áp dụng vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các ngành, địa
phương.
Vùng kinh tế hình thành trên cơ sở tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Nói
một cách khác, để phân chia các vùng kinh tế cần có các căn cứ, đó là các yếu tố tạo
vùng kinh tế:
- Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ: Phân công lao động theo lãnh thổ
vừa là cơ sở, vừa là động lực của sự hình thành vùng kinh tế. Phân công lao động theo
THỰC TRẠNG CẦU LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM
2.1. Khái quát thực trạng nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 60 trong các nền kinh tế thành viên của Quỹ
Tiền tệ Quốc tế xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2009 và đứng
thứ 133 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Đây là nền
kinh tế hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đảng
Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng ở Việt Nam một hệ thống kinh tế thị trường
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
13
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc,
Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân
hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương,
ASEAN. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước
ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc.
Các đặc trưng của kinh tế Việt Nam hiện nay:
* Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, vận hành theo cơ chế thị trường,
theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa và nhiều nước và khối kinh tế bao gồm cả một số
nền kinh tế thị trường tiên tiến cũng công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.
Việt Nam có nhiều thành phần kinh tế. Theo cách xác định hiện nay của chính phủ,
Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư
nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê, năm 2007, khu vực kinh tế
nhà nước là khu vực lớn nhất, chiếm 36,43 % GDP thực tế của Việt Nam, tiếp theo lần
lượt là kinh tế cá thể (29,61 %), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (17,66 %), kinh tế
tư nhân (10,11 %).
* Cơ cấu kinh tế Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3
ngành lớn) kinh tế, đó là: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp (bao gồm
công nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất
cụ các loại, 63,7% là nguyên, vật liệu, chỉ có 6,1% là hàng tiêu dùng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp ngày càng tích cực vào tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam. Tính theo giá trị lũy kế từ năm 1988 đến hết năm 2007, công nghiệp
và xây dựng là lĩnh vực thu hút được nhiều FDI nhất – 67% số dự án và 60% tổng giá
trị FDI đăng ký. Sau đó đến khu vực dịch vụ - 22,3% về số dự án và 34,3% về giá trị.
Trong 82 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các nước đầu tư nhiều nhất tính
theo giá trị FDI đăng ký lần lượt là Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Nhật Bản.
Riêng năm 2008, số FDI mới đăng ký (nghĩa là không tính số xin phép tăng vốn phát
sinh trong năm) đạt 32,62 tỷ dollar. Việt Nam cũng đầu tư ra nước ngoài tới 37 quốc
gia và lãnh thổ. Tính đến hết năm 2007, có 265 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu
lực với tổng số vốn đăng ký khoảng 2 tỷ dollar và vốn thực hiện khoảng 800 triệu
dollar. Đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm phần lớn, tiếp theo là nông, lâm
nghiệp.
Bảng 2.1:Vốn đầu tư toàn xã hội vào các khu vực kinh tế từ 2000-2008
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
15
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
BCD?E)=5
Nhìn vào bảng trên, ta thấy từ năm 2000 tới năm 2007 tổng vốn đầu tư liên tục
tăng, vốn đầu tư vào các khu vực kinh tế đều tăng, tuy nhiên vốn đầu tư của năm 2008
vào khu vực nhà nước giảm, trong khi tổng vốn đầu tư và vốn đầu tư vào các khu vực
kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đều tăng tăng. Vốn đầu
tư vào khu vực kinh tế ngoài nhà nước và vốn đầu tư vào khu vực có vốn nước ngoài
tăng mạnh trong các năm 2007 và 2008. Năm 2006 vốn đầu tư khu vực ngoài nhà
nước là 154006 tỷ đồng, tới năm 2007 tăng lên thành 204705 tỷ đồng và năm 2008 là
244081 tỷ đồng; còn trong khu vực vó vốn đầu tư nước ngoài thì năm 2007 là 129399
tỷ đồng, tăng gần gấp đôi năm 2006 (65604 tỷ đồng), tới năm 2008 con số này là
192360 tỷ đồng. Điều đó cho thấy, chính sách của chính phủ tăng cường thu hút vốn
nước ngoài, đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế phi chính phủ tạo động lực phát
triển kinh tế. Bảng 2.2 và Hình 2.1 cho ta thấy rõ hơn điều này
vào tăng trưởng 2008
(Điểm phần trăm)
2006 2007 2008
Tổng số 8,23 8,48 6,23 6,23
Nông, lâm nghiệp và
thuỷ sản
3,69 3,40 3,79 0,68
Công nghiệp và xây
dựng
10,38 10,60 6,33 2,65
Dịch vụ 8,29 8,68 7,20 2,90
BCD?E)=5
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
làm cho tổng sản phẩm trong nước tới năm 2008 giảm xuống; trong đó tốc độ tăng của
công nghiệp và dịch vụ giảm, tốc độ tăng của nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng
nguyên nhân là do năm 2008 người nông dân được mùa làm cho sản lưởng của ngành
này tăng lên. Hình 2.2 cho ta thấy mức độ đóng góp của các ngành vào tốc độ tăng
trưởng tổng sản phẩm quốc dân; trong đó mức đóng góp cao nhất là của ngành dịch vụ
và thấp nhất là của ngành nông nghiệp.
Hình 2.2: Đóng góp của mỗi khu vực vào tăng trưởng kinh tế
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
18
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
BCD?GE)5
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến những xáo
động đầy kịch tính về thị trường, tỷ giá, đầu tư và thương mại. Biến đổi khí hậu ngày
càng làm cho thời tiết trở nên bất lợi hơn cho nông nghiệp, thiên tai xuất hiện với tần
số cao hơn, sức tàn phá mạnh hơn, mùa màng thất bát, chi phí cho canh tác nông
nghiệp tăng lên. Dịch bệnh (như cúm A/H1N1) cũng ảnh hưởng bất lợi đến tăng
trưởng kinh tế trên quy mô toàn cầu (du lịch và hành khách hàng không giảm sút).
làm trong nền kinh tế là khoảng 44,2 triệu người, điều đó cho thấy việc giải quyết việc
làm còn cao hơn nhiều so với số đó vì còn phải thay thế cho những người không còn
làm việc nữa. Kết quả trên đã làm cho tỷ lệ có việc làm ở khu vực thành thị tăng liên
tục. Bên cạnh đó, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn cũng tăng lên,
năm 2006 tỷ lệ này là 81,79% đã tăng lên tương đối so với tỷ lệ 74,16% năm 2000.
Tuy đây là những con số rất đáng khích lệ nhưng vẫn còn thấp so với một số quốc gia
khác trên thế giới và trong khu vực.
Tuy số lao động có việc làm liên tục tăng nhưng do tốc độ tăng thấp hơn tốc độ
gia tăng dân số nên tỷ lệ có việc làm trên dân số liên tục giảm trong vòng 10 năm trở
lại đây từ 72,2% vào năm 1997 xuống còn 68,1% vào năm 2007. Xu hướng giảm
tương đối liên tục chỉ trừ năm 2001 tăng làm gián đoạn xu hướng này. Tỷ lệ việc làm
trên dân số giảm ở cả nam giới và nữ giới, tuy nhiên tỷ lệ này ở nữ giới giảm mạnh
hơn, chênh lệch là 5% trong khi nam giới chỉ giảm 3%. tỷ lệ việc làm trên dân số ở
Việt Nam tương đối cao nếu so sánh với khu vực tuy nhiên tỷ lệ này không cao bằng
Đông Á
Hình 2.3 Tỷ lệ việc làm của ngành công nghiệp trong tổng số việc làm
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
20
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
BCDF80$HFMN
Hình 2.4 Tỷ lệ việc làm của ngành dịch vụ trong tổng số việc làm
BCDF80$HFMN
Nhìn trên hình vẽ ta thấy được tye lệ có việc làm trong cách ngành công nghiệp
và dịch vụ tăng thoe thời gian. Điều nầy chứng tở sự dịch chuyển cơ cấu lao động, mà
nguyên nhân xâu xa là sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngày càng tiến bộ.
Hình 2.5: Tỷ lệ việc làm chia theo khu vực thành thị, nông thôn 1996-2005
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
21
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
BCD1#/+OO<LKK:PF80FQM
trợ cho các doanh nghiệp vay vốn với lãi suất thấp ( thậm chí là 0%) nhằm khuyến
khích họ phát triển sản xuất, đồng thời hạ xuống mức tối thiểu số nhân công bị sa thải,
giúp ổn định đời sống người lao động.
Xét trong hàm sản xuất của một doanh nghiệp, hai yếu tố vốn và lao động luôn
đồng hành, tác động qua lại, hỗ trợ lãn nhau. Một doanh nghiệp có nguồn vốn càng
lớn, càng có nhu cầu thuê thêm nhiều lao động. Đến phần mình, lao động tăng giúp
mở rộng sản xuất, nâng cao sản lượng, làm cho nguồn vốn của doanh nghiệp ngày
một lớn hơn. Một ví dụ thực tế ở tập đoàn công nghệ cao hàng đầu Hoa kỳ Intel. Theo
thông cho biết, việc tăng vốn đầu tư từ 300 triệu USD lên 1 tỉ USD đồng nghĩa với
việc cũng tăng diện tích nhà máy từ 45.000m
2
lên 152.400m
2
với diện tích sàn
46.000m
2
, gấp ba lần diện tích cũ; tập đoàn này đã góp phần tăng số lao động từ 1.200
người lên 4.000 người. Trong đó sẽ tuyển 2.500 lao động đơn giản (tốt nghiệp phổ
thông và trường nghề) và 1.500 lao động cao cấp là các kỹ sư. Đánh giá về nguồn
nhân lực VN sau hơn tám tháng xúc tiến việc xây dựng nhà máy, ông Rick Howarth -
tổng giám đốc Công ty Intel Products VN - cho biết thời gian qua ông đã tiếp xúc với
giảng viên và SV của các trường ĐH VN và các đánh giá đều rất tốt. Hiện nay Intel
Products VN có 40 nhân viên thì có đến 22 người VN và ông hài lòng với công việc
họ đang làm. Qua ví dụ trên có thể thấy rằng, nguồn vốn có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc nâng cao tỷ lệ có việc làm trong toàn nền kinh tế, góp phần thúc đẩy nhu
cầu lao động không ngừng tăng lên; bởi vậy các doanh nghiệp cần chú ý tới vấn đề sử
dụng hiệu quả nguồn vốn, góp phần gia tăng lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp.
đồng thời ổn định cuộc sống, tạo thêm việc làm cho người lao động.
Bảng 2.3: Lượng lao động và vốn của doanh nghiệp qua các năm
Đơn vị: Lao động(nghìn người) Vốn Đầu Tư (triệu đồng)
triệu người vào làm việc. Lao động làm việc trong các khu vực cũng có sự chênh lệch
lớn: Chỉ có 4 triệu người kiếm được việc làm tại khu vực nhà nước; khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài là 1,67 triệu người, trong khi ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước thì
có tới 40 triệu người. Chiếm tỷ lệ lao động lớn nhất nhưng khối kinh tế ngoài nhà
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
24
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
nước chỉ đóng góp 47% GDP và 35% giá trị sản lượng công nghiệp. Trong khi đó,
khối khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với số lượng lao động ít ỏi lại đóng góp gần
19% GDP và gần 45% giá trị sản lượng công nghiệp.
Qua những phân tích như trên có thể thấy rằng, chúng ta cần chú trọng đầu tư
phát triển từng loại hình doanh nghiệp sao cho cân đối, phù hợp với chính sách kinh tế
xã hội của đất nước, góp phần giải quyết tốt việc tạo thêm việc làm cho người lao
động trong thời gian tới.
467
Doanh thu và lợi nhuận là hai nhân tố vô cùng quan trọng quyết định doanh
nghiệp có đầu tư phát triển sản xuất và tuyển thêm lao động cho kì tiếp theo hay
không?. Nếu doanh nghiệp làm ăn tốt thu về lợi nhuận cao thì đó sẽ là động lực thúc
đẩy họ tiếp tục sản xuất kinh doanh nhiều hơn kì trước, từ đó nhu cầu thuê thêm lao
động cũng tăng theo. Co thể nói, lợi nhuận tỷ lệ thuận với nhu cầu lao động.
Thực tế hiện nay cho thấy, rất nhiều các công ty do tác động của khủng hoảng
kinh tế làm cho lợi nhuận giảm mạnh. Theo đó, Công ty cổ phần đầu tư và thương mại
TNG (TNG) vừa công bố nghị quyết HĐQT điều chỉnh kế hoạch doanh thu năm 2008
từ 733,602 tỉ đồng xuống còn 717,811 tỉ đồng (giảm 2,14% so với kế hoạch đầu năm);
lợi nhuận từ 27 tỉ đồng xuống 22,736 tỉ đồng (giảm 15,8% so với kế hoạch). Trong
tháng 9, các nhà đầu tư cũng chứng kiến việc giảm chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty cổ
phần nhựa Tân Đại Hưng (TPC), Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang (DQC),
Công ty cổ phần XNK Sa Giang (SGC) TPC giảm chỉ tiêu lợi nhuận năm 2008 còn
15,1 tỉ đồng (giảm gần 28,44% so với kế hoạch đầu năm); doanh thu vẫn giữ nguyên
kế hoạch 243 tỉ đồng; cổ đông TPC cũng đồng ý thanh lý các hạng mục đầu tư vào các