ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-----***-----
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG PHÂN TÍCH MỘT SỐ CÁC
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CẦU LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
Hà Nội - 2009
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG, CUNG -CẦU LAO
ĐỘNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CẦU LAO ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về lao động, việc làm, cung - cầu lao động
1.1.1. Khái niệm về lao động
Lao động có thể hiểu là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt
động đó cong người tác động vào tự nhiên cải biến chúng thành những vật có ích nhằm
đáp ứng một hay một số nhu cầu nào đó của con người. Hoạt động lao động có ba đặc
trưng cơ bản:
Thứ nhất, về mặt tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của
con người. Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động của con người và
hoạt động có tính chất bản năng của con vật. Con vật duy trì sự tồn tại của mình bằng
những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của bản thân để
tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của bản thân mình và cho cả
xã hội.
Thứ hai, về mục đích, hoạt động lao động phải tạo ra sản phẩm nào đó nhằm
thõa mãn nhu cầu nào đó của con người. Vấn đề này nhằm phân biệt với những hoạt
động có mục đích không nhằm thõa mãn nhu cầu chính đáng của con người, không
phục vụ cho người, cho sự tiến bộ của xã hội.
làm việc, làm việc cho ai và làm việc bao nhiêu thời gian. Đó chính là biểu hiện của
cung lao động của mỗi cá nhân. Tại mỗi thời điểm, cung lao động của toàn bộ xã hội
được hiểu là tổng cung lao động của mỗi cá nhân.
Như vậy cung lao động phản ánh khả năng tham gia trên thị trường lao động của
người lao động trong những điều kiện nhất định. Cung lao động của xã hội là khả năng
cung cấp sức lao động của nguồn nhân lực xã hội. Nó được thể hiện thông qua số lượng
hoặc chất lượng lao động hoặc ở thời gian của những người tham gia và mong muốn
tham gia lao động trên thị trường
1.1.3.2. Khái niệm về cầu lao động
Có thể hiểu cầu lao động là lực lượng lao động mà người sử dụng lao động chấp
nhận thuê ở các điều kiện nhất định. Tổng cầu lao động của một nền kinh tế (hoặc của
một tổ chức, doanh nghiệp, một ngành…) là toàn bộ nhu cầu về lao động của nền kinh
tế (hoặc một tổ chức, doanh nghiệp, ngành…) ở một thời kỳ nhất định trong những thời
kỳ nhất định.
Các doanh nghiệp thuê mướn lao động tùy thuộc vào người tiêu dùng mua nhiều
hay ít hàng hóa – dịch vụ mà họ sản xuất ra. Nhu cầu thuê mướn lao động cũng giống
như nhu cầu về các yếu tố đầu vào khác của quá trình sản xuất, là “cầu phát sinh”. Vì
vậy, người sử dụng lao động thuê nhiều hay ít tùy thuộc vào cầu sản phẩm, điều kiện,
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
3
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
hoàn cảnh của từng tổ chức, doanh nghiệp hay nền kinh tế.
1.1.3.3.Thị trường lao động và cân bằng thị trường lao động
Có thể hiểu thị trường lao động là nơi người lao động tìm việc làm và các doanh
nghiệp tìm thuê lao động (nơi diễn tra quá trình mua bán sức lao động). Quá trình trao
đổi giữa hai bên làm cho mức tiền công và mức việc làm có xu hướng dịch chuyển tới
điểm mà tại đó thời gian người lao động muốn làm việc bằng với thời gian mà doanh
nghiệp muốn thuê.
Hình 1: Đồ thị mô tả cầu và cung lao động trong thi
̣
Vốn được hiểu là của cải do con người tạo ra tích lũy lại, dưới dạng vật thể hoặc
tài chính. Công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta hiện nay có nhiều loại vốn, trong
đó vốn trong nước chiếm vị trí quyết định, vốn nước ngoài đóng vai trò chủ đạo.Vốn
trong nước bao gồm các tài nguyên thiên nhiên, của cải tích lũy trong nước qua nhiều
thế hệ… Vốn nước ngoài là các nguồn đầu tư, viện trợ, cho vay …
Một doanh nghiệp muốn tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên bất kỳ lĩnh
vực nào đi chăng nữa đều phải có vốn. Vốn dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, mua thiết
bị máy móc. Vốn dùng để mua nguyên nhiên vật liệu, thuê lao động… Khi doanh
nghiệp muốn mở rộng sản xuất (theo chiều rộng hay chiều sâu) đều phải cần có vốn.
Trong phần này chúng ta xem xét tới mức độ ảnh hưởng của vốn đầu tư tới nhu
cầu lao động trong doanh nghiệp như thế nào. Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản
chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất. Vốn đầu tư sản xuất được chia
thành vốn đầu tư vào tài sản cố định (vốn cố định) và vốn đầu tư vào tài sản lưu
động(vốn lưu động). Đến lượt mình, vốn đẩu tư vào tài sản cố định lại chia thành vốn
đầu tư cơ bản và vốn đầu tư sửa chữa lớn. Vốn đầu tư cơ bản làm tăng khối lượng thực
thể của tài sản cố định, bảo đảm bù đắp số tài sản cố định bị hao mòn và tăng thêm
phần xây lắp dở dang. Còn vốn sửa chữa lớn không làm tăng khối lượng thực thể của
tài sản, do đó nó không có trong thành phần của vốn đầu tư cơ bản. Nhưng vai trò của
vốn sửa chữa lớn tài sản cố định cũng giống như vai trò kinh tế của vốn đầu tư cơ bản
và nhằm đảm bảo thay thế tài sản bị hư hỏng.
Chuyên Đề Tốt Nghiệp SV Trương Quyết Thắng
5
ĐẠI HỌC KTQD KHOA TOÁN KINH TẾ
Như vậy, hoạt động đầu tư cho sản xuất là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi
năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói cách khác, đó là quá trình
thực hiện tái sản xuất các loại tài sản sản xuất. Hoạt động đầu tư là hết sức cần thiết,
xuất phát từ 3 lý do:
Thứ nhất là, do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gia nhiều lần vào
quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từng phần vào trong giá trị sản
phẩm. Trái lại đối với tài sản lưu động lại tham gia một lần vào quá trình sản xuất và