MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SẢN XUẤT CÀ PHÊ VÀ
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TIÊU THỤ CÀ PHÊ THẾ GIỚI............................6
1.1. Khái quát về cây cà phê và các sản phẩm cà phê.......................................6
1.1.3 Ý nghĩa của sản xuất cà phê....................................................................11
1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cà phê và thị trường cà phê quốc tế...........14
1.2.1 Tình hình sản xuất...................................................................................14
Cà phê trên thế giới được buôn bán theo 2 hình thức: Mua bán trực tiếp và gián tiếp qua
các sở giao dịch. Trong đó Việt Nam thường xuất khẩu theo hình thức trực tiếp, tính giá
FOB cho sản phẩm cà phê. Hình thức buôn bán gián tiếp thường diễn ra nhộn nhịp và
mang tính chất đầu cơ. Hai thị trường nhộn nhịp nhất là New York với cà phê chè và
London với cà phê vối. Hoạt động buôn bán cà phê trên thị trường thế giới hiện nay bị
thao túng bới một số công ty lớn. Đó là những công ty có khả năng tài chính lớn, có được
mối hàng lớn và đáng tin cậy. Đây cũng là một trong những đối tượng gây ảnh hưởng của
thị trường cà phê thế giới. .................................................................................................... 18
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VỀ ...........................................19
KINH TẾ - TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÀ PHÊ NƯỚC TA...............................19
2.1 Những thuận lợi và khó khăn...................................................................19
2.2 Những thành tựu và thực trạng.................................................................24
CHƯƠNG 3: NHỮNG PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO .......................................34
VỀ SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ DỰA TRÊN ........................................................34
MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG.........................................................................34
3.1 Các biến trong mô hình..............................................................................34
3.2 Xây dựng và phân tích mô hình.................................................................35
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU.............................................51
VÀ GIẢI PHÁP.................................................................................................51
4.1 Mục tiêu ......................................................................................................51
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian thực tập tại Trung tâm tư vấn chính sách Nông nghiệp
thuộc Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ ngày 07/11/2006 Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính
thức thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đến nay đã được hơn 2
năm. Việc trở thành thành viên của WTO đã mang lại cho chúng ta nhiều cơ
hội lớn và cả những thách thức lớn. Ngành cà phê Việt Nam cũng không
ngoại lệ. Nhìn lại tình hình ngành cà phê Việt Nam những năm qua chúng ta
thấy rõ sự phát triển đạt tốc độ rất cao đáng ca ngợi, tự hào.
Ngành cà phê Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong vòng 30 năm
lại đây về mở rộng diện tích, thâm canh tăng năng suất và tăng khối lượng cà
phê xuất khẩu. Đến nay cà phê đã trở thành một mặt hàng nông sản xuất khẩu
chủ lực, có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ và chiếm 1 tỷ trọng khá
lớn trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu của cả nước. Cây cà phê đã góp
phần khai thác tiềm năng đất đai, lao động và khí hậu ở cao nguyên và miền
núi, tạo nên công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu nông dân.
Trong cộng đồng cà phê quốc tế, ngành cà phê Việt Nam được đánh giá
cao về tốc độ phát triển nhanh chưa từng có và vườn cà phê Việt Nam đạt
năng suất cao hàng đầu thế giới.
Tuy nhiên, ngành cà phê nước ta đã bộc lộ không ít điểm còn chưa thực
sự bền vững, và sau khi gia nhập WTO chúng ta cũng gặp nhiều thách thức
phải vượt qua.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của cây cà phê, đặc biệt là trong quá
trình hội nhập của nước ta hiện nay, em đã chọn đề tài: “Phân tích các nhân
tố tác động đến sản lượng cà phê bằng mô hình kinh tế lượng” nhằm đi sâu
tìm hiểu rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng cà phê nước ta, từ đó tìm
dùng mô hình kinh tế lượng để dự báo và đưa ra một số giải pháp.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SẢN XUẤT
CÀ PHÊ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TIÊU THỤ CÀ PHÊ
THẾ GIỚI
1.1. Khái quát về cây cà phê và các sản phẩm cà phê
1.1.1. Khái quát về cây cà phê
1.1.1.1 Khái quát về cây cà phê
Cà phê là một thứ nước uống quen thuộc của hàng trăm triệu người trên
toàn thế giới. Bên cạnh đó nó còn là mặt hàng thương mại quan trọng trên thị
trường quốc tế, thứ 2 sau dầu mỏ.
Cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau (khoảng từ 25-100
loại). Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài
khác xa với những cây cà phê ta thường thấy. Chỉ có hai loài cà phê có ý
nghĩa kinh tế. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê
chè (tên khoa học: Coffea Arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm
cà phê trên thế giới. Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea
canephora hay Coffea robusta), chiếm gần 39% các sản phẩm cà phê. Ngoài
ra còn có Coffea liberica và Coffea excelsa (ở Việt Nam gọi là cà phê mít) với
sản lượng không đáng kể.
•Coffea ArabicaLine gọi tắt là cà phê Arabica, tên Việt Nam là cà phê
chè. Cà phê chè phát triển trên đất giàu khoáng chất, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ
bình quân từ 18-22
o
C, với độ cao trên 1000m, và lượng mưa hàng năm
khoảng 1500-1800mm, mùa khô kéo dài không quá 6 tháng. Những loại cà
phê Arabica nổi tiếng là: Moka, Maragogipe, CanRamon…Cà phê Arabica
chứa lượng cafeine thấp, hương vị thơm ngon.
6
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kaffa của Ethiopia (ở độ cao 1370-1830m). Từ đó cây cà phê được con người
phát hiện và di canh đến các địa lục khác.
Ở Việt Nam, cây cà phê do các cha đạo người Pháp mang đến để trồng
làm cảnh từ những năm 1857. Từ năm 1930, cây cà phê bắt đầu được trồng
thành những đồn điền để khai thác nhân. Từ đó đến nay, diện tích, năng suất,
sản lượng cà phê ở nước ta không ngừng tăng lên.
Cây cà phê có nhiều chủng loại, mỗi loại có nguồn gốc, đặc điểm sinh
thái khác nhau. Tuy nhiên, để trồng và khai thác hiệu quả từ cây cà phê thì
cần phải chú ý đến các điều kiện về tự nhiên và kỹ thuật để cây cà phê sinh
trưởng và cho quả tốt nhất.
1.1.2.1.1 Đất đai
Sản xuất cà phê trong các khu vực địa lý khác nhau có thể sẽ có năng
suất khác nhau. Sự khác biệt này có thể do điều kiện môi trường khác nhau
giữa các vùng, như điều kiện về đất, chất dinh dưỡng, khí hậu, giống cây…
Cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, nó có thể phát triển tốt trên
nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám …. Trong
đó, đất đỏ bazan cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Yêu cầu cơ
bản là có tầng đất mặt sâu từ 70 cm trở lên, có thành phần cơ giới trung bình
đến hơi nặng (Đất thịt nhẹ- sét).
1.1.2.1.2 Thời tiết khí hậu
- Nhiệt độ
Cây cà phê vối sinh trưởng phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ từ 22 –
26
o
C. Cây cà phê ưa nóng ẩm với nhiệt độ 24-26
o
C là thích hợp và nhiệt độ
tới thấp không dưới 7
o
C. Cà phê mít thích hợp với nhiết độ 23-25
Tóm lại: Cây cà phê có những yêu cầu sinh thái riêng, đòi hỏi điều kiện
về đất đai và thời tiết khí hậu thích hợp. Khi đáp ứng được những yêu cầu này
cây cà phê sẽ sinh trưởng và cho năng suất cao, chất lượng tốt. Trên thế giới,
ở Brazil và Colombia điều kiện tự nhiên rất thích hợp với cây cà phê. Nếu cây
cà phê được trồng ở những nơi không đáp ứng được các điều kiện trên thì cần
phải khắc phục bằng các biện pháp kỹ thuật như: tưới nước, trồng cây che
bóng…Tuy nhiên thiên nhiên thường diễn biến rất phức tạp. Thiên tai như
sương muối, gió nóng…cùng với sâu bệnh ảnh hưởng rất lớn đến việc sản
9
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xuất cà phê. Lịch sử của ngành cà phê cho thấy chính thiên tai đã gây cho
ngành bao thăng trầm và biến động mạnh về giá cả.
1.1.2.2 Nhân tố kỹ thuật sản xuất cà phê
Không chỉ những điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến cây cà phê mà
cây cà phê muốn cho năng suất, chất lượng cao rất cần những người lao động
có chuyên môn, kỹ thuật. Hiện nay, hàng loại những tiến bộ kỹ thuật mới đã
được nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất cà phê. Những tiến bộ kỹ thuật
chủ yếu về các vấn đề sau:
+ Lai tạo giống: các nhà khoa học đã cố gắng tạo ra các giống cây
có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện môi
trường và thích ứng được điều kiện ngoại cảnh trên diện rộng.
+ Chất hóa học, thành tựu trong phòng trừ sâu bệnh cũng như cỏ
dại.
+ Áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong cơ giới hóa, điện khí hóa…trong
trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản sản phẩm cà phê.
Những biện pháp kỹ thuật mới có ý nghĩa rất lớn với ngành cà phê. Cây
cà phê không những cho sản phẩm có năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn,
mà còn hạn chế được những tác hại, ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh.
Chính những tiến bộ kỹ thuật này đã hợp thành nhóm các nhân tố kỹ thuật sản
năm. Ở một số quốc gia, cà phê thực sự như là một nguồn năng lượng cho
hoạt động của con người cũng như dầu mỏ đối với nền kinh tế. Nhu cầu cà
phê còn lan rộng ra cả những nước có truyền thống uống trà như Nhật, Trung
Quốc trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và hội nhập kinh tế…
Bên cạnh đó, sản phẩm cà phê là nguyên liệu cho một số ngành
công nghiệp thực phẩm: bánh kẹo cà phê, rượu cà phê…
1.1.3.2. Sản xuất cà phê mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho nhiều
nước
11
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thế giới: Xuất khẩu cà phê đã mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể
cho nhiều nước trên thế giới. Tại 17 quốc gia trồng cà phê chính, mặt hàng
này đóng góp 25% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Cà phê là một trong những mặt hàng có tính thương mại cao. Trong
niên vụ 2001/2002 tỷ lệ xuất khẩu cà phê đã lên đến 75.14% sản lượng sản
xuất toàn thế giới. Cà phê đã đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho các nước xuất
khẩu mặt hàng này. Thu nhập từ cà phê chiểm 5% ở Brazil và 20% ở
Colombia. Ở một số quốc gia Trung Mỹ cà phê cũng chiểm đến 20-30% tổng
thu nhập xuất khẩu như Guatemala, Honduras, Nicoragua…
Cà phê còn là một loại nông sản quan trọng với các nước chậm phát
triển ở Châu Phi vì nó tạo ra nguồn ngoại tệ chủ yếu trong những năm 1989-
1992: Uganda (83,3%), Burindi (75%), Rwanda (58%) và Ethiophia (57,6%).
Một số nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới là:Brasil, Việt Nam,
Colombia, Indonesia, Ấn Độ, Mexico, Ethiopia, Guatemala, Peru….Sản
lượng của các nước này chiếm tới 88% sản lượng cà phê xuất khẩu của cả thế
giới. Trong đó riêng sản lượng của Brazil đã chiếm tới hơn 30%. Tổng sản
lượng của ba quốc gia đứng đầu là Brazil, Việt Nam và Colombia nhiều hơn
tất cả các nước khác cộng lại.
Lượng cà phê thế giới xuất khẩu ước tính đạt 8,87 triệu bao trong tháng
Trên thế giới hiện nay có khoảng 75 nước trồng cà phê và chủ yếu tập
trung ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Khoảng 10 triệu lao động tham gia
sản xuất cà phê. Tổng diện tích cà phê thế giới khoảng 10 triệu ha, sản lượng
hàng năm trên dưới 6 triệu tấn, đem lại thu nhập cho khoảng 100 triệu người.
Nếu kể cả những người trồng và người liên quan đến tiêu thụ thì trên thế giới
có khoảng 20-25 triệu người sống nhờ cây cà phê.
13
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nghề trồng cà phê ở Việt Nam là một nguồn thu nhập cho một nhóm
đông dân cư ở nông thôn, trung du và miền núi. Cà phê đã tạo được việc làm
cho hơn 600.000 nông dân cà số người có cuộc sống liên quan tới cà phê là
khoảng trên 1 triệu người.
1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cà phê và thị trường cà phê quốc tế
1.2.1 Tình hình sản xuất
Cà phê thuộc nhóm cây lâu năm được trồng ở các vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới. Do vậy, hầu hết các nước sản xuất cà phê là các nước đang phát
triển, các nước có thu nhập trung bình và thấp, tập trung chủ yếu ở Châu Phi,
Châu Á và Mỹ Latinh.
Trên thế giới có 2 loại cà phê chủ yếu có giá trị kinh tế quan trọng là
Arabica (cà phê chè) và Robustas (cà phê vối). Phần lớn cà phê Robustas
được sản xuất ở châu Phi và châu Á, trong khi đó Arabica chủ yếu được trồng
từ khu vực Trung và Nam Mỹ. Cà phê Arabica được đánh giá cao trên thị
trường vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein (từ 1 - 2%)
hơn.
Trong giai đoạn từ 1990 đến 2006, sản xuất cà phê trên thế giới tăng
mạnh với tốc độ trung bình 1,98%. Qua các năm, sản lượng cà phê thế giới
biến động không đều, tăng giảm khá thất thường, chủ yếu là do sự tăng trưởng
mạnh của cà phê Robustas với sản lượng bình quân hàng năm tăng 4,36 %
trong giai đoạn 1990-2002 trong khi cà phê Arabica chỉ tăng 0,68%.
Cây cà phê hoang dại mọc trên các tán rừng thưa và bìa rừng ở Châu
Phi, Mỹ dần dần được thuần chủng, phát tán rộng trên khắp thế giới. Các
nước sản xuất cà phê chỉ tiêu thụ khoảng ¼ sản lượng sản xuất cà phê thế
giới. Trong các nước sản xuất cà phê thì những nước có mức tiêu thụ đáng kể
là: Brazil, Colombia, Costarica.
15
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mức tiêu dùng cà phê ở Indonesia và Việt Nam, hai nước sản xuất cà
phê lớn trên thế giới, tương ứng là 0,5 và 0,37 kg trong khi mức tiêu dùng cà
phê bình quân đầu người trên thế giới năm 1998 là 4,63 kg/người trong đó
Mỹ là 4,14 kg/người, EU là 5,52 kg/người, Nhật là 3,92 kg/người, Brazil là
4,58 kg/người.
Năm 2008, tình hình kinh tế toàn thế giới khủng hoảng. Ở những quốc
gia sản xuất cà phê, thị trường chiếm hơn 26% lượng tiêu thụ cà phê thế giới,
giá cà phê nội địa giảm đã kích thích tiêu dùng trong nước. Nói chung, tiêu
thụ cà phê tại các thị trường này không có xu hướng chịu bất cứ một ảnh
hưởng tiêu cực nào. Những khu vực tiêu thụ cà phê lớn còn lại bao gồm các
thị trường ở Đông Âu và châu Á, nhiều thông tin gần đây cho thấy tiêu thụ cà
phê tại đây sẽ trở lại bình ổn. Ngoài ra, Trung Quốc vẫn là một thị trường tiêu
thụ cà phê nhỏ, nên sẽ không có bất cứ ảnh hưởng rõ rệt nào đến tình hình
thương mại cà phê thế giới.
Cùng với sự gia tăng của tổng lượng cà phê tiêu dùng trên thế giới, tiêu
dùng cà phê các nước cũng tăng theo. Điều này chứng tỏ, tỷ lệ tiêu dùng cà
phê tại các nước trồng cà phê đã tăng lên. Trước đây, cà phê được tiêu thụ chủ
yếu ở các nước có nền kinh tế phát triển cao với mức thu nhập bình quân đầu
người lớn. Khi nền kinh tế phát triển nhất là tại các nước đang phát triển thì
thói quen dùng cà phê cũng tăng lên đáng kể. Tuy nhiên xét trong tổng sản
lượng cà phê tiêu dùng trên thế giới, thì lượng cà phê tiêu dùng nội địa tuy đã
tăng nhưng vẫn còn khá thấp.
Trong khi đó các nước phát triển như Mỹ, các nước EU, Nhật Bản và
một số nước công nghiệp mới như Singaporo và Malayxia là những nước
nhập khẩu chủ yếu. Trong đó Mỹ là nước có lượng cà phê tiêu thụ nhiều nhất,
là thị trường tiềm năng lớn mà bất kỳ nhà kinh doanh xuất khẩu cà phê nào
cũng muốn được làm đối tác chính. Còn EU và Nhật Bản có khối lượng nhập
17
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khẩu và tiêu thụ lớn, nhưng hình thức chủ yếu vẫn tập trung vào việc mua lại,
rang xay và chế biến thành sản phẩm rồi bán cho các thị trường tiêu thụ khác.
Đặc biệt là EU, Mỹ và Nhật Bản với mức tiêu thụ trung bình chiếm 45%,
24% và 8% lượng tiêu thụ trên toàn thế giới. Mặc dù tổng lượng cà phê tiêu
dùng trên thế giới liên tục tăng nhưng lượng cà phê tiêu dùng tại các khu vực
tiêu dùng nhiều cà phê nhất hầu như tăng rất ít trong thời gian qua, thậm chí ở
Tây Âu còn giảm nhẹ.
Cà phê chủ yếu được tiêu thụ ở những nước phát triển, có thu nhập
bình quân đầu người cao, nơi có điều kiện khí hậu không phù hợp cho sự phát
triển của cây cà phê. Như vậy, các trao đổi thương mại trên thế giới chủ yếu
là giữa các nước sản xuất cà phê có thu nhập trung bình hoặc thấp với các
nước có công nghệ chế biến cà phê phát triển với các nước tiêu thụ cà phê có
thu nhập cao (FAO, 2001:19).
Cà phê trên thế giới được buôn bán theo 2 hình thức: Mua bán trực tiếp và
gián tiếp qua các sở giao dịch. Trong đó Việt Nam thường xuất khẩu theo
hình thức trực tiếp, tính giá FOB cho sản phẩm cà phê. Hình thức buôn bán
gián tiếp thường diễn ra nhộn nhịp và mang tính chất đầu cơ. Hai thị trường
nhộn nhịp nhất là New York với cà phê chè và London với cà phê vối. Hoạt
động buôn bán cà phê trên thị trường thế giới hiện nay bị thao túng bới một số
công ty lớn. Đó là những công ty có khả năng tài chính lớn, có được mối hàng
lớn và đáng tin cậy. Đây cũng là một trong những đối tượng gây ảnh hưởng
của thị trường cà phê thế giới.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngợi cà phê vối Buôn Ma Thuột chính là vì nó được trồng ở độ cao như thế
cộng với đất badan có độ màu mỡ lý tưởng cho cây cà phê.
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
- Lực lượng lao động dồi dào
- Đảng quan tâm ngành
- Nước ta đã trồng cà phê từ hơn một thế kỷ qua
Hiện nay Việt Nam có gần 490 nghìn ha cà phê được phân bố chủ yếu
ở các tỉnh Tây Nguyên (hơn 90% diện tích) là một điều kiện thuận lợi cho
chúng ta nguồn cung cà phê cho hoạt động xuất khẩu.
Khi gia nhập WTO Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển. Được hưởng
sự bình đẳng như các nước xuất khẩu khác, các rào cản xuất khẩu được gỡ bỏ,
cơ hội thị trường mở rộng, điều kiện tiếp nhận các công nghệ sản xuất mới.
Tuy nhiên các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu cà phê của nước ta cũng
cần nhận thức rõ những khó khăn.
Khả năng cạnh tranh cao của cà phê Việt Nam trong quá khứ chủ yếu
dựa trên bốn yếu tố sau:
Thứ nhất là giá lao động rẻ, lực lượng lao động dồi dào.
Thứ hai là năng suất cao dựa trên sử dụng nhiều nước tưới và
phân bón. Mặc dù là nước mới tham gia thị trường cà phê quốc tế nhưng Việt
Nam đã quản lý và đạt được mức năng suất cao bằng phương pháp canh tác
thâm canh mạnh với việc ứng dụng cao các loại đầu vào, phân bón và nước
tưới. Việt Nam có năng suất bình quân 1,30 tấn/ha, nhiều nơi đạt từ 4 đến 5
tấn/ha so sánh với 0,30-0,35 tấn/ha ở các nước Châu Phi và Indonesia. Brazil
và Ấn Độ đạt khoảng 0,8 tấn/ha. Chi phí lao động là một trong những nước
trồng cà phê thấp nhất và cùng với năng suất cao đã góp phần làm giá thành
trên một đơn vị sản phẩm ở Việt Nam thấp.
20
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuy nhiên năm được mùa thì cà phê xuất khẩu lại phải đối mặt với một thực
trạng là giá cà phê xuống thấp do cung lớn hơn cầu. Một số khó khăn nổi bật
ở Việt Nam là:
- Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ mùa khô kéo dài
- Mùa mưa có lượng mưa quá lớn
- Gió mạnh ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
- Một số nơi mưa đến muộn, kéo dài
- Khí hậu nóng ẩm, chế độ nhiệt ít thay đổi dễ dẫn đến sâu bệnh
2.1.2.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
Khó khăn trước hết về chính sách thuế. Việt Nam không nằm
trong số những nước được ưu tiên về thuế quan đối với các sản phẩm cà phê
hòa tan khi tham gia các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật Bản và EU…
Các nước này áp dụng thuế nhập khẩu gần như bằng 0% đối với các sản phẩm
xuất khẩu cà phê ở châu Mỹ. Trong đó mức thuế này hiện áp dụng với Việt
Nam là 2,6% đến 3,1%. Bên cạnh đó nhiều nước sử dụng hàng rào phi thuế
quan như biện pháp bảo hộ ngành công nghiệp chế biến trong nước. Đây là
những rào cản rất lớn với các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập trực tiếp
vào các thị trường này và buộc phải xuất khẩu qua các công ty trung gian ở
các nước được hưởng mức thuế quan ưu đãi hơn.
Thứ hai là chính sách do các cơ quan chức năng ban hành còn
thiếu tính linh hoạt. Mặc dù hiện nay có nhiều điều khoản ưu đãi đối với các
tác nhân tham gia kênh sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê như lãi suất thấp,
khoanh nợ, giãn nợ…nhưng tất cả các yếu tố để tiếp cận với chính sách này
đều chưa tốt. Đầu tiên là những quy định về vay vốn hiện nay chủ yếu quan
tâm đến giá trị thế chấp hơn là khả năng sinh lợi của dự án vay. Việc quy định
tỷ lệ tiền vay không vượt quá một tỷ lệ % nhất định của giá trị tài sản cũng
gây khó khăn cho người có nhu cầu vay vốn. Thiếu tài sản thế chấp là cản trở
22
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tóm lại, Việt Nam có lợi thế về:
+ Điều kiện tự nhiên: phù hợp với cà phê vối.
+ Lao động: lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ.
+ Cảng biển nên vận chuyển dễ dàng, thuận tiện xuất khẩu cà phê
đi các nước trên thế giới.
2.2 Những thành tựu và thực trạng
2.2.1 Những thành tựu đạt được
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1870. Người Pháp đã
mang cây cà phê Arabica từ đảo Bourbon sang trồng ở phía Bắc Việt Nam sau
đó mở rộng sang các vùng khác. Năm 1930, Việt Nam có khoảng 5900 ha cà
phê
1
. Đến năm 1990, Việt Nam có khoảng 119300 ha. Giữa thập kỷ 90, giá
tăng đã khuyến khích người trồng cà phê Việt Nam mở rộng diện tích trồng
và tăng thâm canh cà phê. Tổng diện tích cây cà phê năm 2000 lên đến 516,7
nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam, đứng thứ ba
chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô (chiếm
5,7%).
Kể từ ngày 07/11/2006 Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính
thức thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đến nay đã được 2
năm. Việc trở thành thành viên của WTO đã mang lại cho chúng ta nhiều cơ
hội lớn và cả những thách thức lớn. Ngành cà phê Việt Nam cũng không
ngoại lệ. Nhìn lại những vấn đề đặt ra sau hơn 2 năm gia nhập WTO ta thấy
ngành cà phê Việt Nam trong một thời gian không dài chỉ trong vòng 26 năm,
trong một phần tư thế kỷ, kể từ sau năm 1975 đã có những bước phát triển
vượt bậc với tốc độ kỷ lục so với nhiều nước trồng cà phê khác trên thế giới.
Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam đã có diện tích khoảng 500.000 ha với lượng
1
24
Đàm Thị Thúy Hằng Toán Kinh tế 47