MỤC LỤC
Lời mở đầu
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới, các
nước chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác, quan hệ trên cơ sở hai bên
cùng có lợi, cùng nhau phát triển kinh tế. Đặc biệt là đối với Việt Nam, thực
trạng nền kinh tế sau chiến tranh giành độc lập hoàn toàn, tiến tới xây dựng,
ổn định và từng bước phát triển kinh tế.
Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên
thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Việc gia nhập WTO đã tạo
những tiền đề quan trọng cho nước ta tiếp tục phát triển và hội nhập sâu vào
nền kinh tế toàn cầu. Việc mở cửa thị trường theo nghĩa vụ thành viên cũng
khiến thị trường Việt Nam chịu tác động trực tiếp từ thị trường thế giới. Điều
đó vừa là cơ hội vừa là thách thức.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước ngành da
giày nước ta đã đạt được những bước tiến đáng kể ,được Nhà nước và Đảng
xác định là một trong những ngành có vị trí vô cùng quan trọng trong nền
kinh tế khi đất nước bước vào sân chơi quốc tế. Trong nước, ngành da giày
được xếp hàng thứ ba trong các ngành xuất khẩu lớn, chỉ đứng sau dệt may
và dầu khí. Bên ngoài, Việt Nam được xếp hàng thứ tư trong số các nước xuất
khẩu da giày lớn trên thế giới. Điều này cho thấy những chính sách đúng đắn
đã có tác động tích cực vào ngành da giày.
Tuy nhiên, đến năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã có dấu
hiệu chững lại với mức xuất khẩu là 4.067 triệu đô la, giảm 14,6% so với
2008, khiến cho nhiều doanh nghiệp trong ngành và những người quan tâm
đến ngành da giày Việt Nam cảm thấy lo ngại.
Trong bối cảnh trên ,các doanh nghiệp xuất khẩu da giày Việt Nam sẽ
gặp khó khăn khi cạnh tranh với các doanh nghiệp xuất khẩu cuả nước ngoài,
1
đặc biệt là các quốc gia có thế mạnh trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, đây cũng
là cơ hội tạo ra cho chúng ta để phát triển ngành da giày, đặc biệt là cánh cửa
xuất khẩu được mở rộng hơn
Trên thị trường, giá cả có thể rất quan trọng, nhưng tại EU chất lượng
là yếu tố được quan tâm hàng đầu đối với phần lớn các mặt hàng được tiêu
thụ trong đó có giầy dép. Đặc biệt đối với mặt hàng giầy dép thì yếu tố thời
trang được người tiêu dùng EU hết sức coi trọng. Nét độc đáo và đặc biệt của
sản phẩm so với sản phẩm khác của đối thủ cạnh tranh sẽ có sức thu hút lớn
đối với họ. Nhìn chung thị trường EU hiện tại cũng như tương lai là thị trường
đầy tiềm năng về quy mô dung lượng thị trường nhưng cũng là thị trường đầy
thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
3
Các số liệu về thị trường giầy dép EU được cập nhật từ các cuộc khảo
sát năm 2009 (không bao gồm các loại giày bảo hộ lao động, giày trượt tuyết)
EU là thị trường giày dép lớn nhất thế giới, trên cả Mỹ, thể hiện ở việc
chiếm đến 1/3 giá trị của thị trưởng toàn thế giới. Năm 2008, sức tiêu thụ của
thị trường EU đạt 49 tỉ € (2.1 tỉ đôi) với bình quân đầu người 100 tương ứng
là 4.2 đôi. Thị trường được chi phối bởi 5 quốc gia mà đã chiếm tới 71% sức
tiêu thụ toàn EU. Các thị trường đó là Đức (17.4%), Pháp (17.0%), the
UK (16.1%), Ý (12.6%) and TBN (8.3%).
Từ năm 2004, sự tiêu thụ ở hầu hết các nước EU đều tăng khá mạnh
cho đến năm 2007, sau đó bị ảnh hưởng bới suy thoái toàn cầu vào năm 2008.
Nhóm sản phẩm bị ảnh hưởng rõ nhất là giầy dép hàng ngày, giày thể thao
(sneaker) và dép đi trong nhà.Tại hầu hết các nước EU, sự tiêu thụ giầy dép
phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu và thị hiếu của phái nữ (chiếm đến 57% giá trị
ở các thị trường chính của EU). Đặc biệt ở Đức và Bỉ khi phái mạnh coi nhẹ
về giầy dép thì nhu cầu của phái nữ chiếm ưu thế tuyệt đối. Tuy nhiên giầy
dép của phái mạnh lại đắt hơn. Thiết kế thời trang và thoải mái khi đi bộ là
các tiêu chí dẫn dắt thị trường tiêu dùng. Khách hàng có xu hướng tìm mua
các loại giầy đa năng vừa có thể đi bình thường vừa có thể đi khi có việc cần
lịch sự để tiết kiệm trong thời kì suy thoái.
Trong khi đó tại các nước Đông Âu (Ba Lan, Sec, Rumani, Bungari),
hàng giầy dép cao cấp và trung cấp vẫn cùng phát triển. Đó là do việc tăng
€
Đôi
Cả EU
Đức
Pháp
Anh
Ý
TBN
Hà Lan
Ba Lan
Bỉ
Hy Lạp
Áo
Thuỵ Điển
BĐN
Rumani
Đan Mạch
Phần Lan
CH Séc
Ai Len
Hungary
Slovakia
Bungari
Slovenia
Lithuania
Latvia
Luxembourg
Estonia
Cyprus
49,502
2,076
8,455 323
8,381 349
7,986 333
6,321 295
4,224 142
2,387 67
1,713 139
1,256 38
1,248 35
1,129 32
994 41
963 49
762 49
699 23
624 18
479 37
458 22
313 25
243 14
232 14
181 7
165 8
94 6
66 2
55 3
50 3
24 2
0.3
-0.5
0.2
-0.2
-0.1
1.2
-1.6
3.1
0.7
0.8
-1.8
4.2
0.0
2.4
0.9
0.5
1.0
0.8
0.9
0.8
1.4
1.1
0.8
0.8
1.9
2.0
0.0
0.0
4.0
5.7
5.4
5.2
4.5
4.7
3.0
3.9
3.9
3.8
4.4
4.3
2.4
4.4
3.8
3.8
5.0
2.5
3.0
2.2
3.4
2.9
2.8
4.0
3.0
3.8
4.1
Nguồn: National Trade and Research specialists, Euromonitor, Mintel
(2010)
5
2.Thị trường Mỹ
Mỹ là nước nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới cả về số lượng lẫn giá
trị,với dân số 265 triệu người, hàng năm Mỹ tiêu thụ khoảng 1,6 - 1,7 tỉ đôi
giày các loại, 90% khối lượng sản phẩm phải nhập khẩu. Số lượng giày dép
tiêu thụ của Mỹ không ngừng tăng qua các năm ,chính vì thế mà số lượng
giày dép nhập khẩu vào Mỹ cũng tăng lên không ngừng .Trong số các nước
xuất khẩu giày dép vào Mỹ, Trung Quốc luôn chiếm vị trí số 1 với 53% thị
trường tính theo giá trị và 69% tính theo số lượng. Mối lo ngại về việc phụ
thuộc vào các nguồn giày dép giá rẻ từ Trung Quốc đang buộc các nhà nhập
khẩu lớn của Mỹ tăng cường nhập khẩu từ các nước khác. Điều này có lợi cho
các nước như Braxin, Mexico và gần đây là Việt Nam và Indonesia. Ngoài ra,
Mỹ còn nhập khẩu giày dép từ Italia, Tây Ban Nha,
Mỹ phải nhập khẩu 90% giày dép để tiêu thụ tại thị trường nội địa, đây là
điều kiện hấp dẫn để các nước xuất khẩu giày dép có cơ hội gia tăng thị phần.
Do nhập khẩu 90% số lượng giày dép, nên khó có chuyện “bảo hộ ngành sản
xuất giày dép” tại Mỹ. Trước nay, Trung Quốc vẫn là thị trường thống lĩnh
cung ứng giày dép tại Mỹ với thị phần hơn 50%. Trong xu hướng sản xuất
hiện nay, miếng bánh thị phần của Trung Quốc đang bị thu hẹp lại và đây là
cơ hội cho các nước xuất khẩu ít hơn như Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia,
Bangladesh gia tăng thị phần.
2.3.Nhật Bản
Giầy dép nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản chia làm 6 loại chính:
giày da, giày thể thao, giày vải và dép đế da, cao su hoặc plastic. Giày trên thị
trường Nhật Bản có nhiều loại cỡ tiêu chuẩn khác nhau. Giày của Nhật Bản
thường có tính kích cỡ theo cm. Giày da Nhật Bản mang nhãn hiệu Châu Âu
7
và Mỹ thường có giá cả cao hơn giày mang nhãn hiệu Nhật Bản, trong khi
giày da nhập khẩu từ các nước Châu Á lại có giá thấp hơn. Hầu hết giày thể
thao trên thị trường Nhật Bản là được nhập khẩu từ Châu Á với các nhãn hiệu
thông dụng từ những nhà sản xuất lớn và có giá rẻ hơn. Tuy nhiên, loại giày
+ Đứng thứ 2 về xuât khẩu giày dép sang thị trường Brazin đạt kim
ngạch xuất khẩu 47,65 triệu USD.
Bảng 1 :Kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2008 phân theo thị trường
Đơn vị : triệu USD
Tên nước , khu vực Cả năm
EU 2574,18
Mỹ 1075,129
Đông Á 381,36
Các nước khác 736,331
Tổng 4767,0
Bảng 2:Tỷ trọng và giá trị xuất khẩu giày dép từ 2000 đến nay
9
Năm 2000 2005 2007 2008 2/2009
Giá trị (Triệu$)
1471,7 3038,8 3994,3 4767 654,7
Tỷ trọng tổng
kinhnghạch(%)
9,8 9,4 8,2 7,6
Theo s liu thng kờ, kim ngch xut khu giy dộp cỏc loi ca Vit
Nam thỏng 7/2010 t 491 triu USD, tng 2% so vi thỏng trc v tng
34,4% so vi cựng thỏng nm ngoỏi, nõng tng kim ngch xut khu giy dộp
cỏc loi ca Vit Nam 7 thỏng u nm 2010 t 2,8 t USD, tng 14,3% so
vi cựng k nm ngoỏi, chim 7,2% trong tng kim ngch xut khu hng hoỏ
ca c nc 7 thỏng u nm 2010.
b.V nng lc sn xut ca ton ngnh :
- Nm 2007:Giy dộp cỏc loi: 680 triu ụi
- Nm 2008:Giy dộp cỏc loi: 750,00 triu ụi
Nng lc sn xut ca ngnh nm 2007 ó t trờn 90% mc nng lc
c u t, cú mc tng trng mnh trong 7 nm liờn tip vi mc tng
trung bỡnh t 10%/nm trờn 2 loi sn phm chớnh l giy dộp v tỳi cp cỏc
Hiệp hội Công nghiệp giày Brazil - Abicalcado đã nộp đơn yêu cầu điều tra
chống bán phá giá đối với các loại giày Việt Nam xuất khẩu sang Brazil, như
giày mũ da mà các loại khác.Mặc dù sau đó hiệp hội tuyên bố không điều tra
chống bán phá giá với giày Việt Nam nhưng đây cũng là một tiếng chuông để
cảnh tỉnh các doanh nghiệp xuất khẩu cần chú ý hơn về luật pháp của quốc tế.
- Giày dép Việt Nam bị kiện phá giá tại Canada :Theo thông tin của
Thương vụ Việt Nam tại Canada, ngày 27/2/2009, Cơ quan Biên mậu Canada
(CBSA) đã ra thông báo chính thức tiến hành điều tra chống bán phá giá mặt
hàng giày và đế giày cao su không thấm nước có nguồn gốc xuất xứ từ Trung
11
Quốc và Việt Nam vào thị trường Canada.
* Việc hàng hóa Việt Nam bị kiện bán phá giá trên đấu trường quốc tế
không còn quá lạ lẫm, nhưng những kinh nghiệm về một thương trường kinh
tế thực sự thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nắm bắt được. Đây là thực
trạng đáng nói không chỉ đối với ngành giày da nói riêng mà cả đối với những
ngành xuất khẩu khác khi buôn bán trên thị trường quốc tế.
2.Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam
2.1. Thị trường EU
Trong những năm vừa qua, giày dép Việt Nam xuất khẩu vào EU tăng
trưởng nhanh về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu. Tại thị trường EU, Việt
Nam là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ hai sau Trung Quốc.Hết năm 2008,
EU vẫn là thị trường lớn nhất tiêu thụ giày dép của Việt Nam với doanh thu
2,5 tỉ USD, tăng 33,9% so với năm 2006 và chiếm 54% tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng giày dép của Việt Nam.Một số thị trường chủ yếu trong EU :thị
trường Anh,Đức,Bỉ,Pháp.
Biểu đồ 2 :Các thị trường xuất khẩu giày dép trong EU
2.2. Thị trường Mỹ
Thị trường Mỹ là một thị trường nhập khẩu đầy tiềm năng. Những
12
năm qua, Mỹ chủ yếu nhập khẩu giầy dép từ các nước EU như Đức, Pháp,
Kim ngạch xuất khẩu giày dép của ta sang Nhật Bản liên tục tăng trong
các năm từ 2003-2007. Năm 2003, ta xuất khẩu 8,4 tỷ Yên (khoảng 76,5 triệu
USD) thỡ sang năm 2005 con số này là 14,7 tỷ yên (khoảng 134 triệu USD),
tăng 42,8%. Riêng kim ngạch xuất khẩu giày dép 2007 tăng 21,9% so với kim
ngạch xuất khẩu năm 2004 và tăng gần gấp đôi kim ngạch xuất khẩu giày dép
của năm 2003. Thị phần mặt hàng giày dép xuất khẩu của ta tại thị trường
Nhật Bản cũng ngày càng gia tăng, từ 2,28% vào năm 2003 lên đến 3,72%
vào năm 2007. Hiện nay, xuất khẩu giày, dép vào Nhật Bản là một trong
những thị trường tiêu thụ giày dép tiềm năng của Việt Nam do mặt hàng giày
mũi da của Việt Nam (cùng với Trung Quốc) đang bị EU áp thuế bán phá giá.
Xét về thị phần xuất khẩu giày dép của ta sang Nhật Bản, năm 2003
giày dép xuất khẩu của ta sang Nhật Bản đứng thứ 4 sau Trung Quốc, Italia
và Inđônêxia. Sang năm 2005, mặt hàng giày dép của ta đó vươn lên đứng thứ
3, vượt qua Inđônêxia.Năm 2008, xuất khẩu vào Nhật Bản đạt 137,6 triệu
USD.
Đây là một thị trường đầy hứa hẹn. Tuy nhiên thị trường Nhật Bản
cũng là một thị trường khó tính và đòi hỏi cao về chất lượng mẫu mã sản
phẩm nên muốn các sản phẩm giầy dép của Việt Nam có thị phần lớn ở Nhật
bản thì các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã cho phù
14
hợp với nhu cầu và thị hiếu của người Nhật Bản.
3. Cơ cấu các mặt hàng giày dép xuất khẩu
Bảng 6 : Xuất khẩu theo cơ cấu sản phẩm 2005- 2007
Đơn vị : 1.000.000 đôi
1.000.000 USD
Loại giày
2005 2006 2007
S.lượng Giá trị S.lượng Giá trị S.lượng Giá trị
Giày thể thao 116,000 892,640 127,888 1,001,753 179,958 1,392,775
Giày vải 30,670 157,710 11,182 26,316 27,971 89,166
Việc cung ứng nguyên vật liệu cho ngành da giày hiện nay bị lệ thuộc
nhiều vào nguyên vật liệu đầu vào từ nước ngoài làm mất đi rất nhiều lợi thế
sẵn có về nhân công rẻ, sự ưu đãi do thị trường các khu vực phát triển đưa
lại Chất lượng da sản xuất trong nước yếu kém : mỗi năm nước ta phải
nhập 80 triệu feet vuông da thuộc. Về vải: chưa đủ khả năng cung cấp nguyên
liệu đầu vào cho ngành giày. Giả da : chủ yếu nhập từ Đài Loan, ta chỉ có thể
sản xuất được giả da mỏng, mềm có thể dùng may lót hay trang trí. Đế giày :
phải nhập hầu như toàn bộ nguyên liệu để sản xuất đế, chỉ tự cung cấp được
các loại đế thuần đơn giản. Về cao su :chúng ta rất sẵn cao su tự nhiên nhưng
lại thiếu cao su tổng hợp. Phụ liệu : chưa có công ty quốc doanh chuyên cung
ứng tổng hợp nguyên phụ liệu cho ngành giày.
Thực hiện một phép so sánh giữa nguyên phụ liệu của ta với các nước
trong khu vực. Lấy chuẩn Việt Nam với 100 điểm, điểm của các nước khác sẽ
hơn 100 nếu có lợi thế hơn và ngược lại.
16
Bảng 7: So sánh về nguyên phụ liệu giữa Việt Nam với các nước trong
khu vực
Tiêu chí
so sánh
Việt Nam Thái
Lan
Trung
Quốc
Đài
Loan
Hong
Kong
Indo
nesia
Da 100 100 110 100 100 100
Nhìn vào bảng trên có thể thấy ngay là cùng với Indonesia thì công
nghệ của Việt Nam được đánh giá thấp nhất trong khu vực, Thái Lan nhỉnh
hơn 2 nước trên một chút còn Trung Quốc, Đài Loan, Hongkong thì bỏ cách
khá xa.
17
+Chất lượng máy móc thiết bị
Máy móc thiết bị của ngành giày dép đều nhập khẩu từ các nước như
Đài Loan, Hàn Quốc, Pháp, Trung Quốc theo công nghệ băng tải dài, tốc độ
chậm và chỉ kết hợp được một số lượng hạn chế nhân công trên một đầu máy.
Tương quan so sánh về thiết bị giữa nước ta với các đối thủ cạnh tranh trong
khu vực như sau :
Bảng 9:So sánh chất lượng thiết bị máy móc của Việt Nam với
các nước trong khu vực
Tiêu chí so sánh
Việt
Nam
Thái
Lan
Trung
Quốc
Đài
Loan
Hong
Kong
Indonesia
Thiết bị đơn giản 100 90 120 80 80 100
Thiết bị phức tạp 100 110 100 150 150 100
Trung bình 100 100 110 115 115 100
Trong khâu thiết bị, chúng ta có trình độ ngang bằng với 2 nước
ASEAN là Thái Lan và Indonesia, thua kém nước láng giềng Trung Quốc và
về thị trường và nguồn nguyên liệu nước ngoài.
Chi phí nhân công : Mức thu nhập bình quân của người lao động còn
thấp so với các nước trong khu vực, đây là một lợi thế để làm giảm chi phí
sản xuất nhằm tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường.
5.Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với sự
phát triển của ngành da giày
19
Gia nhập WTO tạo cho ngành da giày Việt Nam gia tăng các luồng
chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy giao lưu văn hoá,
trí tuệ, củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, phát triển văn minh vật
chất và tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường quốc tế.
Song, hội nhập cũng mang lại không ít khó khăn và thỏch thức.
CƠ HỘI
Hội nhập kinh tế quốc tế đó gúp phần thúc đẩy các cơ hội phát triển
ngành da giày, việc chuyển giao công nghệ theo chu kỳ nhanh hơn phù hợp
với yêu cầu khắt khe của thị trường. Việc gia nhập tổ chức mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) tạo điều kiện việc giao lưu hàng hoá thông suốt, ít cản trở,
xoá bỏ hàng rào phi thuế quan, ưu đãi về thuế quan tạo điều kiện cho ngành
hàng da giày thâm nhập vào thị trường khu vực.
Bảng 11:Các thị trường XK giày dép VN năm 2008
EU 54%
Mỹ 23%
Đông Á 8%
Các nước khác 15%
Ngành da giày là ngành sử dụng nhiều lao động xã hội. Tính đến hết
năm 2008, toàn ngành đó thu hút 610.000 lao động chiếm 9% lực lượng lao
động công nghiệp. Đây có thể được coi là lợi thế so sánh với mức chi phí
nhân công thấp.
Trong những năm gần đây công tác xúc tiến thương mại đó bắt đầu
được chú trọng. Toàn ngành có những hoạt động tích cực nhằm tăng cường
lượng nhưng hàng Việt Nam vẫn không thể thâm nhập mạnh vào thị trường
21
các nước này. Nhiều nước châu Phi đánh thuế nhập khẩu rất cao thậm chí là
cấm các mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam .
Nguyên vật liệu sản xuất của ngành da giày chiếm đến 80% giá trị của
sản phẩm trong đó ngành sản xuất da đóng vai trò quan trọng nhất. Theo Hiệp
hội da giày Việt Nam, nhu cầu da thuộc năm 2007 của toàn ngành khoảng
350 triệu feet vuông, các nhà máy thuộc da của Việt Nam và nước ngoài đầu
tư tại Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu da
thuộc của cả nước, 80% phải nhập khẩu .
Năng lực sản xuất của ngành chủ yếu tại các cơ sở ngoài quốc doanh và
có yếu tố nước ngoài, chiếm trên 90% năng lực của cả ngành, chứng tỏ năng
lực ngành phụ thuộc hoàn toàn vào làn sóng đầu tư của tư bản tư nhân trong
nước và quốc tế.
Ngành phụ liệu sản xuất còn trầm trọng hơn, các doanh nghiệp Việt Nam
mới chỉ sản xuất được một vài mặt hàng rất hạn chế như ren, dây giày nhưng
lại “bỏ ngỏ” những loại phụ kiện tinh xảo là các sản phẩm nhựa có xi mạ như
khoen, móc, cườm, các vật trang trí trên giày, đặc biệt là giày nữ và giày trẻ em.
Tuy có lợi thế giá nhân công rẻ, nguồn cung ứng lao động dồi dào do
dân số trẻ, nhưng năng suất lao động của người Việt Nam rất thấp, trung bình
trên 1 dây chuyền 450 lao động đạt mức sản lượng 500.000 đôi/năm, chỉ bằng
1/35 năng suất lao động của người Nhật, 1/30 củaThái Lan,1/20 của Malaysia
và 1/10 của Indonesia.
Sản xuất của ngành da giày Việt Nam mới chủ yếu phục vụ cho xuất
khẩu, tại thị trường nội địa với mức tiêu thụ khoảng 100 triệu đôi/năm vẫn
chưa được tập trung khai thác. Vì thế, ở cả 3 phân khúc thị trường trung, cao
và thấp cấp, giày dép trong nước đều lép vế so với hàng ngoại nhập.
Hiện nay trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam đang ở mức
trung bình và trung bình khá, song khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị
máy móc. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào
Bộ Công Thương đó phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành
giày dép đến năm 2020,tầm nhìn đến 2025 với mục tiêu phát triển ngành giày
dép trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng phục vụ cho tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần giải quyết việc làm cho người lao
động. Với giai đoạn từ 2011 – 2020, nếu tăng trưởng GDP ổn định ở mức
7,5% thì tổng sản phẩm giày dép sẽ đạt 1.698 triệu đôi vào năm 2020, cặp túi
ví các loại đạt 311 triệu cái, mang lại kim ngạch xuất khẩu da giày là 16,5 tỷ
USD (giày dép 13,3 tỷ USD, cặp túi ví 3,2 tỷ USD), chiếm 9,68% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước.Với quan điểm vươn lên, trụ vững, phát triển,
hoà nhập quốc tế và khu vực, ngành da giày Việt Nam tập trung phát triển
theo định hướng sau:
- Ngành da giày định hướng phát triển trên cơ sở mục tiêu chung của
nền công nghiệp là thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Việc thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển của ngành da giày
trong tương lai và việc phân bố lại lực lượng sản xuất của ngành cũng cần
phải hướng và đạt đến mục tiêu của phát triển công nghiệp.
- Ưu tiên phát triển các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu, hoá chất, phụ
tùng phục vụ cho ngành nhằm tiết kiệm ngoại tệ, hạn chế sự phụ thuộc và
tạo thế chủ động trong sản xuất kinh doanh. Trước mắt vẫn có thể kêu gọi đầu
tư nước ngoài (100%) vào lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành giày,
những loại mà hiện nay ta chưa thể tự sản xuất được.
- Khẳng định quan điểm hướng ra xuất khẩu với phương hướng chuyển
mạnh từ gia công sang mua nguyên liệu bán thành phẩm, đảm bảo nâng cao
chất lượng, đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu và tăng nhanh tích luỹ.
- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa công nghiệp thuộc da, sản xuất
24