Tiểu luận triết học
Đề tài : Việc học tập và nghiên cứu triệt học có ý nghĩa gì đối với quá trình
học tập và công tác đối với anh, chị? Hãy trình bày một nội dung cụ thể của triết
học Mác Lê Nin mà anh chị cho là tâm đắc nhất. Từ đó nêu lên ý nghĩa phơng
pháp luận đối với nhận thức và thực tiễn
Việc học tập và nghiên cứu triết học có ý nghĩa to lớn trong quá trình học tập
và công tác. Xã hội loài ngời đã tồn tại, phát triển và trải qua các hình thái kinh tế
và luôn gắn liền với hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất. Hay sản xuất ra
của cải vật chất là nền tảng của đời sống xã hội. Mỗi chúng ta cũng vậy muốn tồn
tại đợc phải học tập và lao động Nếu ngừng lao động sản xuất ra của cải vật chất thì
sự sống trên toàn cầu bị huỷ diệt. Học triết học đã giúp em hiểu đợc thế giới hiện
thực xung quanh, chỉ ra đợc phơng hớng đối tợng nghiên cứu của mình về một vấn
đề cụ thể mà em dang làm. Học triết học giúp cho em hiểu đợc thế nào là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và phơng pháp luận, Lôgíc học và các phơng pháp nhận thức
khoa học, Nguyên nhâ và kết quả, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tợng, tất
nhiên và ngẫu nhiên, cái chung và cái riêng, khả năng và hiện thự. Qua đó ta thấy
đợc tầm quan trọng của triết học nó là cơ sở giúp ta học tập các môn lý luận, khoa
học tiếp theo trong học tập ở nhà trờng cũng nh trong quá trình công tác ngoài xã
hội. Nghiên cứu triết học mác Lê Nin phạm trù mà để lại cho em tâm đắc nhất là
Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn vì từ thực tiễn thì con ngời mới có nhận
thức mà sự phát triển của nhận thức dẫn tới sự hình thành lý luận giúp cho chúng ta
làm việc có hiệu quả nhất.
Nội dung
I.Thực tiễn và lý luận. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
1. Phạm trù thực tiễn.
Các nhà triết học duy tâm chỉ hiểu thực tiễn nh là hoạt động tinh thần chứ
không hiểu nó nh là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con ngời.
1
Tiểu luận triết học
Nhìn chung, họ chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động t tởng. Chẳng hạn
Thực tiễn không chỉ là những hoạt động vật chất, cảm tính của từng con ngời
cá biệt mà là hoạt động cơ bản của loài ngời. Xét từ nội dung cũng nh từ phơng thức
thực tiễn mang tính lịch sử xã hội. tính lịch sử của thực tiễn biển hiện:
2
Tiểu luận triết học
+ Đó là hoạt động bản chất của con ngời, hoạt động đặc chng của con ngời và
đó cũng là phơng thức tồn tại cơ bản của con ngời.
+ Các phơng tiện công cụ cho đến những kỹ năng, kỹ xảo và cả trí thức mà
con ngời sử dụng trong thực tiễn đều là sản phẩm của lịch sử xã hội.
+ Thực tiễn không bất biến, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển
theo tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Hay nói cách khác trình độ trinh
phục tự nhiên và cải biến xã hội của con ngời ngày càng cao
Để nắm vững khái niện thực tiễn, t duy khái niện đó theo đúng nghĩa khoa
học của nó, ngoài việc nắm chắc hai đặc trng trong nội dung của khái niệm thực
tiễn (hoạt động vật chất có mục đích của con ngời và tính lịch sử - xã hội của thực
tiễn), còn phải nhận dạng của hoạt động này trong thực tế.
Hình thức của thực tiễn rất đa dạng và phong phú, nhng về đại thể có thể
phân thành những dạng cơ bản và những dạng không cơ bản. Dạng cơ bản đầu tiên
của thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất. Đây là dạng thực tiễn cơ bản nhất
quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngời và quyết định các dạng khác
của thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống
của con ngời, giúp con ngời thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật. Một dạng cơ
bản khác của thực tiễn là hoạt động chính trị xã hội nhằm trực tiếp cải tạo, biến
đổi các quan hệ xã hội, các thiết chế, tổ chức bộ máy trong xã hội, các chế độ xã
hội. Ngoài ra với sự ra đời và phát triển của khoa học, một dạng cơ bản nữa của thực
tiễn xuất hiện - đó là hoạt động thực tiễn nghiệm khoa học.
Trên cơ sở những dạng cơ bản những dạng không cơ bản của thực tiễn đợc
hình thành. Đó là mặt thực tiễn của các hoạt động trong các lĩnh vực nh đạo đức,
nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo Những dạng thực tiễn này tuy là cái phát sinh từ
những dạng cơ bản nhng cũng rất quan trọng, nhất là trong sự phát triển của những
kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật
của thế giới khách quan.
Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ khác nhau của nhận thức, đồng thời lại
thống nhất với nhau; chúng bổ xung cho nhau, giả định lẫn nhau, thâm nhập và
chuyển hoá lẫn nhau. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất
với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, tuy chúng có quan hệ với nhận thức
cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức kinh nghiệm ngoài hoạt động trực quan
cảm tính, còn có sự tham gia của yếu tố lý tính. Do đó kinh nghiệm và lý luận đều
là kết quả của nhận thức lý tính, nhng ở những bậc thang cao thấp khác nhau.
Kinh nghiệm là những ci thức chủ yếu thu nhận đợc từ sự quan sát và thí
nghiệm. Trí thức kinh nghiệm nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, từ cuộc sống.
Có hai loại chi thức kinh nghiệm: Tri thức kinh nghiệm thông thờng (tiền khoa học)
thu đợc từ những sự quan sát hàng ngày, từ sự trải nghiệm trong cuộc sống và thực
tiễn; và tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhập đợc từ những vấn đề khoa học.
Tri thức kinh nghiệm đã mang tính trừu tợng và khái quát, song mới là bớc
đầu và còn hạn chế. Nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng lẻ, về các mối
liên hệ bên ngoài của sự vật và còn rời rạc. ở trình độ tri thức kinh nghiệm cha thể
4
Tiểu luận triết học
nắm bắt đợc cái tất yếu, mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tợng. Nhận thức
do đó, không nên dừng lại ở kinh nghiệm mà cần nâng lên trình độ lý luận.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Lý luận là những tri
thức đợc khái quát từ những tri thức kinh nghiệm. Tuy nhiên ở đây cần lu ý rằng lý
luận không phải là tổng số các kinh nghiệm, là con số cộng các kinh nghiệm. Sự
chuyển biến từ tri thức kinh nghiệm lên tri thức lý luận là sự chuyển biến về chất
trong nhận thức thông qua sức mạnh khái quát hoá và trừu tợng hoá của t duy. Vả
lại không phải mọi tri thức lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính
độc lập tơng đối của nó, lý luận có thể đi trớc những dữ kiện kinh nghiệm. Tuy
nhiên điều đó vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận và kinh nghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tợng và khái quát cao, nhờ đó,
mới bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để con ngời nhận thức chúng.
Chính thông qua thực tiễn con ngời thu nhận đợc những tài liệu cảm tính, đúc kết
tích luỹ đợc những kinh nghiệm. Và lý luận khoa học chính là kết quả của sự tổng
kết, khái quát tự những tài liệu đó. Với nghĩa đó có thể nói rằng không có thực tiễn,
không có lý luận. Mọi lý luận khoa học không tự biện đều bắt nguồn từ thực tiễn,
phát triễn cùng với sự phát triển của thực tiễn.
Thực tiễn không phải là cơ sở chủ yếu, trực tiếp nhất, mà còn là động lực
quan trọng nhất của nhận thức, lý luận. Trong quá trình tồn tại, con ngời không thể
thoả mãn với những gì mà thế giới cung cấp cho mình dới dạng có sẵn, nên con ng-
ời phải cải taọ thế giới bằng thực tiễn của mình và chính trong quá trình biến đổi thế
giới, con ngời cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực t duy, năng
lực nhận thức, năng lực chí tuệ của mình. Nhờ đó, con ngời ngày càng nhận thức
sâu sắc hơn thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc
hiểu biết của mình về thế giới và hơn nữa thế giới của con ngời luôn luôn mớ, do đó
luôn luôn làm nẩy sinh những vấn đề mới, những tình huống có vấn đề buộc nhận
thức, lý luận phải lý giải, giải đáp và định hớng cho thực tiễn.
Sự xuất hiện và phát triển của các khoa học, của các lý luận đều bắt nguồn từ
đòi hỏi của thực tiễn, từ nhu cầu của thực tiễn càng phong phú đa dạng bao nhiêu
thì nhận thức khoa học, lý luận càng phát triển bấy nhiêu. Nhấn mạnh vai trò động
lực của ăngnghen đã từng nói rằng, khi thực tiễn phát triển, thì nó thúc đẩy cho
khoa học phát triển.
Thực tiễn là mục đích của lý luận. Lý luận, khoa học không có mục đích tự
thân. Lý luận khoa học suy cho cùng là nhằm hớng dẫn, chỉ đạo thực tiễn. Do đó lý
luận khoa học và nhận thức nói chung chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng đáp ứng nhu
cầu của thực tiễn thể hiện ở chỗ: thực tiễn định hớng sự phát triển của nhận thức, lý
luận khoa học, làm cho chúng phát triển đúng hớng và do đó có tác dụng thiết thực.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Trong lịch sử triết học đã xuất hiện nhiều
điểm khác nhau về tiêu chuẩn của chân lý. Có ngời coi chân lý là những gì đợc
chứng minh bằng các giác quan, những gì đợc chứng minh bằng những tài liệu cảm
tính do các giác quan đem lại; có ngời khẳng định tiêu chuẩn của chân lý là ở tính
Nh vậy việc quán triệt tính biến chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta
tránh khỏi những cựa đoan sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ hoặc chủ nghĩa
chủ quan, chủ nghĩa tơng đối.
Tóm lại sự phân tích trên đây về vai trò của thực tiễn đối với lý luận đòi hỏi
phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu nhận thức phải xuất
phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sơ thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn .Coi trọng việc
tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với
7
Tiểu luận triết học
hành. Nếu xa rời thực tiễn thì sẽ dẫn tới sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy
móc, quan liêu.
b. Sự tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn.
Triết học Mac xit chỉ ra rằng coi trọng thực tiễn không có nghĩa là coi nhẹ lý
luận, hạ thấp vai trò của lý luận mà phải thấy đợc vai trò tác động tích cực của lý
luận đối với thực tiễn. Tuy nhiên trên cơ sở thực tiễn mà nó tác động trở lại thực
tiễn. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn đợc thể hiện ở các điểm sau:
Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích của con ngời. Nhng mục đích
của con ngời là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế giới khách quan làm
tiêu đề. Hay nói cách khác con ngời muốn cải tạo thế giới khách quan có hiệu quả,
phải nhận thức đợc thế giới đó nhận thức có thể ở trình độ cảm tính chân lý sâu sắc
nhất (nắm đợc bản chất, tính quy luật của thế giới, của sự vật hiện tợng thế giới). Vì
vậy lý luận có vai trò to lớn đối với thực tiễn thể hiện ở ba điểm chủ yếu sau: Lý
luận hớng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, lý luận khoa học là kiêm chỉ nam cho thc tiễn.
Nó giúp cho thực tiễn hoạt động đúng hớng, có hiệu quả, tránh mò mẫu, tự phát. Lý
luận khoa học giúp con ngời xác định đúng đắn nhu cầu, lợi ích, mục đích và tìm
kiếm phơng tiện phù hợp cải tạo có hiệu quả thế giới. Không những thế, lý luận do
nắm đợc bản chất, quy luật cuả thế giới một cách chủ động, sáng tạo nên nó có thể
dự kiến đợc vận động và phát triển của sự vật trong tơng lai từ đó định hớng cho
thực tiễn trong hiện tại, vạch ra những phơng hớng mới cho thực tiễn và lý luận phát
huy vai trò đặc biệt to lớn đối với thực tiễn mỗi ki nó thâm nhập vào quần chúng,
là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Thực tiễn không có lý luận h-
ớng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ thực tiễn là lý luận
suông.
Tóm lại sự tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn theo hai hớng: nếu lý
luận phù hợp với thực tiễn thì nó thúc đẩy thực tiễn phát triển, nếu lý luận phản ánh
sai thực tiễn thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển thực tiễn.
II. ý nghĩa ph ơng ph ơng pháp luận đối với nhận thức và thực tiễn
Lâu này, nói đến đổi mới thờng chúng ta hay bắt đầu từ thời điểm Đại hội VI.
Thật ra, Đại hội VI chỉ là cái mốc lịch sử xác lập nên đờng lối đổi mới của Đảng ta,
còn việc hình thành đờng lối ấy là cả một quá trình. Đầu năm 80 là thời kỳ đặt nền
tảng lý luận cho công cuộc đổi mới, mà Trờng Chinh là ngời đặt viên gạch đầu tiên
cho quá trình đó. Tại sao Trờng Chinh lại đặt ra yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi
mới trớc hết là đổi mới t duy?
Theo ông, không có bớc đổi mới t duy đi trớc thì không có bất cứ một sự đổi
mới naò cả. Đổi mới t duy thực chất là một cuộc giải phóng triệt để mang ý nghĩa
lịch sử. Đổi mới t duy, đặc biệt là đổi mới t duy kinh tế là một cống hiến xuất sắc về
mặt quan điểm lý luận của Trờng Chinh góp phần hình thành đờng lối mới của
Đảng ta tại Đại hội VI. Theo ông, t duy mới về kinh tế là sự vận dụng chủ nghĩa
Mác-Lênin vào hoàn cảnh nớc ta, phù hợp với quy luật khách quan, với trình độ của
nền kinh tế ở mỗi thời kỳ phát triển. Đó là t duy biện chứng khoa học và cách mạng.
Ông cho rằng, đổi mới t duy kinh tế phải nhằm mục tiêu gắn phát triển lực lợng sản
9
Tiểu luận triết học
xuất với xây dựng quan hệ sản xuất, coi đó là nhiệm vụ thờng xuyên, liên tục suốt
thời kỳ quá độ với những hình thức, bớc đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, luôn luôn thúc đẩy lực lợng sản
xuất phát triển.Để hiểu rõ quá trình đổi mới của Đảng ta, chúng ta có thể xem lại
nền kinh tế nớc ta từ năm 1955 đến nay.
1. Thời kỳ trớc đổi mới.
Hợp tác xã hoá ở miền Bắc bắt đầu thực hiện từ năm 1958, đến năm 1960 cơ
kiến cho rằng chúng ra đã có quan hệ sản xuất tiên tiến cần phải kéo lực lợng sản
xuất lên cho nó phù hợp.
Trên cơ sở nhận thức đó, chúng ta mở cuộc vận động cải tiến vòng một, vòng
hai, vận động dân chủ áp dụng đIều lệ mẫu vào các hợp tác xã. Các cuộc vận động
ấy, một mặt thực hiện khoá nhóm, ba khoán cho đội sản xuất, mặt khác lại mở rộng
quy mô hợp tác xã, hoàn thiện chế đọ thống quản. Qua ba lần thực hiện cải tiến
quản lý, tuy có giảm mức độ nhất định những tiêu cực trong các hợp tác xã, nhng
về cơ bản cha khắc phục đợc. Bởi vì những cuộc vận động ấy đa đến sự định hình
chế độ hợp tác xã tập thể.
Từ năm 1965, cả nớc đi vào cuộc chiến đấu giảI phóng và bảo vệ đất nớc.
Miền Bắc vừa là hậu phơng lớn chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, vừa trực tiếp
đánh trả chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Do tác động của chiến tranh và có
nguồn viện trợ không hoàn lại từ bên ngoài, các hợp tác xã lại có thêm sức mạnh t t-
ởng, tâm lý và vật chất để củng cố, những tiêu cực vốn có bên trong cha bộc lộ ra.
Hơn nữa trong đIều kiện chiến tranh, mô hình tổ chức hợp tác xã kiểu tập trung bao
cấp lại tỏ ra có tác dụng. Bởi vì nó có thể huy động tối đa sức ngời, sức của cho
cuộc chiến đấu, thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một ngời, tất cả cho
tiền tuyến, cho chiến thắng. Hợp tác xã còn hỗ trợ, giúp đỡ những gia đình có ngời
đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đảm bảo thực hiện chính sách hậu phơng quân
đội.
Năm 1975, miền Nam đợc hoàn toàn giải phóng, đất nớc thống nhất, cả dân
tộc bắt tay vào khôi phục chiến tranh. Trong giai đoạn này, chẳng những bối cảnh
quốc tế đã có những chuyển biến rất lớn mà bối cảnh trong nớc cũng xuất hiện
nhiều nhân tố mới. Đặc biệt là mô hình kinh tế đang áp dụng ở các nớc xã hội chủ
nghĩa đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết không chỉ với Liên Xô và các nớc Đông Âu mà
cả với Việt Nam. Cuộc đối đầu chiến tranh lạnh đang tới hồi kết thúc nhng Việt
Nam vẫn trong tình trạng vừa có hoà bình vừa có chiến tranh, tự do hóa thơng mại
và đầu t đã lôi kéo hàng loạt quốc gia vào chu trình tăng trởng và phát triển nhng
Việt Nam lại đang bị bao vây kinh tế rất nghiêm trọng.
Những chuyển biến lớn lao đó đòi hỏi phải có định hớng mới cho sự phát
nghề tiểu thủ công, những ngời kinh doanh cá thể trong các ngành thơng mại dịch
vụ.
- Đã phát triển nền kinh tế theo phơng thức tự cung tự cấp, phơng thức đổi
hàng trong khuôn khổ Hội đồng tơng trợ kinh tế, chấp nhận cấm vận và bao vây
kinh tế của các thế lực thù địch. Một nền kinh tế khép kín và bị khép kín nh vậy đã
làm mất đi những khả năng tiềm tàng, những khả năng trong tầm tay của việc sử
dụng và phát triển những lực lợng sản xuất từ hợp tác quốc tế đem lại.Trong giai
đoạn 1976-1985 , mặc dù đã xây dựng đợc 1307 xí nghiệp nhà nớc nhng đó chỉ là
những xí nghiệp 100% vốn nhà nớc , không có đầu t trực tiếp hoặc gián tiếp của nớc
ngoài vào Việt Nam. Nhợc đIểm của những xí nghiệp quốc doanh này là đã đầu t sử
dụng trang thiết bị, công nghệ lạc hậu vài ba chục năm so với các nớc trong khu
vực, và do vậy đã để lại những hậu quả rất khó khăn về mặt hiệu quả đầu t, sản xuất
12
Tiểu luận triết học
kinh doanh của xí nghiệp. Những nguồn vốn này nếu Nhà nớc đầu t vào sửa chữa,
nâng cấp, xây dựng mới các công trình hạ tầng kinh tế kỹ thuật cho nền kinh tế thì
hiệu quả đầu t sẽ cao hơn rất nhiều so với đầu t vào những xí nghiệp quốc doanh
yếu kém.
- Năm 1979 là năm kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam và sau đó là kết
thúc chiến tranh biên giơí phía Bắc. Điều đó cho phép Đảng và Nhà nớc tập trung
hơn vào mặt trận kinh tế. Trong thời gian đó, nền kinh tế đang gặp rất nhiều khó
khăn, việc triển khai Nghị quyết Đại hội IV đang vấp váp và tổn thất trên các mặt.
Sản xuất bị đình trệ, đời sống nhân dân bị giảm sút nhanh và ngày càng gặp nhiều
khó khăn. Điều đó buộc Đảng, Nhà nớc và nhân dân phảI tìm cách tháo gỡ. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá IV ra đời nhằm
đáp ứng yêu cầu tháo gỡ cho sản xuất và đời sống.
- Nghị quyết này trên thực tế là nấc thang mới đầu tiên cho việc đổi mới t duy
kinh tế thể hiện ở sự chấp nhận và có phần khuyến khích kinh tế cá thể, kinh tế t
nhân và quan hệ thị trờng tự do đến một mức độ nhất định trong khi đó vẫn giữ
quan đIểm lâu dài là chế độ công hữu và cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Nhng dù
văn kiện vẫn giữ quan điểm cũ về kinh tế, chủ trơng thúc đẩy cải tạo, hợp tác hoá và
kế hoạch hoá tập trung. Dự thảo đó khi ấy lấy ý kiến đã không đợc đông đảo tổ
chức đảng xem xét và ra văn kiện kết luận về quan đIểm kinh tế làm cơ sở cho việc
tập dự thảo văn kiện lần thứ hai và đợc Đại hội thông qua thành quan điểm chính
thống.
2.Thời kỳ đổi mới.
Đại hội Đảng VI của Đảng đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện về kinh tế xã
hội, nhằm đa đất nớc thoát dần ra khỏi khủng hoảng vào những năm cuối của thập
kỷ 80. Đảng ta đã kiên quyết và kiên trì tiến hành đổi mới. Muốn đổi mới thì dứt
khoát phải từ bỏ cái cũ một cách không thơng tiếc những cái cũ lạc hậu, cái lỗi thời
đã từng làm chúng ta điêu đứng. Trọng tâm của sự đổi mới lúc bấy giờ là đổi mới t
duy, trớc hết là t duy kinh tế, là đổi mới các chính sách kinh tế. Một trong những
nội dung cơ bản trong đờng lối đổi mới của Đảng do Đại hội VI đề ra là xây dựng
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Quán triệt quan điểm đổi mới đó,
Đại hội VII và VIII của Đảng tiếp tục hoàn thiện và cụ thể hoá bằng các chính sách,
cơ chế nhằm kiên trì xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó
kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác trở thành nền tảng
trong nền kinh tế; kinh tế cá thể, tiểu thủ công, kinh tế t bản t nhân chiếm tỷ trọng
đáng kể, kinh tế t bản nhà nớc dới các hình thức khác nhau tồn tại phổ biến và có
vai trò tích cực trong nền kinh tế.
Những nét đổi mới trong đờng lối chính sách phát triển hàng hoá nhiều thành
phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa thể hiện trên các mặt sau: trớc hết, về quan
điểm, coi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có nhiều thành phần và không tồn tại thành
phần nào là phi xã hội chủ nghĩa, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ trớc pháp luật; thứ hai lần đầu tiên các thành phần kinh tế cá thể,
14
Tiểu luận triết học
tiểu chủ, t bản t nhân đợc thừa nhận là một bộ phận trong cơ cấu kinh tế và chiếm tỷ
trọng đáng kể; thứ ba, kinh tế nhà nớc và kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng, kinh
-Hợp tác xã là tổ chức kinh tế, ngời lao động tự nguyện góp vốn, góp sức để
hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau sản xuất kinh doanh, không thể đảm nhận chức năng của
chính quyền và chức năng xã hội của nông thôn.
15
Tiểu luận triết học
-Đổi mới sở hữu thì mới có thể đổi mới căn bản hợp tác xã. Hợp tác xã cổ
phần là phù hợp với đIều kiện kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay.
C.Kết luận
Từ mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn ta có thể rút ra một số kết luận sau:
- Để có lý luận đúng, có chủ trơng chính sách đúng cho hoạt động đổi mới
kinh tế-xã hội ở địa phơng hoặc ở đơn vị công tác nhất thiết phải đảm bảo đợc sự
phù hợp của lý luận, gắn chủ trơng chính sách với thực tiễn, phải sâu sát thực tiễn,
phải quán triệt sâu sắc t tởng của Lênin rằng: quan điểm về đời sống, về thực tiễn
phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức.
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn rút ra đợc nhiều kinh nghiệm đúng đắn t
duy khoa học không giáo điều máy móc. Để khắc phục đợc sự lạc hậu về lý luận, về
chủ trơng chính sách thì nhất thiết lý luận cũng nh chủ trơng chính sách phải thờng
xuyên đợc bổ sung hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn, phải tích cực chống các biểu
hiện của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa do xa rời thực tiễn và chống các biểu hiện của
bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa do tuyệt đối hoá vai trò của thực tiễn và xem thờng vai
trò của thực tiễn.
16