Đề cương ôn tập môn triết học Mác - Lê Nin - Pdf 18

SỰ ra ĐỜi cỦa triẾt hỌc
Cho đến hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Triết học ra đời ở cả
phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian, đó là vào khoảng thế kỷ
VIII – VI trước Công nguyên, tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời cổ
đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp…
Khi ấy, trình độ nhận thức của con người đã đạt đạt tới mức trừu tượng hoá, khái
quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, lý luận thay cho những tri
thức tản mạn, rời rạc, huyền thoại… Và đây chính là nguồn gốc nhận thức của sự
hình thành triết học.
Mặc khác, triết học ra đời có nguồn gốc xã hội trực tiếp là khi trình độ của nền sản
xuất phát triển tới mức có sự phân chia lao động của con người ra làm đôi, một đằng
này là lao động chân tay và một đằng kia là lao động trí óc, gắn với sự phân chia
giữa các giai tầng trong xã hội. Đó cũng là khi có một bộ phận người đứng ở vị trí và
vai trò quản lý xã hội, hoặc tập trung cho lao động trí óc. Họ có điều kiện suy nghĩ và
chuyên tâm vào các hoạt động nhận thức, khám phá thế giới tự nhiên, xã hội và tư
duy nhằm “giải thích thế giới” và “cải tạo thế giới”, để phục vụ các lợi ích trên con
đường phát triển của tầng lớp giai cấp mình.
Sự ra đời của triết học đánh dấu bước phát triển vượt bậc của tư duy con người, làm
một cuộc cách mạng vĩ đại trong nhận thức với việc cung cấp cho con người một
khoa học hoàn bị về thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận để nhận
thức, giải thích và cải tạo thế giới. Nó phản ánh bản chất của hệ thống thế giới các
sự vật - hiện tượng – quá trình, đồng thời chỉ ra vị trí và vai trò của con người trong
thế giới đó.
Với tư cách là khoa học của cái chỉnh thế và cái chung nhất, triết học đã thu nhận về
mình tất cả các ngành khoa đã phát khởi trước nó để trở thành “khoa học của mọi
khoa học”. Từ đây, triết học và khoa học thống nhất làm một, và trong một giai đoạn
lịch sử giới hạn của sự bùng nổ nhận thức, các nhà khoa học không thể không trở
thành nhà triết học và ngược lại – tuy “hai” mà “một”, tuy “một” mà “hai”.
sưu tầm internet
TL
Vấn đề cơ bản của triết học !!!!!!!

với một hay một số chất cụ thể, vẫn còn những kết luận mang nặng tính chất trực quan.
Hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật thể hiện khá rõ ở các nhà triết học từ thế
kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Tuy những quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình có tính
chất kế thừa từ những quan điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác nhưng nó có sự phát
triển hơn do cơ học cổ điển thời kỳ này đạt được những thành tựu rực rỡ. Các nhà triết
học thời kỳ này sử dụng phương pháp siêu hình để nhìn nhận thế giới. Do cách nhìn nhận
đổi tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi chỉnh thể khác và giữa các mặt
đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối, coi đối tượng nghiên cứu ở trạng thái tĩnh tại, nếu
có biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân của sự biến đổi đó nằm
ở ngoài đối tượng nên các nhà duy vật siêu hình “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt
mà không thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự
vật chứ không thấy sự phát sinh và tiêu vong của sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh
của sư vật mà quên mất sự vận động của sự vật ấy”. Đến những năm 40 của thế kỷ XIX,
chủ nghĩa duy vật biện chứng đã ra đời mà C.Mác và Ăngghen là những người xây dựng
và Lênin là người hoàn thiện và bổ sung. Với cách nhìn nhận đối tượng ở trong mối quan
hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau và nhìn nhận đối tượng ở trạng thái vận
động biến đổi nằm trong khuynh hướng chung là phát triển, là quá trình biến đổi về chất
của sự vật và hiện tượng mà nguồn gốc là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập để giải quyết
mâu thuẫn nội tại của chúng, các nhà duy vật biện chứng đã phản ánh hiện thực đúng như
nó tồn tại và phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người
nhận thức và cải tạo thế giới. Đối lập với các nhà duy vật là các nhà triết học theo trường
phái duy tâm. Chủ nghĩa duy tâm chia thành hai phái: chủ nghĩa duy tâm khách quan và
chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Cả hai phái duy tâm đều thừa nhận tính thứ nhất của ý thức
và coi ý thức sản sinh ra giới tự nhiên, thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới. Tuy nhiên, phái
duy tâm chủ quan cho rằng mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp của những cảm giác cá
nhân, của chủ thể, còn phái duy tâm khách quan lại cho rằng ý thức là thứ tinh thần khách
quan có trước và tồn tại độc lập với con người mang những tên gọi khác nhau như ý niệm
tuyệt đối, lý tính thế giới. Đó là sự nhận thức sai lầm do cách xem xét phiến diện một
mặt, tuyệt đối hóa, thần thành hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức
mang tính biện chứng của con người. Đồng thời, chủ nghĩa duy tâm còn được ra đời do

Triết học là gì?
TUESDAY, 1. JULY 2008, 09:17:32
TRIẾT HỌC
Câu 1: Triết học là gì? Trình bày nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của triết học.
Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học. Trong quan
điểm khác nhau đó vẫn có những quan điểm chung. Đó là, tất cả các hệ thống triết học
đều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó,
tìm ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con
người. Tóm lại: Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về
thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
Có những định nghĩa khác như: Triết học là hệ thống những quan điểm, quan niệm chung
của con người về thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy) và về vai trò của con người trong
thế giới đó.
- Quan điểm chung của con người về thế giới đó là vấn đề thế giới quan triết học hay còn
gọi là bản thế luận triết học.
- Vai trò của con người trong thế giới đó là vấn đề nhận thức luận triết học vì con người
có nhận thức được thế giới thì mới có thể cải tạo được thế giới và mới làm chủ được bản
thân mình (phương pháp luận)
Như vậy triết học bao gồm cả hai vấn đề thế giới quan và phương pháp luận hay bản thế
luận và nhận thức luận.
+ Nguồn gốc nhận thức: Đứng trước thế giới rộng lớn bao la, các sự vật, hiện tượng
phong phú, đang dạng, muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu phải nhận thức thế
giới ấy phải giải đáp các vấn đề, thế giới ấy từ đâu ra, nó tồn tại và phát triển như thế nào,
các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luận nào không? Trả lời được các câu
hỏi ấy chính là triết học.
Mặt khác triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính chất khái quát và tính trừu tượng
cao. Do đó triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư truy trừu tượng phát
triển ở mức độ nhất định.
Nguồn gốc xã hội:
Triết học ra đời gắn liền với xã hội có giai cấp. xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội cộng sản

- Có sự thay đổi đối tượng nghiên cứu của triết học trong lịch sử →do điều
kiện kinh tế xã hội
3. Vấn đề cơ bản của triết học:
- Mối quan hệ VC-YT, tồn tại-tư duy.
4. Các trường phái TH trong lịch sử:
- TH DV: nhất nguyên luận
- TH DT: nhất nguyên luận
- Nhị nguyên luận: dung hòa giữa DV và DT
- Bất khả tri luận: đặc thù, con người có khả năng nhận thức về hiện thực
nhưng chỉ mang tính tương đối. Ngtắc hoài nghi ->có ý nghĩa trong NCKH.
- TH tôn giáo: đặc thù, chủ yếu ngcứu tâm linh, gắn liền với tôn giáo.
5. Các hình thức lịch sử của triết học duy vật: 3 hình thức:
- Cổ đại (triết học tự phát, ngây thơ cổ đại)
- Siêu hình thế kỷ 3 đến 17: ảnh huởng, phụ thuộc phương pháp luận
Siêu hình thế kỷ 17 đến 18: thành tựu, hạn chế
→ hạn chế +thành tựu: xét 3 phương diện:
+ thế giới quan→duy vật
+ phương pháp luận →siêu hình
+ nhân sinh quan→hệ tư tưởng của giai cấp tư sản
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng: (triết học Mác-xuất hiện những năm 40
TK 19)
II. Chương 2. Triết học phương Đông –
không thi
III. Chương 3. Triết học phương Tây
1. Triết học Hy Lạp- La Mã
- TH Hy Lạp cổ đại pt vào TK 6 TCN, mang tính DV tự phát và biện chứng
sơ khai.
- Nhà nước:
+quân chủ
+dân chủ

thức các đối lập (biện chứng)
->Sự vận động không ngừng của TG do quy luật KQ.
Pithago: ->DT KQ, tư duy KH pha trộn ảo tưởng tôn giáo huyền bí
->Quan tâm đến bản chất và khởi nguyên của TG, đó là “con số”.
Xôcrát: ->DT, thầy Platon.
->Không nghiên cứu tự nhiên vì đã được thần thánh an bài.
->Nghiên cứu nhân bản, con người và đạo đức.
->TH không có gì khác hơn là sự nhận thức của con người và chính bản
thân mình (“con người hãy nhận thức chính mình”)
->Cái thiện phổ biến là cơ sở của đạo đức.
->PP Xôcrát 4 gđ: Mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, xác định.
2. Triết học thời kỳ phục hưng cận đại
- Phục hưng: TK15-16
+khôi phục lại những giá trị văn hóa Hy lạp cổ đại
+quá độ từ xã hội PK →TBCN (tiền TB)
+hình thành hệ tư tưởng của gc TS.
- Cận đại : TK17-18
+kinh tế xã hội: hình thành phát triển CNTB
+cơ sở: cuộc CM công nghiệp, thông qua các cuộc CM TS
+TH pt rất mạnh (cổ điển Anh - DV, cổ điển Pháp – DV, TH DT pp tư duy
siêu hình)
+đặc điểm triết học: triết học tự nhiên: sự phát triển các khoa học tự
nhiên, sự phân ngành các khoa học cụ thể tách khỏi triết học,….
+Đều p.ánh hệ tư tưởng của gc TS để tiến cuộc CM TS
+Cách mạng tư sản Pháp = cách mạng nhân quyền đương quyền
- Các nhà triết học khai sáng Pháp (thế kỷ 17-18)
+Didrot, Holbach, Rousseau
+những nhà TH XH, ngcứu về chế độ dân chủ TS, bàn về qlực NN của gc
TS
+tư tưởng TH pháp quyền, nói đến NN pháp quyền của gc TS trong quá

loccoctu:
Về nguồn gốc triết học Việt Nam
TS. Trần Văn Khánh
Tạp chí Triết học
Theo chúng tôi, cần phải khẳng định rằng, Việt Nam có triết học. Về nguồn
gốc nhận thức, ngay từ thời kỳ Đông Sơn, nhận thức của người Việt đã đạt
đến trình độ tư duy trừu tượng và thực tế, đã có sự hình thành những mầm
mống của triết học. Nguồn gốc xã hội của triết học Việt Nam có nét đặc thù
riêng - không gắn với sự phân chia giai cấp trong xã hội, mà chủ yếu gắn với
công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giành và giữ vững độc lập của dân
tộc. Bắt đầu từ khi nước ta bước vào thời kỳ xây dựng quốc gia độc lập (thế
kỷ X), những tư tưởng triết học về xã hội, về thực tiễn giữ vai trò trung tâm
và xuyên suốt cho đến sau này. Triết học Việt Nam tiếp tục được kế thừa, bổ
sung, phát triển và đặc biệt đã tỏa sáng rực rỡ trong tư tưởng triết học của
Hồ Chí Minh.
Mặc dù một số tài liệu cả trong nước và ở nước ngoài đã nói về triết học
Việt Nam(1), song một câu hỏi mà cho đến nay vẫn chưa có sự trả lời thống
nhất trong giới lý luận - đó là: Việt Nam có triết học không? Nếu có thì đó là
triết học gì? Nguồn gốc ra đời, sự tồn tại và phát triển cũng như vai trò của
nó đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của dân tộc ta như thế
nào?
Trả lời câu hỏi trên có ý nghĩa rất quan trọng: Bởi lẽ, đó là sự hiểu biết
những thông điệp quan trọng nhất, hiểu biết cái thuộc về cội nguồn của sức
mạnh, về vật chất và tinh thần mà nhờ nó, dân tộc ta trường tồn và phát
triển. không phải ngẫu nhiên mà hiện nay, các nước, các đối tác nước ngoài
khi quan hệ làm ăn với nước ta lại thường nói nhiều về triết lý trong kinh
doanh, triết lý của sự phát triển… Trong quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá
hiện nay, cần tìm ra những thông điệp ấy, tìm cái thuộc về "linh hồn" của
toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc để khẳng định mình cũng như
tạo nội lực trong hội nhập và phát triển!

người về tự nhiên, xã hội và tư duy chỉ ra đời khi nhận thức của con người
đạt tới một giới hạn nhất định. Đó là ở trình độ nhận thức lý luận. Điều đó
cũng có nghĩa là khi ngôn ngữ đã phát triển tới giai đoạn có chữ viết.
Ở Việt Nam, theo các nhà khoa học, cách nay bốn nghìn năm, vào thời kỳ
Tiền Đông Sơn, thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, mà trước
hết là hoạt động sản xuất, nhận thức của cư dân người Việt đã đạt đến trình
độ tư duy trừu tượng. Những nhận thức này được biểu hiện thông qua kỹ
thuật chế tác công cụ lao động bằng đá và bằng kim loại. "Do đó, chúng ta
phải đánh giá cao hoạt động tư duy trừu tượng của cư dân Tiền Đông Sơn,
mà trong một chừng mực nào đó, có thể gọi là tư duy khoa học của họ.
Chính thứ tư duy chính xác đó được phát triển nhờ hoạt động sản xuất,
nhưng nó lại có tác động ngược lại một cách tích cực với kỹ thuật sản
xuất"(2). Theo suy đoán, từ thời kỳ Đông Sơn về sau, đã hình thành các
huyền thoại, hơn nữa có quan điểm còn cho rằng thời kỳ này cũng bắt đầu
xuất hiện một hệ thống thần thoại khá ổn định (3). Như vậy, ở thời kỳ Đông
Sơn, nước ta đã hình thành và phát triển những mầm mống của triết học,
"tiền triết học" hay nói như Nguyễn Đăng Thục là "ngụ ý triết học", "là triết
học bình dân"(4). Những mầm mống của triết học ấy chính là nguồn vật liệu
phong phú mà con người Việt Nam trực tiếp tích luỹ được từ hoạt động thực
tiễn của mình để sau đó, khi có chữ viết, cùng với việc kế thừa có phê phán
và chọn lọc những tư tưởng triết học Trung Quốc và triết học Ấn Độ, cũng
như triết học phương Tây về sau, nền triết học Việt Nam đã tồn tại và phát
triển, gắn với thực tiễn khắc nghiệt dựng nước và giữ nước của dân tộc và do
đó, đã tạo nên những sắc thái riêng của mình.
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, nền sản xuất nước ta cho tới nay vẫn là
một nền sản xuất nhỏ, có nguồn gốc xa xưa từ chế độ công xã nông thôn kéo
dài hàng ngàn năm và sự ảnh hưởng tiêu cực của nó tới nhận thức của dân
tộc ta là không nhỏ. Những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thói quen cục bộ, địa
phương, tư tưởng đẳng cấp, địa vị, vô chính phủ, mê tín dị đoan cùng những
phong tục, tập quán lạc hậu khác chính là vật cản đối với nhận thức lý luận.

tưởng triết học về dân, về con người, về dân tộc… hay nói chung hơn,
những tư tưởng triết học về xã hội, về thực tiễn giữ vai trò là trung tâm của
nó và xuyên suốt về sau.
Triết học Việt Nam tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển gắn liền với
hoạt động thực tiễn dựng nước và giữ nước của dân tộc và đỉnh cao của sự
phát triển ấy được toả sáng rực rỡ trong tư tưởng triết học của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. "Chính những tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh là kim chỉ nam
chỉ đạo hệ thống những luận điểm cách mạng nổi tiếng của Người. Nó quyết
định tính đúng đắn của đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt
Nam do Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vạch ra, là một trong những nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam"(7).
Như vậy, xét về nguồn gốc ra đời, triết học Việt Nam hoàn toàn có cơ sở
nhận thức và xã hội của nó. Việc tiếp tục tìm hiểu khái quát để làm rõ những
nội dung phong phú, sâu sắc, trong tính chỉnh thể của nó, thiết nghĩ, đó là
trách nhiệm cấp bách của các nhà lý luận.
Câu hỏi này theo tớ hiểu thì phân tích công cuộc đổi mới của nước ta từ năm 1986 đến nay theo
góc độ triết học. Tớ thử phân tích xem sao nhé!
Trước hết phải phân tích được mối quan hệ giữa vật chất và ý thức đã
Theo định nghĩa vật chất của Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quanđược đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác trong chúng ta chép lại,
chụp lai, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Vậy vật chất là những gì có thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con
người và khi tác động vào giác quan của con người sinh ra cảm giác. Điều đó có nghĩa là, đòi hỏi
con người về mặt nguyên tắc chung phải thừa nhận sự tồn tại của mọi đối tượng vật chất trong
hoạt động nhận thức,v.v…Do đó, về nguuyên tắc không thể có đốí tượng vật chất con người
không thể biết được, mà chỉ có những đối tượng vật chtấ con người chưa nhân thức được.Vật
chất tồn tại khách quan là tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng vật chất cảm tính cụ thể , và
khi tác động vào giác quan của con người thì sinh ra cảm giác.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những
nội dung sau:

nhập bình quân và giảm nghèo đói (như đã bàn ở trên), các thành tựu hay thử thách của nền
kinh tế có thể tóm tắt như sau:
Việt Nam đã thực hiện được nhanh chóng:
•Cuộc cải cách giá cả, bao gồm: giá cả hàng hóa, giá lao động (lương bổng), giá của
tiền nội tệ (tỉ giá), hay giá tư bản (lãi suất).
•Ổn định được nền kinh tế vĩ mô.
•Nỗ lực mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
•Thành công trong giảm tỷ lệ nghèo đói.
Các cải cách cơ cấu tương đối chậm chạp hơn như trong:
•Hệ thống pháp lý.
•Cải cách hành chính.
•Cải cách hệ thống thuế.
•Tự do hóa thương mại trong nước cũng như thương mại quốc tế.
Cải cách chậm trong:
•Cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh.
•Hệ thống ngân hàng quốc doanh.
•Xây dựng thể chế (institutional building) và điều hành vĩ mô
Về con người cũng như tổ chức chủ sở hữu trong hoạt động kinh tế, về kinh tế tư nhân , cá thể ,
tiểu thủ công, tư bản, về việc có nên gộp cả các loại hình hoạt động kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh
tế tư bản trong chung một phạm trù là kinh tế tư nhân không, về việc có tư bản nhà nước không,
về việc có nên xem hoạt động kinh tế có sự tham gia vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức là
kinh tế hỗn hợp chủ yếu của nước ta không, về người cộng sản có được làm kinh tế tư nhân tư
bản chủ nghĩa không Tất cả các loại hình kinh tế ấy không phải chỉ có tính khách quan, tự phát
theo lợi nhuận mà còn có năng lực chủ quan và ý thức xác định về mặt kinh tế do người lao động
làm chủ, vì lợi ích chân chính của nhân dân, của toàn dân tộc, vì đối lập dân tộc, chủ quyền quốc
gia, vì chủ nghĩa xã hội Những nhận thức và khái niệm được hình thành và chi phối con người
trong hoạt động kinh tế thị trường như: kinh tế là lạnh lùng tiền trao cháo múc, thị trường là chiến
trường không tình không nghĩa, chẳng có ý thức hệ nào mà chỉ có thời cơ, thách thức , được ăn
cả ngã về không Từ đó nhận thức chúng ta đã đi ngược với sự phát triển kinh tế. Kinh tế có
được là nhờ sức lao động nhưng thực tế, một bộ phận dựa vào quyền lực để làm giàu. Ngay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status