Đề cương ôn thi môn triết học mác lê nin phần chủ nghĩa duy vật biện chứng phần 1 - Pdf 13

Nội dung 1: Đề ra đường lối đổi mới, trong Văn kiện ĐH VI, Đảng coi
việc “phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan” là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu.
Phân tích cơ sở triết học và thực tiễn của bài học trên và nêu ý nghĩa của
nó trong thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay.
Trả lời:
Vào những năm 80 của thế kỳ 20, tình hình thế giới và trong nước có diễn
biến hết sức phức tạp, hệ thống xã hội chủ nghĩa và các đảng cộng sản đang rơi
vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và toàn diện. Trước tình hình đó, việc Đảng
Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới là yêu cầu rất bức thiết đối với cách
mạng, quyết định sự sống còn của Đảng và thắng lợi cách mạng Việt Nam. Với
thái độ “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội
VI của Đảng đã đánh giá thỏa đáng, đúng mức cục diện cách mạng nước ta
trong thời gian 5 năm (1981-1985) về cả hai mặt thành tích, thắng lợi và yếu
kém, sai lầm cùng những nguyên nhân của nó. Từ thực tiễn cách mạng của nhân
dân ta, Đại hội đã rút ra bài học kinh nghiệm quan trọng là: Đảng phải luôn luôn
xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Để rút ra bài học kinh nghiệm quý báu đó, Đảng ta đã dựa trên cơ sở triết
học là chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ vật chất, ý thức. Theo quan điểm
triết học Mác Lê-nin vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Như vậy có thể thấy: Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm
trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật
chất thường dùng trong các lỉnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày .
Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”, đó củng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là
vật chất và cái gì không phải là vật chất.
Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác” . điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất ) là
cái có trước ( tính thứ nhất) . còn “cảm giác” , (ý thức ) là cái có sau ( tinh thứ

hoặc tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đặc trưng vật chất. Ngược lại nếu ý
thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù
hợp với quy luật khách quan do đó sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất.
Tuy vậy sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất
định chứ nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất
được. Và suy cho cùng dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh
thế giới vật chất. Biểu hiện của mối quan hệ giữa ý thức và vật chất trong đời
sống xã hội là quan hệ tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội
quyết định ý thức xã hội đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác
động trở lại tồn tại xã hội . Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là
cơ sở để nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn,
khách thể và chủ thể, vấn đề chân lý
Quan điểm khách quan: Nguyên tắc khách quan trong xem xét là hệ quả tất
yếu của quan điểm DVBC về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vật chất
quyết định ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trong nhận thức và hành động
phải đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất
phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ
bản thân SVHT, từ thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý thức chủ
quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không lấy ý chí áp
đặt thực tế. Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật,
tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, không trung thực. Nói như vậy
không có nghĩa là quan điểm khách quan coi nhẹ tính năng động của ý thức.
Quan điểm khách quan không những không loại trừ mà còn đòi hỏi phát huy
tính năng động và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật. Bởi vì
quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động
chủ quan trong việc tìm ra những con đường, những biện pháp để từng bước
thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật. Điều đó phân biệt quan điểm khách quan
với chủ nghĩa khách quan. Nguyên tắc khách quan có ý nghĩa ngăn ngừa tư duy
khỏi những sai lầm do việc chủ thể nhận thức đưa vào sự vật (khách thể nhận

trong bố trí cơ cấu kinh tế, nhất là bố trí đầu tư và xây dựng cơ bản của 5 năm
1976-1980, đã để lại hậu quả nặng nề. Song, nhân dân ta anh dũng phấn đấu,
khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đã đạt được những thành tựu quan trọng
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong sản xuất nông nghiệp và
công nghiệp, đã ngăn chặn được đà giảm sút của những năm 1979-1980, từ năm
1981 đến nay, đạt được nhiều tiến bộ rõ rệt (nông nghiệp tăng bình quân hằng
năm 4,9%, Sản xuất công nghiệp tăng bình quân hằng năm 9,5%, Thu nhập quốc
dân tăng bình quân hằng năm 6,4%) Về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, trong
5 năm 1981-1985, đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối lớn và hàng
nghìn công trình vừa và nhỏ, trong đó có một số cơ sở quan trọng về điện, dầu
khí, ximăng, cơ khí, dệt, đường, thuỷ lợi, giao thông Công cuộc cải tạo xã hội
chủ nghĩa đã tiến thêm một bước, đại bộ phận nông dân Nam Bộ đi vào con
đường sản xuất tập thể, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên có tiến bộ trong sự
nghiệp xây dựng cuộc sống mới Chăm lo đời sống của nhân dân được chăm lo
dù còn nhiều khó khăn. Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, văn
học, nghệ thuật phát triển và có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng
nền văn hoá mới, con người mới. Các hoạt động khoa học, kỹ thuật được triển
khai, góp phần thúc đẩy sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp. Cuộc chiến đấu
bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và làm nghĩa vụ quốc tế của nhân dân
và các lực lượng vũ trang ta đã giành thêm những thắng lợi to lớn. Công cuộc
xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt được những kết quả đáng kể trên một số
mặt: củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, củng cố cơ sở chính trị ở những địa
bàn xung yếu, xây dựng lực lượng dự bị. Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng,
huy động lực lượng quân đội tham gia xây dựng kinh tế đã đạt một số kết quả,
nhất là xây dựng các công trình công nghiệp và giao thông. Tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Campuchia, củng cố liên minh chiến lược với
hai nước láng giềng anh em, cùng nhau tăng cường thế và lực của cách mạng ở
cả ba nước. Tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô,
Lào, Campuchia, với các nước anh em khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên có nhiều khó khăn: Về kinh tế: Sản xuất tăng chậm so với khả

xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực
nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu đúng đắn
của Đảng" là một bài học kinh nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn Cách mạng nước
ta. Đó chính là biểu hiện coi quan điểm vật chất, các quy luật khách quan có vai
trò quyết định được ý thức đối với nhận thức.
Đảng ta thừa nhận đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật
khách quan, muốn nhanh chống thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều
kiện mới ở chặng đường đầu tiên. Chúng ta đã có những thành kiến không đúng
trên thực tế chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang
tồn tại khách quan (quy luật cung cầu, cạnh tranh giá trị) do đó không chú ý vận
dụng chúng vào việc chế định (đề ra) các chủ trương, chính sách phát triển kinh
tế - xã hội làm cho nền kinh tế trì trệ, khủng hoảng nghiêm trọng.
Để khắc phục những khuyết điểm, làm chuyển biến tình hình, Đảng ta
trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy lý luận trên cơ sở xuất phát từ
điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Phải nhận thức đúng đắn và hành
động phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó có các quy luật mang
tính đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ sự phát triển
chung của toàn xã hội. Tiêu chuẩn đánh giá sự vận đụng đúng đắn các quy luật
thông qua chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển,
lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước ổn
định và nâng cao, con người mới xã hội chủ nghĩa ngày càng hình thành rõ nét,
xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố.
Đó là điều kiện đánh giá và cũng là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng. Mọi chủ trương, chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận
dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sửa đổi hoặc bãi bỏ.
Câu 2: Trong “bút ký triết học” của V.I Lê Nin viết “Phát triển là cuộc
đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Đồng chí hãy phân tích cơ sở triết học của
luận điểm trên và nêu ý nghĩa của vấn đề này đối với việc thực hiện các chế
độ tự phê bình và phê bình của Đảng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn
Đảng hiện nay ?

thêm”. Nội dung của quy luật chỉ ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất, mâu thuẫn là sự tác động qua lại của các mặt đối lập. Chủ nghĩa
Mác cho rằng bất kỳ một sự vật nào cũng chứa đựng mâu thuẫn. Không ở đâu là
không có mâu thuẫn và không bao giờ không có mâu thuẫn. Nhìn sự vật mà chỉ
thấy sự đồng nhất, đồng nhất tuyệt đối là lối nhìn hời hợt, nông cạn, bề ngoài.
Mâu thuẫn là một khái niệm để chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của các
mặt đối lập. Các mặt đối lập là những bộ phận, những nhân tố có thuộc tính hoặc
có khuynh hướng vận động trái ngược nhau cùng tồn tại trong một sự vật, tác
động qua lại với nhau tạo nên sự vận động và biến đổi của sự vật đó. Sự tồn tại
các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật. Tất cả các
sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau.
Chẳng hạn, trong sinh vật có đồng hóa và dị hóa, trong kinh tế thị trường có
cung và cầu, v.v Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn
nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách
khách quan và phổ biến cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Mâu thuẫn biện
chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát
triển của nhận thức.
Mâu thuẫn có tính khách quan và phổ biến, nên mâu thuẫn có tính đa dạng
và phức tạp. Mâu thuẫn trong mỗi sự vật và trong các lĩnh vực khác nhau cũng
khác nhau. Trong mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một mâu thuẫn, mà
có nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn lại có đặc điểm,
có vai trò tác động khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật. Vì
vậy, cần phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một cách cụ
thể.
Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó, hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa
đấu tranh với nhau. Mâu thuẫn là sự thống nhất của hai mặt đối lập. Sự thống
nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các
mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này là tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của mặt
kia.
Trong quy luật mâu thuẫn, khái niệm “thống nhất” và “đồng nhất” thường

thế.
Chẳng hạn, bất kỳ một sinh vật nào cũng chỉ có thể tồn tại và phát triển
được khi có sự tác động qua lại giữa đồng hóa và dị hóa. Sự tiến hóa của các
giống loài không thể có được, nếu không có sự tác động qua lại giữa di truyền
và biến dị. Tư tưởng, nhận thức của con người không thể phát triển, nếu không
có sự cọ sát thường xuyên với thực tiễn, không có sự tranh luận để làm rõ đúng
sai
V.I.Lênin viết : “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối
lập”. Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có sự
đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể
tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ
cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do
đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.
Nếu mâu thuẫn không được giải quyết (các mặt đối lập không chuyển
hóa), thì không có sự phát triển. Chuyển hóa của các mặt đối lập là tất yếu, là kết
quả của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Do sự đa dạng của thế giới, nên các
hình thức chuyển hóa cũng rất đa dạng: có thể hai mặt đối lập chuyển hóa lẫn
nhau và cũng có thể chuyển hóa lên hình thức cao hơn
Sự vận động và phát triển của sự vật thể hiện trong sự thống nhất biện
chứng giữa hai mặt: thống nhất của các mặt đối lập và đấu tranh của hai mặt đối
lập, trong đó: thống nhất của các mặt đối lập là tạm thời, tương đối; còn đấu
tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. Tính tuyệt đối của đấu tranh giữa các mặt
đối lập làm cho sự vận động và phát triển của sự vật là sự tự thân và diễn ra liên
tục. Tính tương đối của thống nhất giữa các mặt đối lập làm cho thế giới vật
chất phân hóa thành các bộ phận, các sự vật đa dạng, phức tạp, gián đoạn.
Trong thực tế do có sự đồng nhất một cách sai lầm giữa đấu tranh với va
chạm đụng độ, rối loạn, mất ổn định, bè phái mất đoàn kết nên người ta ác cảm,
không có cảm tình với đấu tranh. V.I.Lênin khẳng định : “không thể đồng nhất
sự đấu tranh với các hiện tượng bè phái mất đoàn kết, vì các hiện tượng này

cách cụ thể. Việc giải quyết mâu thuẫn chỉ bằng con đường đấu tranh giữa các
mặt đối lập và với những điều kiện chín muồi.
Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn,
không được điều hoà mâu thuẫn. Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù
hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện
và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn. Hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi sự vật
là quá trình giải quyết mâu thuẫn của nó. Muốn vậy, phải xác định đúng trạng
thái chín muồi của mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã
chín muồi. Cho nên, chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội
vàng khi chưa có đủ điều kiện; cũng không để cho việc mâu thuẫn và tìm ra
phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ
chức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn một cách thực tế.
Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình
thức cụ thể rất khác nhau). Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải
quyết khác nhau. Điều đó tuỳ thuộc vào bản chất của mâu thuẫn, vào những điều
kiện cụ thể. Phải có biện pháp giải quyết thích hợp với từng mâu thuẫn. Phải tìm
ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng
loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.
Vận dụng vấn đề này vào thực tiễn đơn vị mình, chúng tôi nhận thấy nó có
ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn to lớn, không chỉ giúp lãnh đạo, chỉ huy
nhận thức, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong tập thể đơn vị, tạo
sự thống nhất và động lực mạnh mẽ để phát triển mà còn góp phần xây dựng tổ
chức Đảng, tổ chức chỉ huy trong đơn vị vững mạnh, toàn diện. Đặc biệt là đối
với chế độ phê bình và tự phê bình trong tập thể đơn vị và mỗi cá nhân. Bởi vì,
tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tổng kết
thực tiễn, phát triển lý luận, xây dựng đường lối chính sách phù hợp, tổ chức
thực hiện hiệu quả, khắc phục sai lầm, khuyết điểm, phát huy ưu điểm để Đảng
thật sự là đội tiền phong cách mạng chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và toàn dân tộc. Tự phê bình và phê bình trong sinh họat đảng là quy
luật xây dựng, phát triển đảng trong sạch, vững mạnh.

hành động để đơn vị phát triển đi lên. Bản thân những cán bộ lãnh đạo, người
đứng đầu đơn vị như chúng tôi cần gương mẫu tự phê bình và phê bình, thẳng
thắn nhìn nhận thiếu sót, khuyết điểm, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của
cấp dưới và tích cực sửa chữa, rèn luyện bản thân, để làm tròn trách nhiệm đối
với tập thể đơn vị, đáp ứng sự tin tưởng và tín nhiệm của đơn vị.
Trong mỗi sự vật hiện tượng luôn tồn tại những mật đối lập,chúng
tồn tại và thống nhất với nhau tạo nên cơ sở tồn tại cho sự vật đó,biểu hiện
tính ổn định tương đối cho sự vật đó.Các mặt đối lập luôn tác động qua lại
với nhau và sự tác động qua
lại giữa chúng tạo thành mâu thuẫn biện chứng
của sự vật. Các mặt đối lập này đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau
dể tạo thành sự vật mới hơn . Cứ nh- vậy các sự vật , hiên tượng trong thế
giới khách quan thường xuyên biến đổi và phát triển không ngõng . Vì vậy
mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực phát triển của mọi quá
trình phát triển.
Mâu thuãn bao giê cũng được giải quyết bằng hình thức đấu
tranh.Tuy nhiên phải xác dịnh điều
kiện lịch sử cụ thể để sử dụng hình thức
đấu tranh cho phù hợp phù hợp trong từng vô việc cụ thể,từng mâu thuẫn
cụ thể.
Nội dung 3 : Đề ra đường lối đổi mới, trong Văn kiện ĐH VI, Đảng coi
việc “phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan” là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu.
Dựa vào mối quan hệ giữa vật chất và ý thức phân tích bài học trên và nêu ý
nghĩa của nó trong thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay.
Việc vận dụng những quan điểm của triết học trong xác định đường lối của
mỗi chính đảng, mỗi quốc gia dân tộc là điều rất quan trọng ; việc đề ra đường
lối đó nếu xuất phát từ thực tiễn khách quan, phù hợp với thực tiễn khách quan
thì đó là đường lối đúng đắn, giúp cho chính đảng đó, quốc gia, dân tộc đó phát
triển và ngược lại. Ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng

lệ thuộc vào cảm giác” . điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất ) là
cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (tính thứ hai )
và nó tồn tại không lệ thuộc vào ý thức con người.
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,đươc
cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại, phản ánh”.Điều đó nói lên “thực tại
khách quan” (vật chất) được biểu hiên thông qua các dạng cụ thể bằng “cảm
giác” (ý thức) con người có thể nhận thức được . Và “thực tại khách quan” (vật
chất) chính là nguồn gốc nội dung của “cảm giác” (ý thức).
Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng, vô tận luôn vận động
và phát triển không ngừng, nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa
học đi nghiên cứu thế giới vật chất, tim ra những kết cấu mới, những thuộc tính
mới và những qui luật hoạt động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng
vật chất của nhân loại.
Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản
phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội. Chủ nghĩa duy vật biên
chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông
qua hoạt động thực tiển, nên bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là
nội dung của ý thức là do thế giới khách quan qui định , nhưng ý thức là hình
ảnh chủ quan , là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý , vật chất
như chủ nghĩa duy vật bình thường quan niệm.
Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan , củng có
nghĩa là ý thức là sự phản ánh tư giác , sáng tạo thế giới .
Tính năng động sáng tạo của ý thức thể hiện ở việc con người thu nhận
thông tin, cải biến thông tin trên cơ sở cái đã có, ý thức sẽ tạo ra tri thức mới về
vật chất. Ý thức có thể tiên đoán, tiên liệu tương lai, có thể tạo ra những ảo
tưởng, những huyền thoại, những giả thiết khoa học …. Ý thức là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, song

hoại sự phát triển bình thường của sự vật .
Vai trò của ý thức là ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động của con người, hình
thành mục tiêu , kế hoạch , ý trí biện pháp hoạt động của từng người . Cho nên
trong điều kiên khách quan nhất định ý thức – tư tưởng trở thành nhân tố quan
trọng có tác dụng quyết định làm cho con người hoạt động đúng hay sai, thành
công hay thất bại.
Sức mạnh của ý thức con người không phải ở trổ tách rời điều kiện vật
chất thoát li điều kiện khách quan mà là biết dựa vào điều kiện vật chất đã có
phản ánh đúng qui luật khách quan để cải tạo thế giới một cách chủ động sáng
tạo và có hiệu quả . “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan
mà còn tạo ra thế giới khách quan” (Lênin).
Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác
xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách
quan , lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng
thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của
con người trong việc nhân thức ,tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan
trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.
Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của
ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách
quan, xa rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất.
Ở nước ta, trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng
ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong
việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu
kinh tế ;về việc sử dụng các thành phần kinh tế ….
Trong những năm 1976-1980 trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh
công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết đó là lực lượng sản
xuất còn nhỏ bé , chưa phát triển , còn chủ yếu là sản xuất nhỏ , lạc hậu , kinh tế
hàng hoá chưa phát triển . Chúng ta chỉ muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội mà không tính đến điều kiện thực tế
của đất nước .

lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu
quả. Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và
vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan.
Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng ta xác
định : “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách
quan ). Như vậy , từ chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ vật chất và ý thức,
cũng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo
cách mạng nước ta, Đảng ta đã rút ra bài học trên.
Như vậy, chúng ta có thể thấy, bài học mà Đảng ta xác định nêu trên có ý
nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước. Hiện nay, tình hình và
cục diện thế giới có nhiều biến đổi không ngừng tạo ra cho chúng ta cả thời cơ
và thách thức, từ đó, cách mạng nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy
sự hiệu quả lãnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ đươc
thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá
đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước ta đang
phải đối diện để từ đó có những bước đi thích hợp đưa nước ta từng bước xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Có thể nói, trrên cơ sở hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý
thức. Vận dụng vào thực tiễn nước ta, Đảng ta thấy rõ mối quan hệ biện chứng
giữa kinh tế và tình hình chính trị và ổn định xã hội, Đảng ta bắt đầu công cuộc
đổi mới từ đổi mới về tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết về vật
chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin
của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống XH. Bên cạnh
đó, với quan điểm tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, trong các
chủ trương, chính sách kinh tế từ sau Đại hội Đảng lần VI đến nay đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Cụ thể như : Đại hội VI xác định xây dựng quan hệ sản
xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn, không thể làm xong trong
một thời gian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật. Văn kiện Đại hội xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status