Câu 5: Trong Văn kiện ĐH IX, Đảng ta khẳng định : «Nội dung chủ
yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển ; thực hiện công bằng xã
hội, chống áp bức, bất công ; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư
tưởng và hành động tiêu cực, sai trái ; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu
và hành động chống phá của các thế lực thù địch ; bảo vệ độc lập dân tộc,
xây dựng nước ta thành một XHCN phồn vinh, nhân dân hạnh phúc»
Vận dụng lý luận mácxit về đấu tranh giai cấp để phân tích khẳng
định trên và chỉ ra tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện
nay ?
Trả lời:
Vấn đề về giai cấp và đấu tranh giai cấp luôn được Đảng ta đặc biệt quan
tâm. Mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta luôn xác định những nội dung trọng tâm của đấu
tranh giai cấp cho phù hợp với tình hình mới. Tại Đại hội IX của Đảng, Đảng ta
khẳng định: “,,,,,,,,,”. Đây là sự khẳng định mang tính nguyên tắc, khẳng định
này hàm chứa cả nội dung, đối tượng và những nhiệm vụ cần giải quyết trong
đầu tranh giai cấp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp xuất hiện trong những giai đoạn lịch
sử nhất định, sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự sản xuất ra giá trị thặng dư
đã tạo ra khả năng phân chia xã hội thành giai cấp. Nhưng nguyên nhân trực tiếp
của sự hình thành các giai cấp là sự ra đời của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Các cuộc chiến tranh, các thủ đoạn cướp đoạt bằng bạo lực đã đẩy nhanh quá
trình phân chia xã hội thành giai cấp.
Năm 1919, trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, V.I.Lênin mới nêu ra một
định nghĩa khoa học về giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn
người to lớn …”.
Giai cấp có đặc trưng cơ bản chung nhất, đó là những tập đoàn người to
lớn khác nhau về địa vị trong hệ thống sản xuất xã hội:
1. Khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất.
2. Khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động, trong tổ
sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”
Đấu tranh giai cấp được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá - tư tưởng; với nhiều phạm vi, hình thức,
thời gian khác nhau.
Tính tất yếu của đấu tranh giai cấp ở nước ta
Cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta nằm trong quy luật chung của thời đại
ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đó là thời
kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa những lực lượng vì
hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội với những lực lượng phản tiến bộ, cản trở
hòa bình, độc lập dân tộc của các quốc gia. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục
thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu
bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, làm
chệch hướng XHCN, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động.
Bối cảnh quốc tế có nhiều chuyển biến sâu sắc. Các mâu thuẫn cơ bản trên
thế giới, biểu hiện dưới những hình thái và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát
triển, có mặt sâu sắc hơn; Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra
dưới nhiều hình thức mới mức độ ngày càng gay gắt; các quốc gia độc lập sẽ
ngày càng tăng cường đấu tranh để tự lực chọn và quyết định con đường phát
triển của mình, chống lại sự áp đặt, can thiệp và xâm lược của nước ngoài, bảo
vệ độc lập, chủ quyền và nền văn hoá dân tộc…. Những vấn đề trên đã tạo ra bối
cảnh mới đối với cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta, đòi hỏi chúng ta phải có
những thay đổi nhất định về phương thức thực hiện đấu tranh giai cấp.
Chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ cho đến nay, đã
tác động không nhỏ tới nhận thức, tư tưởng, quan điểm, lập trường của những
người mácxít.
Trong thời kỳ quá độ chúng ta phải từng bước khắc phục, cải tạo những tư
tưởng, tâm lý, thói quen, văn hóa lạc hậu của xã hội cũ còn in đậm trong đời
sống tinh thần của xã hội, để xây dựng một đời sống tinh thần mới vì sự phát
triển tiến bộ của xã hội.
Trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần, với sự đan xen tồn tại
tệ, nộp thuế thông qua kiểm kê, kiểm soát, kỷ luật lao động; phát hiện kịp thời
và đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong kinh tế; khắc phục tình trạng
bóc lột, bất công và những hiện tượng tiêu cực khác.
3. Trong lĩnh vực chính trị
Trong lĩnh vực chính trị, giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động
đấu tranh với các thế lực thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước XHCN; xây
dựng nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; thực hiện giành, giữ
và sử dụng chính quyền như một công cụ để cải tạo xã hội và chuyên chính với
các thế lực đi phá hoại chính quyền, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch,
“chống diễn biến hòa bình” và các chiêu bài chính trị khác, bảo vệ độc lập dân
tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh nhân dân
hạnh phúc.
4. Trong lĩnh vực tư tưởng, văn hoá - xã hội
Trong lĩnh vực tư tưởng, giai cấp công nhân và đảng cộng sản vạch trần
bản chất bóc lột, tính chất phản động của tư tưởng tư sản; vạch trần những biến
tướng của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế; truyền bá thế giới quan khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác –
Lênin; xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh; phát huy được tính tích cực cách
mạng của quần chúng nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, bảo vệ đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động đấu tranh để thực hiện
công bằng xã hội chống áp bức, bất công; thực hiện xóa bỏ sự bất bình đẳng và
thực hiện công bằng xã hội; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng
và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh chống lại mọi biểu hiện truyền bá lối
sống phản văn hoá, phản phát triển, đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân
tộc.
Những vấn đề trên đây tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội lần
Nội, 2011, tr.186-187
- Ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường, của toàn cầu hoá…
Như vậy, trong tình hình hiện nay ở nước ta, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn
diễn ra gay go, phức tạp, thực chất là đấu tranh chống khuynh hướng tự phát tư
bản chủ nghĩa và các thế lực thù địch chống lại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa gắn liền
với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chống lại áp bức bất công, chống
nghèo nàn lạc hậu, khắc phục tình trạng nước nghèo kém phát triển; đấu tranh
ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái. Ở đây,
đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc trong đấu tranh, đồng
thời phải kiên định tinh thần cách mạng, nắm vững định hướng chiến lược mềm
dẻo, linh hoạt trong sách lược đấu tranh, bảo đảm sự thống nhất giữa giai cấp và
nhân loại, giai cấp và dân tộc trong đấu tranh. Điều đó có ý nghĩa quyết định là
không ngừng nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao hiệu lực
quản lý của nhà nước, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của quần chúng nhân
dân.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, Đảng ta đã sáng suốt nhìn nhận, đánh giá
và xác định những nội dung cơ bản về đấu tranh giai cấp, từ việc phát triển kinh
tế, thực hiện công bằng xã hội; củng cố an ninh quốc phòng; chống áp bức, bất
công ; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực,
sai trái ; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế
lực thù địch
Câu 6: Bác Hồ viết: ‘‘Để cải tạo xã hội, một mặt phải cải tạo vật chất
như tăng gia sản xuất, một mặt phải cải tạo tư tưởng. Nếu không có tư
tưởng XHCN thì không làm việc XHCN được’’
Dựa vào mối quan hệ giữa TTXH và YTXH, hãy giải thích luận điểm
trên và nêu ý nghĩa của vấn đề này trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Trả lời:
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa ra nhiều quan điểm trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tại buổi nói chuyên với
những cấp độ khác nhau.
Tùy theo từng góc độ xem xét khác nhau mà người ta chia ý thức xã hội
thành thành bộ phận khác nhau. Khi căn cứ vào trình độ phản ánh thì YTXH
được chia làm 2 bộ phận:
+ Ý thức xã hội thông thường. Trong ý thức xã hội thông thường, bộ phận
quan trọng nhất là tâm lý xã hôi.
+Ý thức lý luận. Trong ý thức lý luận, hạt nhân cơ bản là hệ tư tưởng.
Giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tâm
lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở đối với việc xâm nhập và phát huy
ảnh hưởng của hệ tư tưởng vào trong đời sống xã hội. Ngược lại, hệ tư tưởng
góp phần làm gia tăng tính trí tuệ cho tâm lý xã hội, góp phần định hướng và
hình thành dư luận xã hội lành mạnh.
Biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
* Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội.
- Tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội ấy
- Tồn tại xã hội quyết định nội dung ý thức xã hội
- Tồn tại xã hội thay đổi thì sớm hay muộn ý thức xã hội thay đổi theo.
- Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội:
Lịch sử xã hội cho thấy, nhiều khi xã hội cũ đã mất đi, thậm chí đã mất rất
lâu, nhưng ý thức xã hội do xã hội đó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng. Tính độc lập
tương đối này biểu hiện đặc biệt rõ trong lĩnh vực tâm lý xã hội (trong truyền
thống, tập quán, thói quen, v.v.). V.I.Lênin cho rằng, sức mạnh của tập quán
được tạo ra qua nhiều thế kỷ là sức mạnh ghê gớm nhất.
Khuynh hướng lạc hậu của ý thức xã hội cũng biểu hiện rõ trong điều kiện
của
chủ nghĩa xã hội. Nhiều hiện tượng ý thức có nguồn gốc sâu xa trong xã hội cũ
vẫn tồn tại trong xã hội mới như lối sống ăn bám, lười lao động, tệ tham nhũng,
v.v
Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội là do những nguyên
nhân sau đây:
ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. Lịch sử phát triển của tư tưởng
cho thấy những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của triết học, văn học, nghệ
thuật, v.v. nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh
hoặc suy tàn của kinh tế. Tính chất kế thừa trong sự phát triển của tư tưởng là
một trong những nguyên nhân nói rõ vì sao một nước có trình độ phát triển
tương đối kém về kinh tế nhưng tư tưởng lại ở trình độ phát triển cao.
Quan điểm của triết học Mác - Lênin về tính kế thừa của ý thức xã hội có ý
nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tinh thần của xã hội xã hội
chủ nghĩa.
* Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển
của
chúng. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội làm cho ở mỗi hình
thái ý thức có những mặt, những tính chất không thể giải thích được một cách
trực tiếp bằng tồn tại xã hội hay bằng các điều kiện vật chất.
Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại,
tùy theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi
lên hàng đầu và tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác. Trong sự tác động
lẫn nhau giữa các hình thái ý thức, ý thức chính trị có vai trò đặc biệt quan
trọng, ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự phát triển theo
chiều hướng tiến bộcủa các hình thái ý thức khác. Trong điều kiện của nước ta
hiện nay, những hoạt động tư tưởng như triết học, văn học nghệ thuật, v.v. mà
tách rời đường lối chính trị đúng đắn của Đảng sẽ không tránh khỏi rơi vào
những quan điểm sai lầm, không thể đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách
mạng của nhân dân.
* ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt
đối hóa vai trò của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường,
hay chủ nghĩa duy vật kinh tế phủ nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong
đời sống xã hội. Ph.Ăngghen viết: "Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết
học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật v.v. đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế.
trong công tác lý luận, lý luận cần được thường xuyên đổi mới để đáp ứng đòi
hỏi của thực tiễn phát triển đất nước. Chú trọng đến việc xây dựng nền văn hóa
mới và con người mới.
Đảng đã xác định đường lối kinh tế của nước ta là: Đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội
lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với
phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết
hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh.
Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình
thế giới và khu vực, Đảng luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trương,
chính sách đổi mới đúng đắn trên nhiều lĩnh vực. Một mặt phải tăng cường phát
triển kinh tế, tạo cơ sở vật chất làm tiền đề cho CNXH, một mặt phải luôn chú ý
công tác tư tưởng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và
mọi tầng lớp nhân dân lao động.
Trong lĩnh vực văn hóa, Đảng đã chỉ đạo hoạch định các chính sách văn
hóa nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: "Xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa
dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hóa
gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh
nội sinh quan trọng của phát triển”. Đây là một trong những định hướng lớn
trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Ba lĩnh vực cần tập trung thực hiện bằng được là : xây dựng môi trường, lối
sống và đời sống văn hoá của mọi người dân ở cơ sở, phát huy tinh thần tự
bản nhất.
Tồn tại xã hội bao gồm những yếu tố cơ bản:
Phương thức sản xuất vật chất.
Môi trường tự nhiên xung quanh (hoàn cảnh địa lý).
Dân số và mật độ dân cư.
Trong 3 yếu tố cơ bản trên thì phương thức sản xuất là yếu tố quyết định.
Ngoài ra, cần phải thấy tầm quan trọng của các quan hệ vật chất: cộng đồng
quốc tế, giai cấp, dân tộc, gia đình… trong thời đại ngày nay.
Ý thức xã hội là gì? Kết cấu?
Ý thức xã hội thuôc lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm những
tư tưởng, quan điểm, lý luận, tình cảm, tâm trạng… phản ánh tồn tại xã hội trong
những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định.
Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của con người vào đời sống,
tinh thần, chứ không phải là toàn bộ đời sống tinh thần.
Ý thức xã hội là tính thứ hai so với tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội không có lịch sử độc lập tuyệt đối.
Tùy góc độ khái quát mà người ta chia ý thức xã hội thành các bộ phận
khác nhau. Ở góc độ trình độ và cấp độ của ý thức thì chia ý thức xã hội thành:
Ý thức thông thường và ý thức lý luận.
Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.
Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
- Trong mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì tồn
tại xã hội giữ vai trò quyết định, còn ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội.
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, vì:
+ Nhìn chung tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội ấy.
+ Tồn tại xã hội thay đổi thì sớm muộn gì ý thức xã hội cũng thay đổi theo.
+ Tồn tại xã hội quyết định nội dung, bản chất, xu hướng vận động, phát
triển của ý thức xã hội.
+ Tồn tại xã hội còn phân chia giai cấp thì ý thức xã hội mang tính giai cấp
(tuy nhiên không được sa vào cực đoan phủ nhận tính nhân loại)