Câu 3: V.I.Lênin khẳng định: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội
vào những QHSX và đem quy quan hệ sản xuất vào trình độ của lực lượng
sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự
phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự
nhiên, và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có một
khoa học xã hội được” (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, M, 1974)
Phân tích luận điểm trên và liên hệ với sự phát triển đất nước theo
định hướng XHCN ở Việt Nam?
Trả lời:
- Đây là bản chất quan niệm DVLS do C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất.
- Xã hội phát triển trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau. Ứng với mỗi giai
đoạn của sự phát triển là một hình thái kinh tế xã hội. Các hình thái kinh tế xã
hội vận động, phát triển do sự tác động của các qui luật khách quan, đó là quá
trình tự nhiên của sự phát triển. Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình
thái kinh tế xã hội là quá trình phát triển lịch sử tự nhiên”
(1)
.
Trong quá trình sản xuất của cải vật chất, con người có những quan hệ với
nhau. Đó là quan hệ sản xuất. Những quan hệ sản xuất đó do trình độ lực lượng
sản xuất qui định. Đến lượt nó, các quan hệ sản xuất lại qui định các quan hệ xã
hội khác như: chính trị, luật pháp, đạo đức khi lực lượng sản xuất phát triển
thay đổi về chất mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có dẫn đến đòi hỏi
khách quan là thay đổi quan hệ sản xuất hiện có bằng một quan hệ sản xuất mới.
Quan hệ sản xuất thay đổi thì toàn bộ các quan hệ xã hội khác cũng thay đổi.
Như vậy, phương thức sản xuất thay đổi, các quan hệ xã hội về chính trị, tinh
thần cũng thay đổi dẫn đến sự thay đổi của cả hình thái kinh tế xã hội. Lênin viết
“ Chỉ có đem qui những quan hệ xã hội vào quan hệ sản xuất và đem qui quan
hệ sản xuất vào trình độ của lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ
sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là
quá trình lịch sử − tự nhiên”
(1
nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể, hiệp hội được hình thành trên
một cơ sở hạ tầng nhất định.
Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật
phát triển riêng nhưng đều liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau, đều nảy sinh
trên cơ ở hạ tầng nhất định. Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng cũng có
quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng. Có yếu tố có quan hệ trực tiếp (như
2
chính trị, pháp luật), có yếu tố có quan hệ gián tiếp (như nghệ thuật, khoa
học).
Trong xã hội có giai cấp thì kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp,
trong đó, nhà nước - công cụ của giai cấp thống trị, bộ phận có quyền lực
nhất, có vai trò đặc biệt trong kiến trúc thượng tầng. Bởi lẽ, nhờ có nhà nước,
giai cấp thống trị mới thực hiện được thống trị của mình trên các mặt đời
sống xã hội.
Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
+ Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng quyết định một kiến trúc thượng tầng thể hiện ở chỗ:
Mỗi cơ sở hạ tầng hình thành nên một kiến trúc thượng tầng. Trong xã
hội có giai cấp, giai cấp nào giữ địa vị thống trị về kinh tế thì cũng giữ địa vị
thống trị trong kiến trúc thượng tầng, trong đời sống chính trị, tinh thần.
Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quy định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh
vực tư tưởng.
Sự biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi căn bản của
kiến trúc thượng tầng. Điều này thể hiện rất rõ, khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì
kiến trúc thượng tầng cũ do nó sinh ra cũng mất theo, khi cơ sở hạ tầng mới
ra đời thì kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó sẽ xuất hiện. Sự thay đổi
của cơ sở hạ tầng dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng rất phức tạp.
Có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng sự
thay đổi của cơ sở hạ tầng như quan điểm chính trị, pháp luật. Có những yếu
tố thay đổi rất chậm như tôn giáo, nghệ thuật…
Trong giai đoạn hiện nay, để giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa, để từng
bớc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải làm
không biết bao nhiêu việc với một quyết tâm và sự nỗ lực phi thờng. Đặc biệt cần
chú ý:
Th nht: Trong khi phỏt trin nn kinh t th trng nht thit phi m
bo s lónh o ca ng v vai trũ qun lý, iu hnh ca Nh nc trờn c s
khi liờn minh giai cp Cụng nhõn - nụng dõn - trớ thc; thc hin nht quỏn
chớnh sỏch kinh t nhiu thnh phn.
Th hai: Thỳc y s chuyn dch c cu kinh t theo hng cụng nghip
hoỏ, hin i hoỏ t nwocs, nhm to thờm nhiu cụng n vic lm, thỳc y
nhanh nhip tng trng, tng nng sut lao ng, nõng cao hiu qu kinh t
- xó hi, ci thin i sng vt cht v vn hoỏ ca nhõn dõn, t ú tng cng
n nh hcớnh tr, bo v c lp ch quyn, ton vn lónh th ca T quc v
gi vng nh hng phỏt trin xó hi ch ngha.
4
Th ba: To ng lc v mụi trng thun li hn na cho cỏc thnh
phn, cỏc loi hỡnh kinh t phỏt trin nhanh v cú hiu qu cao. Xõy dng v
cng c kinh t Nh ncc nhng ngnh, nhng lnh vc then cht úng
vai trũ ch o v lm nũng ct hng dn, giỳp cỏc thnh phn kinh t khỏc
phỏt trin ỳng hng
Th t: Tip tc i mi c ch qun lý, xõy dng ng b c ch th
trng cú s qun lý ca Nh nc theo nh ng xó hi ch ngha
Thứ năm: Chăm lo các vấn đề văn hoá, xã hội, nhằm chăm sóc bồi dỡng và
phát huy nhân tố con ngời với t cách vừa là động lực vừa là mục tiêu của công
cuộc xây dựng xã hội mới, thúc đẩy nhanh quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho
sự nghiệp công nghiệp hoá nh: Nâng cao trình độ dân trí, hình thành đội ngũ trí
thức mới, đào tạo lớp ngời lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề
nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vơn lên về
khoa học và công nghệ; Xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề; đẩy mạnh
quá trình công nhân hoá trí thức và trí thức hoá công nhân, các chuyên gia và
chủ nghĩa Mác - Lênin; phê phán uốn nắn nhữnng quan điểm lệch lạc, những
nhận thức mơ hồ, khắc phục những biểu hiện cơ hội, tham nhũng, hữu khuynh
vào giáo điều bảo thủ
Chúng ta tin tởng rằng, với một nhân dân anh hùng, một Đảng lãnh đạo dày
dạn kinh nghiệm, đã từng làm nên cách mạng Tháng Tám vẻ vang, thắng lợi to
lớn trong đổi mới, dân tộc ta nhất định sẽ tiến hành công cuộc đổi mới thành
công hơn nữa, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, từng bớc xây dựng
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc trên đất nớc Việt Nam yêu quý của chúng ta.
6
Câu 4: Tổng kết 10 năm đổi mới, trong Văn kiện ĐH VIII, Đảng ta coi:
“Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, lấy đổi
mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” ( Văn
kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr.14).
Dùng lý luận về mối quan hệ giữa CSHT và KTTT để làm rõ bài học
trên và nêu ý nghĩa của nó trong đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay?
Trả lời:
7
Sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đại hội VIII của Đảng
đã tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả đạt được, xác định những hạn chế, khó
khăn và rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục chỉ đạo quá trình đổi mới. Trong
đó Đảng ta xác định bài học: “,,,,,,,,,,,”.
Bài học trên cho thấy, Đảng ta đã vận dụng tốt mối quan hệ biên chứng
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Thực chất đó là mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị. Để hiểu sâu sắc vấn đề, chúng ta cần phân tích kỹ hơn
những vấn đề lý luận về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Theo Mác – Lê nin, Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất
hợp thành kết cấu kinh tế của một xã hội nhất định.
Cơ sở hạ tầng bao gồm ba loại quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất thống
trị, Quan hệ sản xuất tàn dư và Quan hệ sản xuất mầm mống của phương thức
sản xuất tương lai.
Sự biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi căn bản của
kiến trúc thượng tầng. Điều này thể hiện rất rõ, khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì
kiến trúc thượng tầng cũ do nó sinh ra cũng mất theo, khi cơ sở hạ tầng mới
ra đời thì kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó sẽ xuất hiện. Sự thay đổi
của cơ sở hạ tầng dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng rất phức tạp.
Có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng sự
thay đổi của cơ sở hạ tầng như quan điểm chính trị, pháp luật. Có những yếu
tố thay đổi rất chậm như tôn giáo, nghệ thuật…
+ Tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thông
qua chức năng xã hội của nó. Chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là
bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xoá
bỏ cơ sở và kiến trúc thượng tầng cũ.
Trong các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ sở
hạ tầng, nhưng Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có tác dụng quyết
định năng lực hiện thực hoá tính tất yếu kinh tế, vì nó là lực lượng vật chất có
sức mạnh kinh tế, là bộ máy bạo lực tập trung nhất của giai cấp thống trị về
kinh tế.
Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn
giáo, nghệ thuật cũng đều tác động đến cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức
khác nhau, với nhiều cấp độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng theo nhiều
chiều đan xen, nhưng thường diễn ra theo hai chiều tích cực và tiêu cực.
9
+ Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế
khách quan thì nó sẽ tác động mạnh mẽ tới kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển tức là thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển.
+ Nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm cơ sở hạ tầng phát triển. Tuy
nhiên, nếu kiến trúc thượng tầng kìm hãm kinh tế phát triển thì sớm hay
muộn, bằng cách này hay cách khác, kiến trúc thượng tầng cũ sẽ bị thay thế
hợp tác xã (còn gọi là sở hữu tập thể) hoạt động thống nhất trong một cơ chế kế
hoạch hoá tập trung do Nhà nước thống nhất quản lý và điều hành; thực hiện
thống nhất nguyên tắc phân phối theo chế độ tem phiếu…. Điều đó làm cho kiến
trúc thượng tầng, đặc biệt là hệ thống chính trị ngày càng trở nên nặng nề, cồng
kềnh, nhiều tầng nấc, quan liêu và kém hiệu quả.
Tóm lại:
Về quan điểm: Nhấn mạnh quá mức vai trò kiến trúc thượng tầng, chính trị
là thống soái.
Về cơ chế: Tác động của kiến trúc thượng tầng đối với CSHT được nhận
thức một cách đơn giản, ấu trĩ. Chính trị can thiệp quá sâu vào các quá trình kinh
tế - xã hội bằng hệ thống những mệnh lệnh chủ quan của các cơ quan quản lý
cấp trên.
Về thiết chế: Bộ máy hành chính quan liêu, cửa quyền, cồng kềnh, kém
hiệu quả.
* Từ khi đổi mới đến nay
Từ thực tiễn trước đổi mới, Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm quý báu là:
“phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách
quan”. Đảng ta đã đổi mới tư duy, trước hết là từ duy kinh tế, xuất phát từ kinh
tế để đổi mới chính trị, đổi mới tổ chức, phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc
của cả hệ thống chính trị. Xác định rõ, từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH phải trải
qua một thời kỳ quá độ, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Đó là thời kỳ cải
biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng ngay từ đầu một chế
độ xã hội mới cả về LLSX, QHSX và kiến trúc thượng tầng.
Đổi mới chính trị ở nước ta không chấp nhận đa nguyên chính trị. Nền kinh
tế ở nước ta hiện nay là kinh tế nhiều thành phần nhưng như thế không có nghĩa
là phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Đại hội VI, Đảng ta khẳng định đa dạng hoá thành phần kinh tế (kinh tế
quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá nhỏ(thợ thủ công,
nông dân cá thể, những người buôn bán, kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế
TBTN; kinh tế TBNN dưới nhiều hình thức, mà đỉnh cao là công tư hợp doanh;
phản biện đối với các cơ quan chính quyền. Cải cách hành chính, cải tiến và đổi
mới phương thức hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hoàn thiện hệ thống
pháp luật.
Muốn giữ vững định hướng XHCN phải củng cố cơ sở hạ tầng
XHCN, nghĩa là phải củng cố QHSX XHCN.
12
Về KTTT phải hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và
vì dân; Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, làm trong sạch Đảng về chính trị,
tư tưởng, tổ chức …; dân chủ hoá đời sống xã hội, phát huy vai trò của các đoàn
thể, hiệp hội… Đại hội XI chủ trương:
Thứ nhất, rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng
bộ hệ thống các quy chế, quy định, quy trình công tác để đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị.
Thứ hai, khắc phục tình trạng Đảng bao biện làm thay, hoặc buông
lỏng lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước.
Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể nhân dân.
Thứ tư, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo
của Đảng từ trung ương đến địa phương cơ sở; cải cách thủ tục hành chính trong
Đảng.
Thứ năm, đổi mới cách ra nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết,
kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết.
Đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Đại hội XI của
Đảng chủ trương:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN.
Thứ hai, tiếp tục đối mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực
đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Thứ tư, tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống