ĐỀ TÀI KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỐI NGOẠI - Pdf 23

I. Khái niệm quản lý nhà nước về đối ngoại:
1. Quản lý Nhà nước: là sự chỉ huy, điều hành XH của các cơ
quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực
Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
2. Đối ngoại: có thể hiểu hoạt động đối ngoại là tổng thể các hoạt
động và quan hệ của một nước với bên ngoài.
3. Quản lý nhà nước về đối ngoại là: hoạt động quản lý do các cơ
quan có thẩm quyền của nhà nước tiến hành trên các lĩnh vực ngoại giao,
kinh tế đối ngoại và các hoạt động đối ngoại khác tức là quản lý tất cả
hoạt động và quan hệ do các cơ quan, tổ chức của Việt Nam thực hiện với
các nước, các tổ chức nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế và khu
vực.
4. Các văn bản cần tham khảo QLNN về Đối ngoại:
- Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng;
- Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập
quốc tế
- Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/04/2014 của Chính phủ quy định
tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương;
- Nghị định số 58/2013/NĐ-CP ngày 11/6/2013 của Chính phủ : Quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại
giao.
- Nghị định 116/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
* * *
BÁO CÁO MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH 3
CHUYÊN ĐỀ 10:
KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NGUYÊN TẮC

Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng cộng sản Việt Nam và lãnh tụ
Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã thực hiện những sách lược hết sức
đúng đắn, khôn khéo vừa kiên quyết vừa linh hoạt: lúc hoà với Tưởng,
tập trung sức chống Pháp xâm lược ở miền Nam, rồi hoà với Pháp với
việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946 để đuổi Tưởng về
nước, góp phần giữ vững Nhà nước độc lập non trẻ.
- Giai đoạn 1947-1954: Ngoại giao phục vụ cuộc kháng chiến
trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Ngoại giao đã phối hợp với
chiến trường, đấu tranh chính trị chủ động triển khai hoạt động quốc tế,
tranh thủ đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, đặc biệt là hình thành
liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia chống kẻ thù chung; xây dựng
quan hệ với Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, Ấn Độ…Tranh thủ thuận
lợi do thắng lợi của chiến dịch biên giới đưa lại, ngoại giao đã thành
công thúc đẩy thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại với Việt
nam. Đầu năm 1950, lần đầu tiên chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại
giao chính thức với Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân ở
châu Á, Đông Âu. Các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành chỗ dựa quan
trọng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phối hợp với mặt trận
quân sự, Việt nam đã tham gia Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương,
buộc các nước lớn công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân
Việt Nam, nhân dân Đông Dương, giải phóng được miền Bắc, đưa cách
mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.
- Giai đoạn 1954-1975: Ngoại giao phục vụ hai nhiệm vụ chiến
lược: Kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc. Ngoại giao đã trở thành mặt trận, đánh vào hậu phương quốc
tế của Mỹ, mở rộng hậu phương quốc tế của Việt Nam, hình thành Mặt
trận nhân dân thế giới rộng lớn, mà nòng cốt là Liên Xô, Trung Quốc,
các nước Xã hội chủ nghĩa, các nước Đông dương ủng hộ Việt Nam
chống Mỹ cứu nước. Đồng thời, ngoại giao đã phối hợp với chiến
trường, đấu tranh chính trị, tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp định Pa-ri

X). Đại hội XI đã phát triển và bổ sung chính sách đối ngoại, không chỉ
là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;” (Văn kiện Đại
hội XI) mà còn phải “nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia,
dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối
tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp
phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
trên thế giới. Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ
sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật
pháp quốc tế” (Văn kiện Đại hội XI), năm 2011. Việc thực hiện đường
lối chính sách đối ngoại trên đã và đang gặt hái được những thành công
quan trọng có ý nghĩa lịch sử. Với việc rút hoàn toàn quân đội khỏi
Cămpuchia, vấn đề Campuchia được giải quyết, Việt Nam đã phá được
bao vây, cấm vận và không ngừng mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng
đa dạng hoá và đa phương hoá; bình thường hoá và từng bước xác lập
khuôn khổ quan hệ ổn định lâu dài với tất cả các nước lớn, các nước
công nghiệp phát triển (cho đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với
180 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ kinh tế với hơn
220 thị trường nước ngoài và là thành viên của nhiều tổ chúc và diến đàn
quốc tế như Liên hợp quốc (1977), Phong trào Không liên kết (1976), Tổ
chức Pháp ngữ (1986), ASEAN (1995). Diễn đàn hợp tác Á-Âu ASEM
(1996), Diền đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương
APEC ,1998 ); giải quyết ổn thoả nhiều tranh chấp về biên giới, lãnh
thổ, biển đảo, giữ vững môi trường hoà bình; chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực, tranh thủ nhiều ODA, FDI, mở rộng thị trường ngoài
nước; tăng cường ngoại giao đa phương. Các sự kiện lớn của ngoại giao
Việt Nam trong những năm gần đây là : Việt Nam đã tổ chức thành công
Hội nghị cấp cao VII tổ chức Pháp ngữ 1997), Hội nghị cấp cao ASEAN
VII (1998), Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác Á-ÂU V ( 2004), Hội
nghị thượng đỉnh APEC 14 (2006) … Việt Nam trở thành thành viên thứ

năm 1986. Đồng thời, đường lối này có những phát triển mới phù hợp
với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai
đoạn Việt Nam hội nhập sâu rộng vào khu vực và thế giới:
(i) Về quan hệ song phương: Tiếp tục phương châm đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển quan
hệ hợp tác và hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung
biên giới, đồng thời nỗ lực làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với các đối tác
chủ chốt.
(ii) Là thành viên ASEAN: Việt Nam sẽ chủ động, tích cực và có
trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh,
tăng cường quan hệ với các đối tác, duy trì và củng cố vai trò quan trọng
của ASEAN trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á - Thái Bình
Dương
(iii) Về ngoại giao đa phương: Với phương châm là thành viên có
trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam sẽ mở rộng tham gia và
đóng góp ngày càng tích cực, chủ động, trách nhiệm vào các cơ chế, tổ
chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu, đặc biệt là Liên Hợp
quốc. Việt Nam sẽ tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để
đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là vấn đề biến
đổi khí hậu.
(iv) Về biên giới lãnh thổ: thúc đẩy giải quyết những vấn đề còn
tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước
liên quan, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và
nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây
dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
(v) Về các lĩnh vực khác: Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ
đối ngoại đảng với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các đảng
cầm quyền và các đảng khác, tiếp tục coi trọng và nâng cao hiệu quả
công tác ngoại giao nhân dân.
Những phát triển mới quan trọng :

lĩnh vực này, Chính phủ có những quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể sau:
- Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ các quan hệ quốc tế; chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng
và cùng có lợi; quyết định các chủ trương và biện pháp để tăng cường và
mở rộng quan hệ với nuớc ngoài và các tổ chức quốc tế; bảo vệ độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế; thống nhất quản lý nhà nước về công tác đối
ngoại.
- Trình Chủ tịch nuớc quyết định việc ký kết hoặc gia nhập điều
ước quốc tế nhân danh Nhà nuớc và trình Chủ tịch nước phê chuẩn việc
kí kết, gia nhập điều ước quốc tế do Chính phủ kí nhân danh Chính phủ;
chỉ đạo thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
+ Công ước quốc tế về Luật biển 1982 (Ngày có hiệu lực với Việt
Nam 23/6/1994)
+ Công ước về Tổ chức Hàng hải Quốc tế 17/3/1948 (Ngày có
hiệu lực với Việt Nam 1984)
+ Công ước Geneve năm 1971 về bảo hộ nhà xuất bản, ghi âm
chống việc sao chép không được phép;
+ Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới;
+ Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ năm 1997 về thiết lập quan hệ
quyền tác giả;
+ Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ năm 1999 về sở hữu trí tuệ và hợp
tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
+ Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000.
+ Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994 trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO).
- Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách cụ thể về hợp

Phạm Bình Minh.
Các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước:
• Vụ Chính sách đối ngoại
• Vụ Tổng hợp kinh tế
• Vụ Hợp tác kinh tế đa phương
• Vụ Đông Bắc Á
• Vụ Đông Nam Á- Nam Á- Thái Bình Dương
• Vụ Châu Âu
• Vụ Châu Mỹ
• Vụ Tây Á – Châu Phi
• Vụ ASEAN
• Vụ Luật pháp và Điều ước Quốc tế
• Vụ các Tổ chức quốc tế
• Cục Lễ tân Nhà nước
• Vụ Văn hóa Đối ngoại và UNESCO
• Vụ Thông tin Báo chí
• Vụ Tổ chức Cán bộ
• Cục Quản trị Tài vụ
• Cục Lãnh sự
• Thanh tra Bộ
• Văn phòng Bộ
• Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
• Ủy ban Biên giới Quốc gia
• Cục Cơ yếu
• Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh
Các tổ chức sự nghiệp
• Học viện Ngoại giao
• Báo Thế giới và Việt Nam
• Trung tâm hướng dẫn báo chí nước ngoài
• Trung tâm Thông tin

4/ Giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ và an ninh quốc gia. Vận động, phối hợp tiếp tục thúc đẩy sớm xây
dựng COC; chủ động phối hợp, đấu tranh giữ ổn định tình hình trên biển
Đông. Hoàn thành triển khai dự án tăng dày và tôn tạo mốc giới với Lào
và các văn bản pháp lý liên quan. Cố gắng đẩy nhanh phân giới cắm mốc
trên bộ với Campuchia. Quản lý ổn định biên giới trên bộ với Trung
Quốc. Xử lý chủ động, kịp thời các phức tạp nảy sinh và cố gắng tìm giải
pháp thỏa đáng, lâu dài liên quan vấn đề nguồn nước sông Mê Công.
Chủ động đấu tranh trên các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tôn giáo; bảo
vệ lợi ích của ta và không để ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại.
5/ Ngoại giao kinh tế tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ tái
cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng; hỗ trợ triển khai hiệu
quả HNKTQT: (i) Nâng cao chất lượng công tác thông tin, tham mưu,
dự báo; (ii) Góp phần thúc đẩy hoàn tất các đàm phán tự do hóa thương
mại then chốt như TPP, FTA với EU…phù hợp với lợi ích của ta; (iii)
Tiếp tục đẩy mạnh vận động các nước sớm công nhận quy chế kinh tế thị
trường của Việt Nam; (iv) Nâng cao hiệu quả xúc tiến kinh tế, hỗ trợ các
địa phương, doanh nghiệp; tìm kiếm thị trường cho hàng hóa xuất khẩu
và kiên quyết bảo vệ lợi ích kinh tế - thương mại của ta; (v) Tăng cường
theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế; tiếp tục hoàn
thiện hệ thống pháp luật, quy định trong nước hài hòa với yêu cầu hội
nhập và các cam kết quốc tế.
6/ Ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại tiếp tục triển khai kế hoạch
hành động Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến 2020 và Chương trình
hành động về thông tin đối ngoại 2013-2020. Tổ chức tốt các sự kiện
tuần, ngày Việt Nam ở nước ngoài; vận động cho các hồ sơ di sản quần
thể Tràng An, Cát Bà, Phong Nha – Kẻ Bàng, dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh.
Tiếp tục cải tiến, đổi mới phương thức, hình thức tuyên truyền trên các
vấn đề đấu tranh về dân chủ, nhân quyền; phổ biến nâng cao nhận thức
về Cộng đồng ASEAN 2015, lợi ích của TPP, RCEP….Thực hiện tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status