Nguyên tắc quản lý nhà nước về tài chính bảo hiểm xã hội ở việt nam - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TÀI CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
***************

HÀ NỘI - 2010


MỤC LỤC
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BHXH
1. Khái niệm BHXH
2. Bản chất và chức năng của BHXH
3. Nguyên tắc hoạt động của BHXH
4. Hệ thống các chế độ BHXH
II. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH
1. Khái niệm quản lý tài chính BHXH
2. Nội dung quản lý tài chính BHXH
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý tài chính
III. NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI
CHÍNH BHXH Ở VIỆT NAM
1. Nguyên tắc quản lý thu
2. Nguyên tắc quản lý chi
3. Nguyên tắc quản lý hoạt động đầu tư
4. Nguyên tắc cân đối quỹ
IV. NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH Ở
MỘT SỐ NƯỚC
1. Cộng hòa liên bang Đức

3


những năm tháng kháng chiến chống xâm lược cho đến khi đất nước thống
nhất, BHXH đã góp phần rất lớn trong việc ổn định thu nhập, ổn định cuộc
sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn
trong động viên sức người, sức của cho thắng lợi của dân tộc…Ngày
29/6/2006, Quốc hội thông qua Luật BHXH. Chính sách BHXH Việt Nam
và tổ chức quản lý hoạt động có nhiều biến đổi tích cực, phù hợp điều kiện
đất nước, đặc biệt là đổi mới từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao
cấp, hoàn toàn do Ngân sách Nhà nước (NSNN) đảm bảo chuyển sang cơ
chế thực hiện có thu và quỹ hoạt động trên nguyên tắc thu cân bằng thu
chi. Nhà nước đóng vai trò tổ chức thực hiện và quản lý thông qua BHXH
Việt Nam. Trong hoạt động tổ chức quản lý thì quản lý tài chính là một
mảng lớn, cần được chú trọng và quan tâm vì tài chính BHXH có vững thì
các chế độ trợ cấp mới được đảm bảo thực hiện tốt mà không dẫn đến tình
trạng thâm hụt Ngân sách Nhà nước. Nhà nước đã tổ chức quản lý thống
nhất tài chính BHXH với những nguyên tắc riêng, đảm bảo cho quỹ BHXH
được hoạt động hiệu quả nhất.

I. Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội
.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội.

BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả
năng lao động do bị ốm, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp,
tàn tật, tuổi già, tử tuất; mất việc làm dựa trên cơ sở hình thành và sử dụng
một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và
gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm sau:


5


- Chức năng cơ bản nhất là thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
cho người lao động tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập,
mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia BHXH. Phân phối lại giữa người lao động có thu nhập cao và
thấp, người lao động khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm yếu
phải nghỉ làm…. BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Nhờ BHXH, người lao động yên tâm lao động, gắn bó công việc,
góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động , nâng cao năng
suất lao động. Chức năng này như đòn bẩy kinh tế kích thích người lao
động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo năng suất lao động
xã hội.
- Giải quyết mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao
động.
3. Nguyên tắc hoạt động của BHXH.
3.1 Mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng trợ cấp
BHXH
BHXH đã trở thành quyền cơ bản của con người.
3.2 Mức hưởng trợ cấp BHXH phải tương quan với mức đóng góp.
BHXH là một trong những hình thức phân phối lại thu nhập giữa
những người tham gia bảo hiểm nên cần thiết phải xác định mức hưởng
công bằng, hợp lý. Mức đóng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định
mức hưởng, thường mức đóng và mức hưởng bị nhà nước khống chế ở
mức trần nhất định.
3.3 Số đông bù số ít.
Khi gặp phải rủi ro, người tham gia bảo hiểm này sẽ được bù đắp


7


Tùy điều kiện kinh tế- xã hội mà mỗi nước tham gia công ước
Giownevo thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, ít nhất phải thực
hiện được 3 chế độ, trong đó ít nhất phải có một trong năm chế độ: 4.3, 4.4,
4.5, 4.8, 4.9.
Ở Việt nam, BHXH bắt buộc thực hiện vơi 5 chế độ:
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp hưu trí
- Trợ cấp tử tuất
5. Khái niệm, đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội( BHXH)
5.1 Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn quỹ
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài
NSNN.
Mục đích tạo lập quỹ là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ
ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro.
Quỹ được hình thành từ các nguồn sau:
- Người sử dụng lao động đóng
- Người lao động đóng góp
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm
- Các nguồn khác (cá nhan và tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư
một phần quỹ nhàn rỗi…)
5.2 Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất của
một quỹ, ngoài ra do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc
trưng riêng có sau:


9


thành hệ thống tài chính quốc gia. Chúng có quan hệ chặt chẽ vơi nhau và
đều chịu sự chi phối của pháp luật nhà nước.
- Sự ra đời và phát triển quỹ phụ thuộc trình độ phát triển kinh tế- xã
hội và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất định của đất nước.

II. Quản lý tài chính BHXH.
1. Khái niệm chung về quản lý tài chính BHXH.
Quản lý là những hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng quản lý nhất định để
điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, từ đó có thể duy
trì được tính ổn định của đối tượng. Đối tượng của quản lý ở đây là tài
chính BHXH. Tài chính BHXH là một thuật ngữ thuộc phạm trù tài chính,
chỉ một mắt khâu tài chính tồn tại độc lập trong hệ thống tài chính quốc
gia. Tài chính BHXH tham gia vào quá trình phân phối và sử dụng các
nguồn tài chính nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình
họ khi gặp rủi ro, từ đó đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, nhìn rộng ra thì quản lý tài chính BHXH là việc sử dụng tài chính
BHXH như một công cụ quản lý xã hội của nhà nước. Nhà nước thông qua
hoạt động tài chính để thực hiện mục tiêu quản lý xã hội, đó là đảm bảo
cuộc sống cho nhân dân trước những rủi ro làm giảm hoặt mất khả năng
lao động hay khi về già, giúp người lao động yên tâm lao động sản xuất,
góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. BHXH thể hiện tính ưu việt của mỗi
quốc gia, mỗi thể chế xã hội. Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lý tài chính
BHXH là quản lý thu chi BHXH. Như vậy quản lý tài chính BHXH chủ
yếu liên quan tới việc làm thế nào để hoạt động thu chi quỹ BHXH được
thực hiện một cách bình thường và làm thế nào để hoạt động thu chi quỹ

những ảnh hưởng của môi trường thế giới. Tuy nhiên tác động của các
nhân tố môi trường trong nước là quan trọng hơn. Các chính sách, quyết
11


định của Nhà nước tác động trực tiếp tới hoạt động quản lý. Môi trường
kinh tế như GDP, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, tình trạng nền kinh
tế tăng trưởng hay khủng hoảng, mức sống tối thiểu, các dịch vụ công
cộng… Đây là các yếu tố tác động tới thu, chi, cân đối quỹ BHXH sao cho
phù hợp, đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động. Bên cạnh đó còn
có các yếu tố như văn hóa, lối sống, truyền thống, trình độ nhận thức…nó
tác động đến mức độ chấp nhận, sự đồng tình thực hiện của mỗi cá nhân
trong xã hội. Chẳng hạn như ở nước ta có truyền thống “ lá lành đùm lá
rách, lá rách ít đùm là rách nhiều” rất phù hợp với mục đích triển khai
BHXH nên được mọi người đồng tình thực hiện. Tất cả những yếu tố kể
trên tác động tới nội dung của những quy định trong các chế độ quản lý tài
chính BHXH Việt Nam.
Những tác động của bản thân các yếu tố bên trong hệ thống như ý
thực tự giác của các đối tượng tham gia là người lao động và đặc biệt là
chủ sử dụng lao động. Yếu tố trình độ của các cán bộ trong ngành BHXH,
điều kiện làm việc, trang thiết bị phục vụ công tác,…cũng ảnh hưởng trực
tiếp đến công tác quản lý tài chính BHXH. Trình độ cán bộ càng cao, cơ sở
vật chất kỹ thuật càng đầy đủ và hiện đại thì công tác quản lý tài chính
BHXH càng thuận lợi, thực hiện càng có hiệu quả.

III. Nguyên tắc quản lý nhà nước về tài chính
BHXH ở Việt Nam.
Khi thực hiện quản lý quỹ tài chính BHXH cần chú ý 2 nguyên tắc
chủ yếu sau :
- Quá trình quản lý tài chính BHXH phải luôn được tính toán, so

động. Nội dung của quản lý thu lại tập trung vào 3 đối tượng chính là :
quản lý đối tượng tham gia BHXH, quản lý quỹ lương của doanh nghiệp,

13


quản lý tiền thu BHXH. Để đảm bảo việc quản lý thu được dễ dàng, nhà
nước đặt ra những nguyên tắc cụ thể như sau :
1.1 Đảm bảo đúng đối tượng, đúng mức thu:
Để đảm bảo tính công bằng và nguyên tắc số đông bù số ít, nguyên
tắc san sẻ rủi ro thì việc đảm bảo đúng đối tượng, đúng mức thu là việc hết
sức quan trọng.
Mỗi loại hình bảo hiểm đều có đối tượng bảo hiểm, đối tượng tham
gia khác nhau và thường được quy định rõ ràng trong các văn bản quy
phạm pháp luật của nhà nước. BHXH Việt Nam có đối tượng là thu nhập,
đối tượng tham gia là người lao động và người sử dụng lao động. Hiện nay,
BHXH Việt Nam chia đối tượng này thành 2 loại: đối tượng tham gia
BHXH tự nguyện và đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Để có thể thu
đúng đối tượng cần phải thực hiện 1 số công việc sau:
- Thực hiện phân cấp quản lý, phân công cụ thể từng đơn vị, từng bộ
phận và cá nhân để quản lý, theo dõi, đôn đốc thu BHXH đến từng cá nhân
tham gia BHXH. Việc phân cấp, phân công cụ thể công tác quản lý sẽ làm
cho việc thu BHXH được dễ dàng, thu triệt để, tránh hiện tượng thu thiếu,
bỏ qua không thu, thu trùng….Việc phân cấp, phân công quản lý đối tượng
tham gia BHXH phải được yêu cầu của công tác thu BHXH đề ra, ví dụ
như: BHXH Việt Nam thực hiện công tác quản lý đối với BHXH các tỉnh,
thành phố.
- Tiến hành cấp và ghi sổ BHXH cho từng người lao động để theo
dõi ghi chép kịp thời toàn bộ diễn biến quá trình đóng BHXH của họ theo
từng thời gian (tháng, quý, năm), mức đóng và đơn vị đóng, ngành nghề

thu và khó đảm bảo tính công bằng cho các đơn vị tham gia. Vì vậy nhà
nước quản lý hình thức thu, thời gian thu, nôp bảo hiểm, quyết toán như
sau:
15


- Thu BHXH phải mang tính trực tiếp, hạn chế tối đa hiện tượng
khoán thu để được hưởng hoa hồng. Tuy nhiên, ở Việt nam, phương thức
thu chủ yếu là khoán thu. Đại lý thu của BHXH chủ yếu là các chủ sử dụng
lao động. Chủ sử dụng lao động thu của người lao động sau đó chuyển toàn
bộ đóng góp của cả người lao động và người sử dụng lao động cho cơ quan
BHXH. Thực hiện như vậy sẽ thuận lợi cho cơ quan BHXH, vì chính
người lao động quản lý trực tiếp lao động của mình, thông qua quỹ lương
của doanh nghiệp người sử dụng lao động khấu trừ luôn phần phí đóng
BHXH của người lao động theo % mức tiền lương của họ. Đại lý có thể là
cơ quan, tổ chức ,hiệp hội, đoàn thể có liên quan như bưu điện, ngân
hàng....song các đại lý này không phổ biến. Như vậy quản lý quỹ lương
của doanh nghiệp vừa quản lý đối tượng tham gia vừa quản lý được số thu
của BHXH Việt nam
- Tại Việt Nam hình thức thu nộp chủ yếu là chuyển khoản thông qua
ngân hàng. BHXH Việt Nam hình thành các “ tài khoản chuyên thu”, các
tài khoản này được mở tại các Ngân hàng nhà nước hoặc tại Kho bạc. Để
đảm bảo thống nhất, BHXH Việt Nam đưa ra nguyên tắc: không thu tiền
mặt, hiện vật hay ngân phiếu, trong trường hợp đặc biệt người sử dụng lao
động nộp tiền mặt hoặc ngân phiếu thì cơ quan BHXH phải có hướng dẫn
cụ thể để người sử dụng lao động nộp trực tiếp vào tài khoản chuyên thu
BHXH. Định kỳ hàng tháng người sử dụng lao động sau khi trả lương cho
ngườ lao động sẽ nộp số tiền BHXH bằng cách chuyển khoản từ tài khoản
của họ ở một ngân hàng hay kho bạc sang tài khoản chuyên thu BHXH.
Sau đó cơ quan BHXH cấp huyện và cấp tỉnh sẽ phải chuyển số thu này

tất cả sự đóng góp của người tham gia BHXH đều phải tiến hành chuyển
về BHXH Việt Nam để hình thành quỹ BHXH tập trung. Để thực hiện
nguyên tắc trên, các đơn vị BHXH các tỉnh, thành phố, huyện được mở các
17


tài khoản chuyển thu BHXH ở hệ thống ngân hàng và kho bạc nhà nước,
các đơn vị sử dụng tài khoản này chỉ để thu tiền nộp BHXH ở ku vực quản
lý của mình và định kỳ chuyển số tiền thu được lên cấp trên, từ đó tiền thu
BHXH được tập trung thống nhất tại 1 cơ quan cao nhất là BHXH Việt
Nam. Trong quá trình thu BHXH và lưu chuyển số tiền thu BHXH từ đơn
vị cơ sở lên BHXH Việt Nam, các đơn vị không được phép sử dụng tiền
thu BHXH cho bất cứ một nội dung nào khác, việc quy định như vậy
nhằm tránh những thất thoát số tiền thu BHXH của các đơn vị thống nhất
nguyên tắc trong quá trình hình thành quản lỹ quỹ BHXH.
2. Nguyên tắc quản lý chi BHXH
Chi BHXH là một hoạt động thường xuyên và liên tục của cơ quan
BHXH, chi BHXH là một hoạt động đa dạng và phức tạp. Có thể hiểu hoạt
động chi quỹ BHXH như sau: chi BHXH là các khoản chi phí cần thiết để
thực hiện các hoạt động của BHXH và các hoạt động khác có liên quan đến
công tác BHXH. Chi BHXH là hoạt động quan trọng trong công tác
BHXH.
Các khoản chi BHXH bao gồm các khoản chi cho các chế độ, chi
quản lý và chi khác. Trong đó có thể nói 2 khoản chi đầu là rất lớn, đặc
biệt là chi cho các chế độ, hơn nữa khoản chi này chính là thể hiện sự đảm
bảo cuộc sống của chính sách BHXH
Nguyên tắc quản lý chi BHXH:
2.1 Chi đúng đối tượng, đúng mục đích
- Cũng như quản lý thu, để đảm bảo nguyên tắc chi đúng đối tường,
quản lý chi cũng theo phân cấp, theo đó cơ quan BHXH cấp tỉnh, huyện có

hiện chi trả cho thuận tiện.
Quản lý đối tượng chi trả là công tác thường xuyên của cơ quan
BHXH, tránh tình trạng đối tượng chi trả không còn tồn tại mà nguồn kinh
19


phí chi trả vẫn được cấp gây ra tổn thất cho quỹ BHXH, dẫn đến tình trạng
trục lợi BHXH của các đơn vị, cá nhân.
- Quản lý chi hoạt động bộ máy: chi quản lý là khoản chi cho bộ
máy, trả lương cho cán bộ, chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, chi mua sắm
thiết bị và tài sản cố định nhằm duy trì hoạt động của tổ chức. Mức chi này
được quy định trong điều lệ BHXH hoặc được lập trong NSNN. Khoản chi
này được quản lý chặt chẽ để tránh lãng phí không cần thiết, đảm bảo
nguyên tắc tiết kiệm có hiệu quả.
2.2 Chi gián tiếp
Tại Việt nam hiện nay phương thức chi trả gián tiếp thông qua hệ
thống đại lý chi trả là phổ biến nhất. Hệ thống đại lý chi trả hầu hết là quan
hệ dựa trên hợp đồng lao động và thường là chính người sử dụng lao động,
cán bộ xã phường, bưu điện hoặc ngân hàng. Thường các đại lý chi trả là
người sử dụng lao động được BHXH Việt Nam sử dụng cho việc chi trả
cho các trợ cấp ngắn hạn như ốm đau, tại nạn…rất tiện lợi. Các đại lý còn
lại phù hợp vơi các chế độ dài hạn. Với điều kiện Việt nam thì phương
thức này là hợp lý, chi phí thấp, tiện lợi với người được hưởng trợ cấp.
2.3 Hoạt động chi theo văn bản pháp luật, theo đúng các quy định,
chế độ hạch toán thống kê hiện hành của nhà nước.
Cuối năm, cơ quan BHXH tiến hành cân đối thu chi, nếu chi không
hết thì phải lập báo cáo gửi lên cơ quan cấp trên, nếu thiếu chi thì cơ quan
BHXH có thể vay ngân hàng để chi cho đủ các chế độ, sau đó thanh toán
vào tháng tới, quý tới.
3. Nguyên tắc quản lý hoạt động đầu tư

đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao.
3.2 Tính hiệu quả

21


Nguyên tắc thứ hai khi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH là tính hiệu
quả. Nguyên tắc này rất quan trọng vì nếu đầu tư không sinh lời thì không
thể thực hiện được mục tiêu tăng trưởng quỹ, và ảnh hưởng tới độ an toàn
của quỹ cũng như khả năng chi trả trong tương lai. Để thực hiện được
nguyên tắc này, cần thiết phải xác định được danh mục đầu tư, các lĩnh vực
đầu tư chủ yếu. Đối với từng dự án đầu tư, phải đánh giá chính xác nhất
hiệu quả kinh tế dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu khoa học, từ đó mới có
được quyết định đầu tư đúng đắn, mang lại lợi nhuận cao.
3.3 Tính thanh khoản
Nguyên tắc thứ ba là phải chú trọng đến tính thanh khoản của dòng
vốn (dễ luân chuyển vốn). Quỹ BHXH luôn vận động không ngừng, đó là
quá trình tạo lập và sử dụng quỹ để chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ
BHXH. Do vậy, đầu tư quỹ vào lĩnh vực nào, dưới hình thức nào cũng phải
đảm bảo khả năng chuyển đổi các tài sản đầu tư thành tiền mặt để đảm bảo
thực hiện nghĩa vụ chi trả cho người lao động.
Thủ tục thanh toán cũng là một vấn đề cần xem xét khi quyết định
đầu tư, đảm bảo thủ tục không không quá phức tạp, dẫn đến tồn khoản.
Ngoài ra, đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH còn phải đảm bảo lợi ích kinh tế
và xã hội, bởi BHXH là một chính sách xã hội quan trọng của Nhà nước.
Tuỳ theo tính chất và nội dung đầu tư mà các nguyên tắc trên có tầm
quan trọng khác nhau. Chẳng hạn, khi đầu tư dài hạn thì nguyên tắc “dễ
luân chuyển vốn” không quan trọng bằng nguyên tắc “an toàn” và “hiệu
quả”. Ngược lại, đầu tư ngắn hạn thì nguyên tắc “dễ luân chuyển vốn” phải
được ưu tiên hàng đầu.

nhằm phát hiện ra những thay đổi dẫn đến mất cân đối để có những biện
pháp khắc phục kịp thời

23


III Kinh nghiệm quản lý tài chính BHXH của một
số nước
Tính đến năm 1993, trên thế giới đã có 163 nước thực hiện chính
sách BHXH, trong đó số các nước thực hiện chế độ hưu trí, tai nạn lao
động, ốm đau, thai sản là nhiều nhất lên tới 155 nước, chiếm khoảng 95%,
ít nhất là chế độ thất nghiệp có khoảng 63 nước, chiếm 38,6%. Việc thực
hiện các chế độ là tùy thuộc vào điều kiện tình hình kinh tế, chính trj, xã
hội của mỗi nước. Tuy nhiên xu hướng chung hiện nay là đang thực hiện
ngày càng đầy đủ các chế độ. Đối với lịch sử phát triển của ngành BHXH
trên thế giới thì BHXH Việt Nam còn rất mới, như vậy chúng ta cần học
hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước.
1. Quản lý tài chính BHXH của Cộng hòa liên bang Đức
So với các nước trên thế giới, cộng hòa liên bang Đức là nước có lịch
sử phát triển được coi là sớm nhất. Điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời và
thực hiện từ những năm 1850. Cho đến nay, chính sách BHXH ở đức bao
gồm 6 chế độ sau:
+ Bảo hiểm thất nghiệp
+ Bảo hiểm y tế
+ Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho người già và người tàn tật
+ Bảo hiểm ốm đau
+ Bảo hiểm tai nạn lao động
+ Bảo hiểm hưu trí
Hoạt động BHXH của cộng hòa liên bang đức thực hiện theo 3 trụ
cột chính là:

nhiệm thu, chi cho một loại chế độ nhất định. Điểm đáng lưu ý ở các nước
này là những công chức nhà nước (những người được đề cử vào bộ mày
quản lý nhà nước) không phải đóng BHXH nhưng họ được nhận lương hưu
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status