THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH BẢO HIỂM XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM
2.1. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH BHXH TRƯỚC NĂM 1995
2.1.1. Thực trạng chính sách tài chính BHXH trước năm 1961
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ ta đã sớm
tiếp thu chính sách bảo hiểm xã hội đang áp dụng hiện hành ở Pháp và được
vận dụng thực hiện ở Việt nam đối với viên chức, công chức làm việc cho chính
quyền cũ. Chính sách này đã hình thành một quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu dựa
vào sự đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động. Chính phủ đã
ban hành các văn bản pháp quy quy định một số chính sách về bảo hiểm xã hội
nhằm ổn định tình hình kinh tế-xã hội. Trong số đó Sắc lệnh số 54/SL ngày
1/1/1945, Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946 quy định công chức phải đóng
bảo hiểm xã hội theo tỷ lệ từ 6-10% tiền lương; cơ quan, đơn vị (công quỹ)
cũng phải nộp theo tỷ lệ từ 7-10% quỹ tiền lương. Như vậy người lao động và
chủ sử dụng lao động phải nộp từ 13-20% tiền lương. Các chế độ bảo hiểm xã
hội người lao động được hưởng là hưu trí và tử tuất.
Về chế độ hưu trí: hàng tháng người lao động đã nghỉ hưu được hưởng
không quá 50% tiền lương trước khi nghỉ hưu.
Về chế độ tử tuất: Thân nhân người đóng bảo hiểm xã hội được nhận
tiền mai táng phí và một khoản trợ cấp có giá trị tương đương với 50 kg thóc.
Các chế độ chính sách về bảo hiểm xã hội chỉ mới được ban hành chưa
được triển khai thực hiện thì đất nước ta bước vào cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp. Tuy nhiên những chính sách bảo hiểm xã hội ở giai đoạn này
đã đặt nền móng, đưa bảo hiểm xã hội vào hệ thống các chính sách kinh tế-xã
hội quan trọng của Nhà nước.
2.1.2. Thực trạng chính sách tài chính BHXH từ năm 1960 đến năm
1995
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, thi hành Điều 23 của Hiến
pháp năm 1960, Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà đã ra Nghị định
218/CP ngày 27/12/1961 ban hành Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với
công chức viên chức Nhà nước. Có thể nói ở thời điểm này, đây là chính sách
Năm Tỷ lệ % Ngân sách Nhà nước
hỗ trợ qua các năm
Ghi chú
1964 4,70%
1965 37,40%
1966 41,60%
1968 54,80%
1970 70,30%
1971 80,10%
1972 84,40%
1976 83,20%
1981 89,20%
1982 91,90%
1983 93,90%
1985 97,00%
1987 97,67%
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt nam)
Trước tình hình Ngân sách Nhà nước chi cho các chế độ bảo hiểm xã hội
do hai cơ quan này quản lý đều có xu hướng ngày càng tăng, tháng 10/1986,
Chính phủ đã ra quyết định số 236/HĐBT sửa đổi một số nội dung về bảo hiểm
xã hội Việt nam.
-Tháng 10/1986, nâng mức nộp quỹ bảo hiểm xã hội thuộc Tổng Liên
đoàn Lao động Việt nam quản lý từ 3,7% lên 5% trên tổng quỹ lương.
-Tháng 3/1988, nâng mức nộp quỹ bảo hiểm xã hội thuộc Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội quản lý từ 1% lên 10% trên tổng quỹ lương.
Như vậy mức thu đã được nâng lên từ 4,7% lên 15% quỹ tiền lương và
do người sử dụng lao động đóng còn người lao động vẫn không phải đóng.
Chính sách bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 236/HĐBT nhằm mục tiêu
góp phần giảm biên chế tại các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước nhưng lại trở
thành gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước phải bao cấp thêm về bảo hiểm xã
hiểm xã hội, người lao động được hưởng các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội
gồm trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử
tuất. Quỹ bảo hiểm xã hội được hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ.
Chính phủ thành lập bảo hiểm xã hội Việt nam trên cơ sở thống nhất các tổ
chức bảo hiểm xã hội ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống của Tổng
Liên đoàn Lao động Việt nam và Bộ Lao động Thương binh và xã hội để quản
lý quỹ và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội theo pháp luật của Nhà nước.
Thành lập Hội đồng quản lý là cơ quan chỉ đạo cao nhất của tổ chức bảo hiểm
xã hội Việt nam.
2.2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ ĐỔI
MỚI (1995 – NAY)
Sau khi Bộ Luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994,
Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chê độ bảo hiểm xã hội được thay thế
bằng Nghị định 12/CP của Chính phủ ngày 26/1/1995 ban hành Điều lệ bảo
hiểm xã hội, Nghị định 19/CP ngày 16/2/1995 về việc thành lập bảo hiểm xã
hội Việt nam, Nghị định 45/CP ngày 15/7/1995 ban hành Điều lệ bảo hiểm xã
hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân
dân và công an nhân dân, Quyết định số 606/TTg ngày 26/9/1995 về việc ban
hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt nam và một số văn bản bổ
sung hướng dẫn của các ngành, các cấp có liên quan. Những văn bản trên quy
định đổi mới một cách toàn diện về bảo hiểm xã hội. Riêng về chính sách tài
chính có một số nội dung đổi mới chủ yếu sau:
2.2.1. Đổi mới về chức năng quản lý Bảo hiểm xã hội
Nội dung chính là phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước về Bảo
hiểm xã hội và chức năng hoạt động sự nghiệp Bảo hiểm xã hội. Điều 41, Điều
lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy
định rõ: “Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội. Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội là cơ quan thực hiện quản lý Nhà nước về bảo
hiểm xã hội”.
Nội dung quản lý Nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về
Bảo hiểm xã hội Việt nam là cơ quan thực thi chính sách, chế độ bảo
hiểm xã hội được tổ chức thành ngành dọc 3 cấp từ Trung ương đến cấp quận,
huyện. Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt nam có tư cách pháp nhân, có
con dấu và tài khoản, có trụ sở đặt tại Hà nội. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (gọi chung là tỉnh) là Bảo hiểm xã hội tỉnh trực thuộc Bảo hiểm xã
hội Việt nam. Bảo hiểm xã hội tỉnh cũng có tư cách pháp nhân, có con dấu và
tài khoản, có trụ sở đặt tại tỉnh. Ở các huyện, quận, thị xã (gọi chung là huyện)
là trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh. Bảo hiểm xã hội huyện cũng có tư cách
pháp nhân, có con dấu và tài khoản, có trụ sở đặt tại huyện.
Tổng giám đốc phân cấp quản lý cho Bảo hiểm xã hội các cấp. Đây là nội
dung đổi mới có tính chất cơ bản trong việc quản lý tài chính bảo hiểm xã hội,
phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý sự nghiệp bảo
hiểm xã hội. Trước đây một thời gian dài, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
vừa là cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội vừa là cơ quan thực thi
chính sách về bảo hiểm xã hội, như vậy là vừa đá bóng vừa thổi còi.
2.2.2. Đổi mới về nguyên tắc quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội
Nguyên tắc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội được quy định cụ thể như sau:
-Quỹ bảo hiểm xã hội được hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước.
-Quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo hộ trong những trường hợp
cần thiết như: thay đổi chế độ chính sách, quỹ thâm hụt...
-Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung thống nhất theo chế độ tài
chính của Nhà nước do bảo hiểm xã hội Việt nam trực tiếp quản lý dưới sự chỉ
đạo của Thủ tướng Chính phủ.
-Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng
theo quy định của Chính phủ.
Đây là những nội dung rất cơ bản trong quản lý quỹ, bảo đảm nguyên
tắc lấy số đông bù số ít, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng tham gia BHXH.
Trước đây, quỹ bảo hiểm xã hội do hai cơ quan là Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt nam quản lý. Suốt một thời
gian dài việc quản lý quỹ gặp nhiều khó khăn, không đảm bảo cân đối quỹ, quỹ