- 1 -
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGUỒN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT
NAM
2.1 Quá trình hình thành và tổ chức thực hiện BHXH từ khi thành lập BHXH
Việt Nam
2.1.1 Những quy định về BHXH
Việc cải cách BHXH thực sự đi vào thực tiễn khi hàng loạt các văn bản pháp
qui được ban hành từ năm 1995:
- Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHXH
áp dụng đối với cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước và mọi người lao động theo
loại hình bắt buộc để thực hiện thống nhất trong cả nước. Các chế độ trong Điều lệ
này gồm: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, TNLĐ – BNN, hưu trí và tử tuất. Đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc là người lao động làm việc ở những đơn vị, tổ chức,
doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên; người Việt Nam làm việc trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt
Nam, các tổ chức kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp thuộc các cơ quan hành chính sự
nghiệp, đảng, đoàn thể, lực lượng vũ trang, các đơn vị hành chính sự nghiệp, đảng,
đoàn thể, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội;
- Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt
Nam;
- Quyết định số 606/ TTg ngày 26/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban
hành Qui chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam;
- Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 của Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH đối
với sĩ quan. Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công
an nhân dân;
- Nghị định 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị
định 50/CP ngày 26/07/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ
phường, xã, thị trấn. Cán bộ cấp xã tham gia đóng BHXH và hưởng chế độ hưu trí và
mai táng phí là những cán bộ làm công tác Đảng, chính quyền, trưởng các đoàn thể
- 2 -
đã bổ sung thêm chế độ nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe(Quyết định số
37/2001/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/03/2001).
- Hệ thống BHXH Việt Nam được hình thành 3 cấp từ Trung ương đến địa phương -
Một hệ thống thống nhất chuyên trách tổ chức thực hiện chính sách và quản lý quỹ
BHXH. Từ năm 2002 đã chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam.
2.1.2 Tổ chức bộ máy thực hiện BHXH
BHXH Việt Nam được thành lập theo Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 của
Chính Phủ và ngày 26/09/1995 Chính phủ ra Quyết định số 606/TTg ban hành quy
chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Theo đó, BHXH Việt Nam là cơ
quan sự nghiệp thuộc Chính phủ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ,
chịu sự quản lý nhà nước của Bộ LĐTB&XH về BHXH, của Bộ Y tế về BHYT, của
Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BHXH, BHYT [13]. Bộ máy quản
lý của BHXH Việt Nam cũng được tổ chức theo ba cấp: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
là đơn vị dự toán cấp 1; BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi là BHXH tỉnh), văn phòng BHXH Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu khoa học,
Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ BHXH, Trung tâm thông tin, Đại diện
BHXH Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí BHXH, Báo BHXH là các đơn
vị dự toán cấp 2; BHXH các quận huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là
BHXH huyện) là đơn vị dự toán cấp 3.
Các đơn vị dự toán cấp 1, cấp 2, cấp 3 có tư cách pháp nhân đầy đủ, thực hiện
hạch toán kế toán, báo cáo quyết toán hoạt động tài chính của từng đơn vị đồng thời
thực hiện hạch toán kế toán tập trung tại BHXH Việt Nam.
Từ năm 1998 đến 2002 hệ thống BHYT Việt Nam cũng được tổ chức tương tự hệ
thống BHXH Việt Nam. Thực hiện chủ trương sắp xếp lại hệ thống tổ chức BHXH
Việt Nam Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 20/2002/QĐ-TTG về việc chuyển
BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Ngày 6/12/2002, Chính phủ ban hành nghị
định số 100/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của BHXH Việt Nam. Thực hiện các quy định trong hai văn bản đó, ở nước ta
đã hình thành một hệ thống tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương để thực
- 4 -
người lao động đóng 5% tiền lương hàng tháng. Quỹ này được sử dụng để chi cho
các chế độ BHXH. Quỹ BHXH được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ.
Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của chính phủ; Quyết định
37/2001/QĐ-TTg ngày 21/03/2001 của Thủ tướng chính phủ; Nghị định
01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính Phủ và gần đây nhất là Luật BHXH
71/2006/QH11. Nội dung thu, chi của quỹ theo Luật BHXH được quy định như sau:
2.1.3.1 Nguồn thu vào quỹ BHXH
Thứ nhất, đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động
Thực hiện hình thức thu BHXH bắt buộc đối với tất cả người lao động làm việc theo
hợp đồng lao động từ đủ ba tháng trở lên không kể số lao động (trước 2003 chỉ thu
BHXH ở những đơn vị có từ 10 lao động trở lên).
- Mức đóng của người lao động là 5% cho quỹ hưu trí, tử tuất và từ năm 2010 cứ 2
năm tăng 1% cho đến khi đạt mức 8%.
- Mức đóng và phương thức đóng của người lao động Việt Nam làm việc có thời hạn
ở nước ngoài do Chính phủ quy định.
- Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động: Hằng tháng, người sử
dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động
như sau:
+ 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả
kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện
quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;
+ 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
+ 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm
1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.
- Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội không có phụ cấp khu vực.
- Quy định mức trần đóng, cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu chung.
Thứ hai, hỗ trợ từ NSNN gồm kinh phí để chi trả cho các đối tượng hưởng các chế độ
BHXH trước 01/01/1995 và nguồn hỗ trợ để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH
đối với đối tượng tham gia và hưởng chế độ từ sau 01/01/1995.