BHXH Các huyện, thị xã
BHXH
Tỉnh Tuyên Quang
Các đơn vị
sử dụng
lao động
Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bảo hiểm xã hội Tỉnh Tuyên Quang
Trực thuộc BHXH Việt Nam
(có 8 phòng chức năng và 6 huyện, thị)
Bảo hiểm xã hội
huyện, thị
Thị xã Tuyên Quang
Huyện Na
Hang
Huyện Chiêm
Hóa
Huyện Hàm
Yên
Huyện Yên
Sơn
Huyện Sơn Dương
GIÁM ĐỐC
Phó giám đốcPhó giám đốc
Bộ phận
thu
bắt
buộc
Bộ phận
kho
lao động, hết tuổi lao động hoặc chết. Góp phần ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội, thúc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước và bảo vệ tổ
quốc Xã hội chủ nghĩa. Chính vì thấy rõ được tầm quan trọng của BHXH mà
đảng và nhà nước đã không ngừng đổi mới chính sách từ năm 1995 các chế độ,
chính sách BHXH đã được quy định tại Bộ luật lao động được Quốc hội thông
qua ngày 23 tháng 6 năm1994 và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1/1/1995.
Qua 10 năm tổ chức thực hiện và đi vào hoạt động, hệ thống BHXH Việt
Nam đã từng bước được củng cố, hoàn thiện và không ngừng phát triển đặc biệt
là công tác thu, khai thác thu BHXH và quản lý quỹ BHXH. Đồng thời giải
quyết đầy đủ chế độ chính sách BHXH cho các đối tượng tham gia BHXH theo
luật định đi vào nền nếp, tạo điều kiện thuận lợi cho những người tham gia được
hưởng các chế độ BHXH kịp thời, đầy đủ. Ngày nay đất nước ta đang trong thời
kỳ phát triển mạnh về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì vậy đòi hỏi các
chế độ chính sách BHXH phải được coi trọng hàng đầu để các chủ sử dụng lao
động và người lao động thấy rõ được các quyền lợi trước mắt và lâu dài của
mình, từ đó có nghĩa vụ tham gia đóng góp đầu đủ, kịp thời. Tuy nhiên trong
giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý BHXH hiện nay còn rất nhiều chủ sử dụng
lao động còn thiếu hiểu biết hoặc cố tình nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, bản
chất, quyền lợi và những quy định của luật pháp về chế độ, chính sách BHXH;
cho nên việc tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về các chế độ chính
sách BHXH trong giai đoạn hiện nay cả về mọi mặt, về cả chiều rộng lẫn chiều
sâu là hết sức quan trọng và cần thiết.
Chính vì vậy chính sách BHXH và việc làm cho người lao động là một
nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ đổi mới
năm 2001 đến 2010; nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực trong việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo thêm
nhiều việc làm cho người lao động góp phần làm tăng thu nhập và cải thiện đời
sống nhân dân. Bên cạnh đó hệ thống bảo đảm an sinh xã hội với nòng cốt là
chính sách Bảo hiểm Xã hội đã được nhiều quốc gia coi trọng nhằm đảm bảo về
Đề tài được thực hiện với sự giúp đỡ của: PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà.
Khoa: Khoa học Quản lý.
Chuyên ngành: Quản lý Kinh Tế
Trường: Đại học Kinh tế Quốc dân.
Cùng Ban Giám Đốc và tập thể cán bộ công chức viên chức BHXH huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình đó, đã giúp Em hoàn
thành tốt chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH VÀ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ THU QUỸ BHXH
I- BẢO HIỂM XÃ HỘI
1. Tính tất yếu của Bảo hiểm xã hội:
Đất nước ta ngày nay, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, là định hướng chủ đạo nó tạo thêm nhiều việc làm mới
cho người lao động. Các khu công nghiệp mới tăng nhanh đã làm hoàn thiện cơ
cấu kinh tế vùng, nền kinh tế Quốc dân bằng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ
của mình nhà nước đã định hướng thực hiện được các mục tiêu nhiệm vụ cụ
thể làm động lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của cả nước và từng bước
hoà nhập với nền kinh tế thế giới.
BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta.BHXH mang tính
nhân văn sâu sắc, vì cuộc sống an lành, an sinh xã hội.
BHXH được Nhà nước ta quan tâm rất nhiều ngay từ ngày đầu thành lập
và được cụ thể hóa bằng các sắc lệnh của Chính phủ, các chính sách này đã giúp
cho đội ngũ cán bộ công nhân viên chức, người lao động và người làm việc
trong lực lượng vũ trang như công an, quân đội yên tâm, nhiệt tình trong công
tác góp phần không nhỏ vào việc xây dựng, đấu tranh thống nhất đất nước.
Trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước ngày nay chính sách BHXH càng
được củng cố, hoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa (XHCN). Quỹ BHXH được bảo tồn tăng
góp và theo chế độ quy định.
Xét từ nhà nước và xã hội: xây dựng hệ thống pháp luật về chính sách
BHXH, tổ chức thực hiện tốt các chính sách về BHXH đồng thời cũng có trách
nhiệm tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm để đảm bảo quỹ BHXH tăng trưởng
phát triển thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với người lao động. Việc tham
gia đóng góp và hỗ trợ thêm quỹ BHXH của nhà nước là thể hiện cụ thể vai trò
của Nhà nước trong việc điều tiết kinh tế xã hội và trách nhiệm của Nhà nước
thể hiện trong việc giữ gìn ổn định chính trị xã hội. Sự vận động của các quy
luật trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là quy luật cạnh tranh nhiều trường
hợp một số doanh nghiệp vào rơi vào tình trạng bất ổn về tài chính, thậm trí phá
sản dẫn đến một loạt người lao động bị mất công ăn việc làm, không đảm bảo
được cuộc sống hàng ngày và tạo ra nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh trong xã hội.
Cùng với sự phát triển kinh tế, tiến bộ của xã hội việc quản lý thu BHXH
được coi như là nhu cầu tất yếu của con người nó có thể thấy được xem như là
một trong những quyền cơ bản nhất của con người, được Đại hội đồng liên hợp
quốc thừa nhận và ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10 tháng 12 năm 1948 "
Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội đều có quyền hưởng
BHXH. quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người" (trích từ: Một số vấn đề
cơ bản về bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Hà Nội tháng 4/2001);
2. Chức năng của BHXH.
BHXH có một số chức năng chủ yếu như sau :
+ Chức năng hạn chế bớt một phần khó khăn về kinh tế của người lao
động. Với chức năng này BHXH cho phép tất cả các hoạt động kinh tế xã hội
hoặc các đối tượng đã tham gia trong quá trình kinh tế xã hội trước đây hoặc tất
cả các công dân...hình thành các quyền lợi đảm bảo để duy trì một chuẩn mực
sống tương đối ổn định ngay cả khi trong trường hợp có sự cố bất ngờ rủi ro xảy
ra.
6
+ Chức năng hình thành một hệ thống an sinh, an toàn xã hội. Với chức
giữa những người đang làm việc khoẻ mạnh với những người tuổi cao sức yếu,
già cả, ốm đau đang nghỉ việc. chức năng này của BHXH đã góp phần tạo nên
sự công bằng trong xã hội mang tính nhân văn sâu sắc.
- Góp phần thúc đẩy, kích thích tinh thần lao động, khuyến khích người
lao động hăng hái sản suất nâng cao chất lợng, năng xuất lao động tạo ra nhiều
của cải cho xã hội. Quỹ BHXH thực hiện chức năng này là do họ không may
gặp phải các tai nạn rủi ro, phần thu nhập của họ bị giảm sút hoặc không còn
nhưng sự suy giảm này đã được bù đắp một phần, hay toàn bộ từ quỹ BHXH. Vì
vậy mà đời sống sinh hoạt hàng ngày của người lao động và gia đình họ không
còn bị sáo trộn. Hay nói một cách khác là họ luôn luôn được bảo đảm ổn định
cuộc sống và có chỗ dựa về mặt vât chất, tinh thần. Chính vì vậy họ luôn yên
tâm để sản xuất nâng cao chất lượng, năng xuất lao động và đạt hiệu quả kinh tế
cao.
- Gắn bó lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động giữa
người sử dụng lao động với xã hội. Thông qua BHXH những mâu thuẫn giữa
những người lao động và người sử dụng lao động. Như mâu thuẫn về tiền lương,
tiền thưởng, thời gian lao động … sẽ được hoà giải và giải quyết kịp thời. Đặc
biệt nhờ có BHXH mà cả hai bên này đều thấy được quyền lợi của mình được
quan tâm bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó chặt chẽ lợi ích với
nhau. Đối với Nhà nước và xã hội thì chi hỗ trợ cho BHXH là khoản chi rất nhỏ
nhưng lại đem lại hiệu quả đạt được rất cao đảm bảo ổn định đời sống của
người lao động và gia đình họ, góp phần ổn định sản xuất và phát triển kinh tế
xã hội.
3. Tính chất của bảo hiểm xã hội.
8
BHXH ra đời gắn liền với đời sống của người lao động do vậy BHXH có
một số tính chất cơ bản sau:
- BHXH mang tính tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế xã hội.
- BHXH mang tính ngẫu nhiên phát sinh không đồng đều theo thời gian
và không gian. Những rủi ro không may đem lại trong BHXH đã hình thành nên
+ Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập chung giữ vị trí trong khâu tài chính
nằm giao thoa giữa ngân sách Nhà nước với các Tổ chức tài chính doanh nghiệp,
tài chính Nhà nước, tài chính dân cư.
+ Việc phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính
chất không hoàn trả. Tính chất không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối
với những người lao động đã tham gia BHXH trong suốt quá trình lao động
nhưng không bị ốm đau, sinh con, tai nạn lao động.
+ Sự ra đời tồn tại và phát triển ngày càng lớn mạnh của quỹ BHXH gắn
liền với chức năng vốn có của Nhà nước là vì nó đảm bảo quyền lợi cho người
lao động chứ không vì mục đích lợi nhuận, kiếm lời. Đồng thời quỹ BHXH cũng
phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế xã hội và điều kiện lịch sử trong
từng thời kỳ của mỗi một quốc gia. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển lớn
mạnh thì càng có nhiều các chế độ BHXH được thực hiện hơn và các chế độ
cũng sẽ được áp dụng rộng rãi hơn, thoả mãn nhu cầu về BHXH của người lao
động ngày càng được nâng cao.
Mặt khác khi nền kinh tế phát triển mạnh thì mức thu nhập của người lao
động càng cao, họ sẽ tham gia vào nhiều chế độ BHXH.
+ Ngoài ra quỹ BHXH mang tính chất tiêu dùng được thể hiện thông qua
các mục tiêu, mục đích của nó là chi trả đầy đủ các chế độ BHXH. Ngoài ra quỹ
BHXH lại mang tính chất dự trữ và thông thường khi người lao động tham gia
10
đóng góp vào quỹ BHXH thì họ không được quỹ BHXH này chi trả ngay khi
gặp tai nạn rủi ro mà phải có thời gian dự bị đủ thủ tục mới thanh toán.
+ Hoạt động của quỹ BHXH đã đặt ra yêu cầu tất yếu sẽ hình thành chế
độ tiết kiệm bắt buộc của xã hội và của người lao động để dành khi ốm đau, tai
nạn, hưu trí, Đây cũng là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân người lao
động và cộng đồng xã hội.
3.2, Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn cơ bản sau:
- Sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động.
+ f
3
Trong đó: f
1
: là phí thuần BHXH
f
2
: là phí quản lý
f
3
: là phí dự trữ
Phí thuần của BHXH là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của phí
BHXH, phí thuần được xác định để bảo đảm chi trả đầy đủ cho tất cả các chế độ
BHXH. Chính vì vậy việc xác định mức phí BHXH là rất khó, phức tạp nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Cơ cấu lao động theo các độ tuổi, kết cấu
giới tính trong lực lượng lao động, đặc điểm cấu tạo sinh học của con người
trong một nước, tuổi thọ bình quân của người dân, điều kiện làm việc chung của
người lao động…
Ngoài sự tham gia đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động
và Nhà nước. Quỹ BHXH còn được hình thành từ các nguồn khác như: tiền sử
phạt đối với các đơn vị vi phạm theo điều lệ BHXH, các khoản hỗ trợ, viện trợ
của các tổ chức trong và ngoài nước, các khoản lãi từ hoạt động đầu tư tài chính
từ phần quỹ BHXH nhàn rỗi…
3.3, Mục đích sử dụng quỹ BHXH .
Như ta đã biết phí BHXH bao gồm 3 bộ phận đó là: phí thuần, phí dự trữ,
phí quản lý, như vậy rõ ràng ta thấy quỹ BHXH được sử dụng cho 3 mục đích
đó là: chi trả cho các chế độ trợ cấp BHXH, chi cho việc quản lý hệ thống
12
BHXH, chi trích lập quỹ dự phòng, dự trữ giải quyết trong trường hợp gặp
những tổn thất lớn.
hơn so với quỹ BHXH.
- Hoạt động của cả NSNN và quỹ BHXH đều không phải là nhằm mục
đích kinh doanh kiếm lời, mà hoạt động của chúng đều mang đậm nét tính chất
xã hội, tính cộng đồng dân tộc và trong nhiều trường hợp hoạt động của hai quỹ
này còn mang tính nhân văn sâu sắc.
+ Sự khác nhau giữa quỹ BHXH và NSNN:
- Về điều kiện ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ NSNN, gắn liền với sự
ra đời tồn tại và phát triển của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các chức năng kinh
tế xã hội của Nhà nước. Còn sự ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, gắn
liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các quan
hệ thuê mướn nhân công. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thu nhập
của người lao động ngày càng cao thì phạm vi các chế độ BHXH ngày càng mở
rộng, mức độ thoả mãn về nhu cầu của người lao động khi tham gia BHXH
càng nhiều.
- Tính chất pháp lý của NSNN cao hơn so với quỹ BHXH, quá trình phân
phối của NSNN chủ yếu dựa vào quyền lực chính trị, kinh tế của Nhà nước. Nhà
nước ban hành các văn bản luật để thực hiện việc thu, chi quỹ NSNN. Quá trình
này được sự kiểm tra, giám sát và quản lý chặt chẽ của Quốc hội. Còn đối với
quỹ BHXH thì hoạt động thu, chi quỹ BHXH cũng được thực hiện dựa vào các
văn bản quy định pháp luật, nhưng chủ yếu dựa vào mối quan hệ kinh tế, quan
hệ về lợi ích của những người lao động tham gia theo nguyên tắc có đóng góp
mới được hưởng và ngược lại người lao động không tham gia đóng góp thì sẽ
không được hưởng quyền lợi.
14
- Trong quan hệ phân phối thì NSNN chủ yếu là phân phối lại và không
mang tính chất hoàn trả. Chủ thể tham gia đóng góp và hưởng thụ từ NSNN
thông thường là tách rời nhau, còn quan hệ phân phối quỹ BHXH thì mang tính
chất hoàn trả. Việc hoàn trả lại cho người tham gia đóng góp là không thể biết
trước được chính xác về quy mô, về thời gian và không gian.
- Trong quan hệ phân phối của NSNN thường phản ánh đến quan hệ lợi
Người sử dụng lao động và người lao động khi tham gia Bảo hiểm xã hội
bắt buộc đóng. Nguời sử dụng lao động và người lao động tham gia bảo hiểm Y
tế bắt buộc, tự nguyện đóng và đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo
hiểm gồm Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước nhằm mục đích
chi trả đầy đủ các chế độ BHXH và bảo đảm các hoạt động của hệ thống BHXH.
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập tập chung nằm ngoài Ngân sách
nhà nước.
2- Nội dung quản lý thu BHXH.
2.1, theo quy trình quản lý thu:
Bảo hiểm xã hội huyện Sơn Dương là một đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã
hội tỉnh Tuyên Quang, do đó phải thực hiện tốt các nhiệm vụ, các chỉ tiêu kế
hoạch thu BHXH hàng năm do BHXH tỉnh Tuyên Quang giao cho đến các đơn
vị sử dụng lao động trên địa bàn mình quản lý cụ thể:
Hàng năm BHXH huyện căn cứ vào danh sách lao động, quỹ tiền lương
trích nộp BHXH tháng 9 của các đơn vị sử dụng lao động do BHXH huyện trực
tiếp quản lý thu BHXH. Thực hiện kiểm tra, đối chiếu tổng hợp và lập kế hoạch
thu BHXH trên địa bàn cho năm sau (theo mẫu số 4 - KHT), đồng thời gửi về
BHXH Tỉnh Tuyên Quang trước ngày 20/10.
Lập kế hoạch thu BHXH đến các đơn vị sử dụng lao động hàng quý;
16
Tổ chức thực hiện tốt các chỉ tiêu kế hoạch thu BHXH trong năm do
BHXH tỉnh Tuyên Quang giao.
Hướng dẫn đơn vị lập danh sách lao động, quỹ tiền lương đóng BHXH từ
đầu năm và danh sách chỉnh tăng giảm mức lương đóng BHXH hàng tháng;
Kiểm tra đối chiếu danh sách, điều chỉnh tăng giảm hàng tháng, có biên
bản đối chiếu kết quả tham gia đóng BHXH của các đơn vị sử dụng lao động;
Vào sổ sách theo dõi chi tiết kết quả thu nộp BHXH đến từng người lao
động ở từng cơ quan, đơn vị sử dụng lao động phát sinh hàng tháng;
Thông báo kịp thời cho các đơn vị sử dụng lao động còn nợ đọng tiền
BHXH.
- Khối Doanh nghiệp nhà nước;
- Khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh;
- Khối cán bộ xã, thị trấn;
- Khối sự nghiệp giáo dục;
- khối ytế;
3- Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH:
3.1, Công tác thu BHXH ở khối cơ quan hành chính sự nghiệp:
Khối các cơ quan hành chính sự nghiệp có nhiều thuận lợi do đặc thù là
100% người lao động đều hưởng lương từ ngân sách nhà nước cấp; hơn nữa cán
bộ được giao nhiệm vụ làm công tác thu BHXH đều có trình độ chuyên môn tốt,
có nghiệp vụ kế toán. Việc lập danh sách, đăng ký lao động và quỹ tiền lương
tham gia BHXH, đến việc lập danh sách tăng, giảm lao động, hàng tháng luôn
đầy đủ, chính xác, đúng văn bản quy định của nhà nước. Song bên cạnh đó đơn
vị còn trích nộp tiền BHXH không kịp thời theo tháng mà thường dồn vào cuối
mỗi quý.
3.2, Công tác thu BHXH ở khối Doanh nghiệp nhà nước:
Công tác thu BHXH ở khối Doanh nghiệp nhà nước tương đối phức tạp vì
còn phụ thuộc vào các đơn vị làm ăn có hiệu quả hay không. Chính vì vậy mà
BHXH huyện Sơn Dương cần phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp để tuyên
truyền các chế độ chính sách BHXH, đối chiếu tăng, giảm kịp thời cho đối
tượng tham gia, đối chiếu với quỹ tiền lương, hướng dẫn các đơn vị sử dụng lao
động trích nộp BHXH đúng quy định;
3.3, Khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh :
Công tác thu ở khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn gặp rất nhiều
khó khăn bởi còn phụ thuộc vào các đơn vị làm ăn có hiệu quả hay không, ngoài
ra các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều trốn tránh không đăng ký thực thiện
đầy đủ nghĩa vụ BHXH cho người lao động theo quy định tại điều 149 của bộ
luật lao động.
+ Về phía chủ doanh nghiệp: chủ sử dụng lao động ở các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh nhận thức chưa đầy đủ về nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm
vụ chuyên môn và trích nộp BHXH nhiều lúc còn chậm thường dồn vào cuối
quý.
3.6, Về Công tác thu ở khối Y tế :
Các trạm y tế xã đã thực hiện tốt việc trích nộp bảo hiểm cho người lao
động do tỉnh Tuyên Quang đã chuyển tiền khối ytế về nguồn ngân sách của xã,
ủy ban nhân dân các xã có trách nhiệm cân đối thu, chi cho các trạm. Kế toán xã
duyệt chi và cấp chuyển mọi khoản kinh phí thay cho trạm ytế.
Tuy nhiên cũng có những bất cập khó khăn là sau khi trạm đề nghị thanh
toán, phải lập dự toán nộp cho ủy ban nhân dân xã và đề nghị duyệt chi do vậy,
cũng làm chậm việc trích nộp BHXH.
Chương II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU VÀ QUẢN LÝ THU
QUỸ BHXH CỦA BHXH HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH
TUYÊN QUANG TRONG THỜI GIAN QUA
I- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HUYỆN SƠN DƯƠNG VÀ BHXH HUYỆN SƠN
DƯƠNG
1- Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Sơn Dương ảnh hưởng
đến thu BHXH:
Sơn Dương là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Tuyên Quang, có diện
tích tự nhiên 789,26 km2; trong đó đất nông nghiệp có 195,77 km2 chiếm
24,8% đất lâm nghiệp có 396,81km2 chiếm 50,27%; còn lại 24,93% là các loại
đất khác; với số dân là: 165.188 người, bao gồm 10 dân tộc anh em: Kinh, Tày,
Cao lan, Dao, Sán chín, Sán dìu, Nùng, Mông, Hoa, Mường sống đoàn kết gắn
bó trong 33 xã, thị trấn với 424 thôn bản.
Sơn Dương có địa bàn tiếp giáp với các huyện và các tỉnh như sau:
Phía bắc giáp huyện Yên Sơn, phía nam và phía tây giáp với ba huyện Đoan
Hùng, Phong Châu (tỉnh Phú Thọ), Lập thạch (tỉnh Vĩnh Phúc), phía đông giáp
hai huyện Đại Từ, Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên).
Địa hình huyện Sơn Dương khá phức tạp, rừng núi chiếm tới ba phần tư
diện tích toàn huyện và chi phối điều kiện tự nhiên bởi bốn dãy núi lớn hiểm trở
Bảo hiểm xã hội huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang được thành lập
dựa trên cơ sở được hợp nhất công tác BHXH cuả Sở lao động Thương binh xã
hội và Liên đoàn lao động tỉnh Tuyên Quang, cũng từ đó BHXH các huyện, thị
xã trực thuộc được thành lập.
Bảo hiểm xã hội huyện Sơn Dương là một trong những đơn vị BHXH trực
thuộc BHXH tỉnh Tuyên Quang, nằm trong hệ thống Bảo hiểm Việt Nam và
chịu sự quản lý theo ngành dọc của BHXH tỉnh Tuyên Quang theo quy định của
pháp luật.
BHXH huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nằm trong Bảo hiểm xã hội
Việt Nam như sau:
24
Như vậy, BHXH huyện Sơn Dương cũng thư BHXH các huyện khác đều
là những đơn vị trực thuộc nhỏ nhất của BHXH Việt Nam, hoạt động dưới sự chỉ
đạo trực tiếp từ BHXH Việt Nam.
Bảo hiểm xã hội huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang chính thức được
thành lập theo quyết định số 94 ngày 4/8/1995 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và
đi vào hoạt động kể từ tháng 8/1995, BHXH huyện được đặt trụ sở làm việc tại
trung tâm thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Do vậy
hoạt động của BHXH huyện Sơn Dương có nhiều thuận tiện cơ bản.
* Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
a, Chức năng nhiệm vụ:
BHXH huyện Sơn Dương, là một đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh Tuyên
Quang, do vậy phải thực hiện tốt các nhiệm vụ, các chỉ tiêu kế hoạch do BHXH
tỉnh giao cho cụ thể như sau:
+ Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn
huyện Sơn Dương, lập danh sách lao động quỹ tiền lương thuộc diện áp dụng
loại hình bắt buộc để thực hiện việc tham gia đóng BHXH theo luật định.
+ Theo dõi, đôn đốc các cơ quan đơn vị tham gia BHXH trích nộp đủ tiền