Hoàn thiện quản lý thu qĩu BHXH
trên địa bàn huyện Sơn Dương - Tỉnh
Tuyên Quang
1
Mục lục
Lời nói đầu………………………………………………………………… …1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU
QUỸ BHXH………… … ………… 4
I- BẢO HIỂM XÃ HỘI… ……… …………………… ……4
1- Tính tất yếu của Bảo hiểm xã hội 4
2- Chức năng của BHXH 6
3- Tính chất của BHXH 8
3.1- Đặc điểm của quỹ BHXH 10
3.2- Nguồn hình thành quỹ BHXH 11
3.3- Mục đích sử dụng quỹ BHXH 12
3.4- So sánh quỹ BHXH và ngân sách nhà nước 13
II/ Quản lý thu quỹ BHXH ………………… ……………………… ……15
1- Khái niệm 15
2- Nội dung quản lý thu BHXH 16
2.1- Theo quy trình quản lý thu 16
2.2- Theo các khối thu 18
3- Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH 19
Chương II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU VÀ QUẢN LÝ QUỸ BHXH
Ở BHXH HUYỆN SƠN DƯƠNG, TUYÊN QUANG TRONG THỜI GIAN
QUA … … 22
I/ Giới thiệu chung về huyện Sơn Dương và BHXH huyện Sơn Dương …22
1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Sơn Dương ảnh hưởng đến
thu BHXH 22
2. Giới thiệu về BHXH huyện Sơn Dương 23
* Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của BHXH huyện Sơn
Dương 25
Bảng kê các chữ viết tắt
BHXH……………… Bảo hiểm xã hội
NSNN………………. Ngân sách Nhà nước
NSDLĐ………………Người sử dụng lao động
NLĐ………………….Người lao động
BNN…………………Bệnh nghề nghiệp
TNLĐ……………… Tai nạn lao động
BHXHVN……………Bảo hiểm xã hội Việt Nam
HTX………………….Hợp tác xã
ILO………………… Tổ chức lao động quốc tế
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
4
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Đã được đảng và nhà nước ta quan tâm rất nhiều, ngay từ khí thành lập nước
đến nay, bởi vì BHXH đã góp phần rất lớn trong việc đảm bảo vật chất, góp
phần ổn định đời sống cho cán bộ, công chức, quân nhân và người lao
động thanh gia BHXH và gia đình khi bị ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng
lao động, hết tuổi lao động hoặc chết. Góp phần ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội, thúc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước và bảo vệ tổ
quốc Xã hội chủ nghĩa. Chính vì thấy rõ được tầm quan trọng của BHXH mà
đảng và nhà nước đã không ngừng đổi mới chính sách từ năm 1995 các chế độ,
chính sách BHXH đã được quy định tại Bộ luật lao động được Quốc hội thông
qua ngày 23 tháng 6 năm1994 và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1/1/1995.
Qua 10 năm tổ chức thực hiện và đi vào hoạt động, hệ thống BHXH Việt
Nam đã từng bước được củng cố, hoàn thiện và không ngừng phát triển đặc biệt
là công tác thu, khai thác thu BHXH và quản lý quỹ BHXH. Đồng thời giải
quyết đầy đủ chế độ chính sách BHXH cho các đối tượng tham gia BHXH theo
luật định đi vào nền nếp, tạo điều kiện thuận lợi cho những người tham gia được
thể vẫn còn tồn tại tình trạng trốn tránh không nộp BHXH cho người lao động.
Điều này đã làm cho hiệu quả hoạt động của quỹ BHXH đạt chưa cao, do vậy
để không ngừng mở rộng đối tượng thu BHXH trên nhiều mặt khác nhau thì
phải cải cách tốt thủ tục hành chính trong việc giải quyết các chế độ chính sách
BHXH; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ,
công chức viên chức BHXH huyện Sơn Dương trong thực hiện nhiệm vụ thuận
tiện, đầy đủ và kịp thời. Chính vì vậy mà trong quá trình thực tập để làm đề tài
tốt nghiệp em đã chọn đề tài :
6
" Hoàn thiện quản lý thu quỹ BHXH trên địa bàn huyện Sơn Dương - tỉnh
Tuyên Quang".
Đề tài gồm có 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luận về BHXH và công tác quản lý thu quỹ
Bảo hiểm xã hội.
Chương II : Thực trạng công tác thu và quản lý thu quỹ BHXH ở
BHXH huyện Sơn Dương, Tuyên Quang thời gian qua.
Chương III : Các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu quỹ BHXH
huyện Sơn Dương.
Đề tài được thực hiện với sự giúp đỡ của: PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà.
Khoa: Khoa học Quản lý.
Chuyên ngành: Quản lý Kinh Tế
Trường: Đại học Kinh tế Quốc dân.
Cùng Ban Giám Đốc và tập thể cán bộ công chức viên chức BHXH huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình đó, đã giúp Em hoàn
thành tốt chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
7
Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH VÀ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ THU QUỸ BHXH
chức. Như vậy có thể thấy sự xuất hiện của BHXH là một nhu cầu tất yếu khách
quan của cuộc sống. việc quản lý quỹ BHXH là việc làm rất cần thiết bởi vì
BHXH là chi phí giúp đỡ về mặt tài chính cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan
trọng cho người lao động.
Xét từ các doanh nghiệp: các Doanh nghiệp phải thực hiện đóng góp đầy
đủ, thường xuyên vào quỹ BHXH theo mức quy định chung của nhà nước và
pháp luật. Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần hiện nay mối quan hệ
cơ bản giữa các chủ Doanh nghiệp và người lao động là mối quan hệ chặt chẽ,
gắn bó ràng buộc nhau bởi các quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên. Các
doanh nghiệp vừa phải tạo điều kiện làm việc tốt cho người lao động vừa phải
trả tiền lương, tiền công cho họ vừa phải có trách nhiệm bảo vệ, giúp đỡ khi họ
không may gặp phải những rủi ro trong quá trình lao động, trong cuộc sống.
Chính từ các chi phí phát sinh này đã làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính của
các doanh nghiệp, đặc biệt là những khi dịch bệnh, rủi ro mang tính thảm hoạ
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp
khi phải trang trải cho các chi phí đó. Đối với chủ sử dụng lao động cũng phải
tham gia đóng góp đầy đủ và thường xuyên vào quỹ BHXH theo mức quy định
chung của nhà nước của pháp luật. Sau đó người sử dụng lao động có quyền
yêu cầu về quyền lợi hưởng các chế độ trợ cấp về BHXH căn cứ vào sự đóng
góp và theo chế độ quy định.
Xét từ nhà nước và xã hội: xây dựng hệ thống pháp luật về chính sách
BHXH, tổ chức thực hiện tốt các chính sách về BHXH đồng thời cũng có trách
9
nhiệm tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm để đảm bảo quỹ BHXH tăng trưởng
phát triển thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với người lao động. Việc tham
gia đóng góp và hỗ trợ thêm quỹ BHXH của nhà nước là thể hiện cụ thể vai trò
của Nhà nước trong việc điều tiết kinh tế xã hội và trách nhiệm của Nhà nước
thể hiện trong việc giữ gìn ổn định chính trị xã hội. Sự vận động của các quy
luật trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là quy luật cạnh tranh nhiều trường
hợp một số doanh nghiệp vào rơi vào tình trạng bất ổn về tài chính, thậm trí phá
trong những hoạt động mà tất cả các quốc gia đều quan tâm không phân biệt thể
chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Bảo hiểm xã hội đã đóng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm an sinh xã
hội, ổn định và phát triển kinh tế, được thể hiện thông qua các tác động chủ yếu
cụ thể sau:
-Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm thu nhập
hoặc bị mất thu nhập do bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động bị
mất việc làm. Đây là sự đảm bảo chắc chắn sẽ xảy ra vì mọi người sẽ mất khả
năng lao động khi họ hết tuổi lao động, theo các điều kiện quy định của BHXH.
Đây là chức năng cơ bản của BHXH nó quyết định tính chất, nhiệm vụ và cơ
chế hoạt động của hệ thống BHXH.
-Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham
gia đóng góp quỹ BHXH. Tham gia BHXH có người sử dụng lao động, người
lao động và nhà nước hỗ trợ đóng góp hình thành xây dựng lên quỹ BHXH .
Quỹ BHXH này được sử dụng để chi trả trợ cấp BHXH cho những người tham
gia BHXH không may gặp tai nạn, rủi ro. Thực tế chỉ ra rằng số tiền trợ cấp
được hưởng thường nhỏ hơn rất nhiều so với số số tiền mình tham gia, do áp
dụng theo quy luật số đông bù ít, quỹ BHXH đã thực hiện phân phối lại thu
nhập theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Sự phân phối này thể hiện phân phối
thu nhập giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp,
11
giữa những người đang làm việc khoẻ mạnh với những người tuổi cao sức yếu,
già cả, ốm đau đang nghỉ việc. chức năng này của BHXH đã góp phần tạo nên
sự công bằng trong xã hội mang tính nhân văn sâu sắc.
- Góp phần thúc đẩy, kích thích tinh thần lao động, khuyến khích người
lao động hăng hái sản suất nâng cao chất lợng, năng xuất lao động tạo ra nhiều
của cải cho xã hội. Quỹ BHXH thực hiện chức năng này là do họ không may
gặp phải các tai nạn rủi ro, phần thu nhập của họ bị giảm sút hoặc không còn
nhưng sự suy giảm này đã được bù đắp một phần, hay toàn bộ từ quỹ BHXH. Vì
vậy mà đời sống sinh hoạt hàng ngày của người lao động và gia đình họ không
bên liên quan. Mức tham gia đóng góp của các bên được xác định rất cụ thể dựa
trên nguyên tắc hoạt động cơ bản của Bảo hiểm xã hội tr ên cơ sở lấy số đông bù
cho số ít vì thực chất mức tham gia đóng góp của từng nguời lao động là không
đáng kể so với mức họ được thụ hưởng quyền lợi. Xét về góc độ kinh tế thì
người sử dụng lao động, được lợi rất nhiều khi quan hệ BHXH, khi tham gia
BHXH người sử dụng lao động sẽ không phải chi trả các khoản chi phí cho
người lao động bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động. Xét về phía
Nhà nước thì việc tạo lập, hoạt động của quỹ BHXH đã góp phần giảm nhẹ gánh
nặng cho Ngân sách nhà nước (NSNN). Đồng thời nó còn góp phần đầu tư phát
triển cho nền kinh tế. Do vậy cơ chế tạo lập và sử dụng, hoạt động của quỹ
BHXH đã đem lại rất nhiều quyền lợi, lợi ích cho nguời lao động, người sử dụng
lao động và Nhà nước.
BHXH là một bộ phận quan trọng chủ yếu trong hệ thống đảm bảo an
toàn xã hội, vì tính chất xã hội của BHXH được thể hiện rất rõ nét về tính chất
lâu dài mọi nguời lao động trong xã hội đều có quyền tham gia đóng góp vào
quỹ BHXH. Ngược lại BHXH phải có trách nhiệm Bảo hiểm đảm bảo quyền lợi
cho mọi người lao động và gia đình họ kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao
13
động. Tính chất xã hội của BHXH luôn gắn chặt chẽ với tính dịch vụ của nó, khi
nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển mạnh thì tính chất dịch vụ, tính chất xã
hội hoá của hệ thống BHXH ngày càng được nâng cao.
3.1, Đặc điểm của quỹ BHXH:
+ Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập chung giữ vị trí trong khâu tài chính
nằm giao thoa giữa ngân sách Nhà nước với các Tổ chức tài chính doanh nghiệp,
tài chính Nhà nước, tài chính dân cư.
+ Việc phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính
chất không hoàn trả. Tính chất không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối
với những người lao động đã tham gia BHXH trong suốt quá trình lao động
nhưng không bị ốm đau, sinh con, tai nạn lao động.
+ Sự ra đời tồn tại và phát triển ngày càng lớn mạnh của quỹ BHXH gắn
Phần lớn đối với các nước trên thế giới hiện nay thì quỹ BHXH đều được
tạo lập hình thành từ các nguồn trên. Tuy nhiên do từng điều kiện hoàn cảnh
lịch sử của mỗi quốc gia mà tỉ lệ tham gia đóng góp giữa các bên, mức độ tham
gia đóng góp của từng bên, mức độ can thiệp của Nhà nước, hay hình thức tham
gia đóng góp sẽ khác nhau.
Phương thức đóng góp vào quỹ BHXH của người sử dụng lao động và
người lao động hiện nay còn có hai quan điểm đó là:
+Việc xác định mức đóng góp phải căn cứ vào mức lương của từng cá
nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.
+ Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối
chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định nên mức đóng góp.
Việc chọn lựa quan điểm nào là tuỳ thuộc ở mỗi quốc gia nhưng phải bảo
đảm rằng mức tham gia đóng góp của mỗi bên phải đủ để cân đối việc thu, chi
của quỹ BHXH. Trong thực tế việc xác định mức tham gia đóng góp của các bên
( thực chất là xác định mức phí BHXH) được tính toán một cách khoa học cho
15
việc xác định mức phí. BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu và người ta thường
dùng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. Phí BHXH được xác
định theo công thức:
P = f
1
+ f
2
+ f
3
Trong đó: f
1
: là phí thuần BHXH
f
2
nhân của người lao động, người đang nghỉ hưu khi họ không may qua đời .
Nguồn chi thứ hai trong quỹ BHXH đó là chi phí dự trữ, thực chất đây là
quá trình tích luỹ lâu dài trong qúa trình sử dụng quỹ BHXH. định kỳ hàng
tháng, quý, năm cơ quan BHXH giữi hay trích lại một phần quỹ BHXH của
mình để thành lập nên quỹ dự phòng, dự trữ BHXH. Quỹ này chỉ được sử dụng
trong những trường hợp khi nhu cầu chi trả quá lớn dẫn đến thâm hụt quỹ
BHXH như trong lúc đồng tiền mất giá và do hội đồng quản lý quyết định.
3.4, So sánh quỹ BHXH và ngân sách Nhà nước.
Nguồn Ngân sách nhà nước là tổng thể các mối quan hệ kinh tế xã hội
phát sinh, trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực, chính trị của mình để tập
trung lại một phần thu nhập của quốc gia, nhằm tạo lập lên một quỹ tiền tệ
chung của Nhà nước và dùng cho việc thực hiện các chức năng phát triển kinh tế
xã hội theo mục tiêu kế hoạch của Nhà nước.
Qua khái niệm trên về quỹ NSNN chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm
giống nhau và khác nhau giữa quỹ BHXH và nguồn NSNN, từ đó ta sẽ hiểu rõ
hơn, được đầy đủ hơn về quỹ BHXH cụ thể:
+ Sự giống nhau giữa quỹ BHXH và NSNN:
- Việc tạo lập và sử dụng của mỗi nguồn quỹ đều được biểu hiện dưới
hình thái tiền tệ, quá trình này đều được thực thi theo các văn bản quy định của
pháp luật và việc quản lý, sử dụng quỹ được tiến hành theo nguyên tắc cơ bản
cân bằng giữa thu, chi.
- NSNN và Quỹ BHXH là những khâu tài chính quan trọng, độc lập trong
hệ thống tài chính mỗi quốc gia, chức năng nhiệm vụ của NSNN mang tính rộng
hơn so với quỹ BHXH.
17
- Hoạt động của cả NSNN và quỹ BHXH đều không phải là nhằm mục
đích kinh doanh kiếm lời, mà hoạt động của chúng đều mang đậm nét tính chất
xã hội, tính cộng đồng dân tộc và trong nhiều trường hợp hoạt động của hai quỹ
này còn mang tính nhân văn sâu sắc.
+ Sự khác nhau giữa quỹ BHXH và NSNN:
1. Khái niệm :
+ Quỹ BHXH là : Một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ các bên
tham gia BHXH, ở nước ta hiện nay thì quỹ được hình thành từ:
- Người sử dụng lao động tham gia đóng bằng 15 % quỹ tiền lương.
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng.
Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để góp phần bảo đảm thực hiện đầy đủ các
chế độ BHXH đối với người lao động ngoài ra quỹ BHXH còn hình thành từ
khoản lãi do đầu tư tăng trưởng và các khoản thu khác.
Quỹ BHXH được hình thành do ba bên đóng góp đó là (nguời lao động,
người sử dụng lao động và nhà nước) chính vì vậy quỹ BHXH là của ba bên
nhưng hiểu rộng ra đó là Nhà nước là của dân. Người lao động, người sử dụng
lao động cũng là người dân, do vậy thực chất quỹ BHXH là quỹ xã hội của Nhà
nước. Quỹ BHXH không phải của bất kỳ một tổ chức nào, một ngành nào, quỹ
cũng không thuộc Ngân sách nhà nước. Về nguyên tắc cơ bản quỹ của ai thì
người đó có quyền quản lý, chính vì thế mà quỹ BHXH là quỹ chung, được điều
hành thông qua một hội đồng quản lý, hội đồng đó có đầy đủ đại diện của ba
bên.
Mô hình quỹ BHXH do hội đồng quản lý có đại diện của các bên tham gia
là mô hình phổ biến được áp dụng ở tất cả các nước trên thế giới .
Ở nước ta hiện nay các thành viên trong hội đồng quản lý quỹ BHXH bao
gồm: Đại diện có thẩm quyền của Bộ Tài chính, Bộ lao động Thương binh và xã
19
hội, Tổng giám đốc BHXH Việt Nam. Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam có
nhiệm vụ chỉ đạo và giám sát, chỉ đạo để thực hiện thu, chi quản lý quỹ của
BHXH Việt Nam.
Người sử dụng lao động và người lao động khi tham gia Bảo hiểm xã hội
bắt buộc đóng. Nguời sử dụng lao động và người lao động tham gia bảo hiểm Y
tế bắt buộc, tự nguyện đóng và đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo
hiểm gồm Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước nhằm mục đích
chi trả đầy đủ các chế độ BHXH và bảo đảm các hoạt động của hệ thống BHXH.
+ Báo cáo nhanh 10 ngày/lần;
+ Báo cáo tháng vào ngày 02 tháng sau;
+ Báo cáo quý vào ngày 10 tháng đầu quý sau;
+ Báo cáo năm vào ngày 20 tháng đầu năm sau;
+ Kiểm tra danh sách chứng từ thu tổng hợp số liệu thu BHXH của các
đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn huyện quản lý lập báo cáo quyết toán thu
BHXH hàng quý gửi BHXH tỉnh Tuyên Quang
+ Hàng quý, năm BHXH tỉnh Tuyên Quang tổ chức kiểm tra thẩm định số
liệu thu BHXH trong kỳ của BHXH huyện Sơn Dương. Việc tổ chức kiểm tra
thẩm định số liệu thu được thực hiện sau kỳ báo cáo, biên bản kiểm tra số liệu
thu BHXH sau khi được thẩm định là tài liệu gốc kèm theo hồ sơ quyết toán tài
chính quý, năm của BHXH các cấp.
21
Chú thích:
: Lập và giao chỉ tiêu kế hoạch thu BHXH hàng năm.
: Lập kế hoạch, báo cáo số thu BHXH định kỳ.
: Hướng dẫn, theo dõi các đơn vị thực hiện tham gia đóng BHXH,
chuyển tiền thu BHXH vào tài khoản của BHXH kịp thời, giải quyết đầy đủ
quyền lợi cho đơn vị, người lao động.
: Kiểm tra các đơn vị sử dụng lao động tham gia đóng BHXH theo
quy định của pháp luật.
2.2, Theo các khối thu BHXH:
Công tác thu BHXH tại BHXH huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang chủ
yếu ở các khối như sau:
- Khối các cơ quan hành chính sự nghiệp;
- Khối Doanh nghiệp nhà nước;
- Khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh;
- Khối cán bộ xã, thị trấn;
- Khối sự nghiệp giáo dục;
- khối ytế;
ra các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều trốn tránh không đăng ký thực thiện
đầy đủ nghĩa vụ BHXH cho người lao động theo quy định tại điều 149 của bộ
luật lao động.
+ Về phía chủ doanh nghiệp: chủ sử dụng lao động ở các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh nhận thức chưa đầy đủ về nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm
trong việc thực hiện đóng BHXH cho người lao động; Còn cố tình né tránh việc
thực hiện chế độ BHXH cho người lao động. Khi sử dụng người lao động các
doanh nghiệp không có hợp đồng lao động cụ thể, luôn lợi dụng kẽ hở của pháp
23
luật, như không hợp đồng với người lao động, hợp đồng miệng, hợp đồng theo
công trình, hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng, hợp đồng theo mùa vụ …
Do đó BHXH huyện Sơn Dương không có cơ sở để xác định hợp đồng lao
đồng lao động, để khai thác các đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.
Bên cạnh đó đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều chưa có tổ chức
công đoàn. Do vậy chưa có người đại diện hợp pháp để bảo vệ quyền lợi và lợi
ích chính đáng của người lao động .
Chính vì thế mà công tác thu BHXH ở khối Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh còn rất nhiều hạn chế, số thu BHXH không đạt theo quy định.
3.4, Công tác thu BHXH Khối cán bộ xã , thị trấn :
Công tác thu BHXH còn rất nhiều hạn chế trong việc trích nộp tiền
BHXH cho cán bộ xã còn chậm, có xã còn nộp thiếu tiền BHXH, lý do thường
các xã nộp BHXH dồn vào cuối năm. Trình độ của các bộ của kế toán ngân sách
còn nhiều hạn chế bất cập, nên công tác thu gặp rất nhiều khó khăn trong việc
đối chiếu tăng, giảm số lao động. Việc báo cáo số người tăng, giảm không kịp
thời lập danh sách trích nộp tiền BHXH không chính xác, do vậy phải làm đi,
làm lại nhiều lần.
3.5, Công tác thu BHXH ở khối giáo dục.
Đây là khối có số lao động tham ra BHXH so với các khối khác là rất lớn,
Các trường đã tích cực phối hợp với Bảo hiểm xã hội huyện lập bảng danh sách
tăng, giảm trích nộp BHXH theo quy định hàng tháng đối chiếu tăng, giảm để